Chương 1 CUỘC CHIẾN TRANH HÓA HỌC DO HOA KỲ GÂY RA Ở VIỆT NAM (1961-1971) 1. BỐI CẢNH LỊCH SỬ Từ lâu Hoa Kỳ đã có âm mưu xâm lược Việt Nam muốn biến miền Nam Việt Nam trở thành thuộc địa kiểu mới, căn cứ quân sự của Hoa Kỳ, và ngăn chặn chủ nghĩa cộng sản vào Việt Nam và khu vực. Vì vậy, Hoa Kỳ đã ngày càng can thiệp sâu vào cuộc chiến tranh Đông Dương bằng cách chi viện cho Pháp và từng bước thay chân Pháp ở Đông Dương. Từ sau hiệp định Giơ- ne-vơ năm 1954, Hoa Kỳ dựng lên chính phủ thân Hoa Kỳ do Ngô Đình Diệm đứng đầu, đây là bước đầu cho quá trình can dự trực tiếp của Hoa Kỳ ở Việt Nam.
Tiếp đó, cùng với sự giúp đỡ của lực lượng cách mạng miền Bắc Việt Nam càng làm cho phong trào cách mạng miền Nam Việt Nam phát triển nhanh chóng. Chính quyền Việt Nam Cộng hòa khủng hoảng sau phong trào Đồng Khởi để duy trì sự tồn tại của chính quyền Việt Nam Cộng hòa, Hoa Kỳ đã đề ra những chiến lược mới để ngăn chặn phong trào cách mạng của nhân dân Việt Nam, ngăn chặn sự chi viện từ miền Bắc vào cách mạng miền Nam bằng chiến lược “Chiến tranh đặc biệt”. Về âm mưu, "chiến tranh đặc biệt" là hình thức chiến tranh xâm lược kiểu mới, dưới sự chỉ huy của cố vấn Hoa Kỳ, dựa vào vũ khí và trang thiết bị kĩ thuật, phương tiện tiên tiến hiện đại nhằm chống lại phong trào cách mạng Việt Nam. Về thủ đoạn, Hoa Kỳ đề ra kế hoạch Staley - Taylo, bình định miền Nam Việt Nam trong 18 tháng, tăng viện trợ quân sự cho chính quyền Ngô Đình Diệm, tăng cường cố vấn người Hoa Kỳ và lực lượng quân đội của chính quyền Ngô Đình Diệm, tiến hành dồn dân lập “Ấp chiến lược” trang thiết bị tiên tiến, hiện đại và sử dụng các chiến thuật mới như “Trực thăng vận” và “Thiết xa vận”.
“Ấp chiến lược” được chính quyền Ngô Đình Diện và Hoa Kỳ coi là xương sống của chiến tranh đặc biệt. Tiếp đó, Hoa Kỳ mở nhiều cuộc hành quân càn quét nhằm tiêu diệt lược lượng cách mạng Việt Nam, ngoài ra tiến hành nhiều hoạt động phá hoại miền Bắc, phong tỏa biên 7 c giới, vùng biển nhằm ngăn chặn sự chi viện của miền Bắc cho cách mạng miền Nam. Thường quen với các cuộc chiến tranh lớn và quy mô mở rộng nhưng nay ở Việt Nam, Hoa Kỳ đối diện với cuộc chiến tranh quy ước bị tổn hại lớn và thiệt hại nặng nề. Chính vì vậy, Hoa Kỳ đã đề ra những biện pháp để ngăn chặn phong trào cách mạng của nhân dân, ngăn chặn sự tiếp viện từ miền Bắc chi viện cho miền Nam và đây chính là mục tiêu sống còn của quân đội Hoa Kỳ và chính quyền Ngô Đình Diệm.
Do vậy, âm mưu chiến lược của đội Sài Gòn và Hoa Kỳ trong thời gian này từ tập trung bình định miền Nam trong 18 tháng sang bình định có trọng điểm của Bộ trưởng Quốc phòng Hoa Kỳ, Narama cùng quân đội Sài Gòn với thủ đoạn dựa vào viện trợ ấp chiến lược và chiến thuật mới. nhằm mục đích cô lập và tiêu diệt phong trào đấu tranh ở miền Nam Việt Nam, mở các cuộc hành quân ngăn chặn sự chi viện từ miền Bắc vào miền Nam. Hỗ trợ thực hiện âm mưu và các thủ đoạn chiến lược ngày 15/4/1961, cố vấn của tổng thống Kennedy là Walt .W Rostow đưa ra 9 giải pháp cho cuộc chiến tranh Việt Nam và bản thảo được gửi tới Tướng Lionel C. McGarr cũng là người phụ trách quân đội Hoa Kỳ ở Sài Gòn.
Trước tình hình ở miền Nam Việt Nam thì giải pháp sử dụng CĐHH được quân đội Hoa Kỳ ưu tiên. Việc sử dụng CĐHH cho mục đích quân sự được nhắc đến như một phần ưu tiên của dự án mang tên là AGILE (nhanh nhẹn) được thực hiện vào tháng 7 năm 1961. Chiến dịch sử dụng chất độc hóa học tại chiến trường miền Nam đã được quân đội Hoa Kỳ đặt tên với mật danh là: “Chiến dịch bàn tay dài” chiến dịch này được Hoa Kỳ công bố chính thức kết thúc vào năm 1972. Cũng trong thời gian này không quân Hoa Kỳ cũng đã thử nghiệm phun rải ở một số khu vực và đã mang lại hiệu quả cao theo đánh giá của Hoa Kỳ.
Chính quyền của Ngô Đình Diệm và Bộ Quốc phòng Hoa Kỳ đã ủng hộ kế hoạch này mặc dù lo ngại phản ứng của quốc tế. Để hợp lý hoá hành động tàn bạo, Hoa Kỳ đã quy hoạch tất cả các khu vực sử dụng CĐHH, là khu vực dọc giới tuyến quân sự và các khu vực được nghi ngờ có lực lượng hậu cần lớn. Kế hoạch của quân đội Hoa Kỳ đã từng được áp dụng trên chiến trường 8 c Malaisia để tiêu diệt kẻ thù. Qua đó tránh được dư luận quốc tế, không bị coi là vị phạm bất kì luật pháp quốc tế nào.
MỤC ĐÍCH HOA KỲ SỬ DỤNG CHẤT ĐỘC HÓA HỌC 1. Về quân sự Tại viện nghiên cứu chiến tranh War Research Service ở Hoa Kỳ các nhà khoa học đã nghiên cứu được rất nhiều các loại chất khác nhau, đặc biệt là hợp chất 2,4- D và 2,4,5-T được coi là thành phần có chứa chất phát quang. Trong cuộc diễn tập phá hủy cây trồng được diễn ra ở Fort Drum ở New York năm 1959 của cơ quan Fort Dietrick tổ chức, đã thử nghiệm rải, hợp chất Butylester 2,4-D và 2,4,5-T xuống nơi có diện tích là 4 dặm vuông, cuộc diễn tập đã đem lại kết quả khả thi. Vì vậy, Bộ Quốc phòng Hoa Kỳ đã ra chỉ thị phê chuẩn đề án rải chất phát quang xuống khu vực miền Nam Việt Nam.
Sau đó, cơ quan này còn tiếp tục tổ chức 18 cuộc thử nghiệm khác rải chất phát quang và làm rụng lá cây. 120 chương trình sử dụng chất phát quang và làm rụng lá cây (có tài liệu gọi là chất phát quang), được quân đội Hoa Kỳ tiến hành tại chiến trường Đông Dương đặc biệt là Việt Nam dưới mật danh “Chiến dịch Ranch Hand”. Trong chiến lược chiến tranh đặc biệt Hoa Kỳ sử dụng CĐHH với quy mô lớn, liên tục phát quang các căn cứ địa của Mặt trận Giải phóng Dân tộc miền Nam Việt Nam, các trục đường giao thông thủy, bộ quan trọng với mục đích ngăn chặn sự vận chuyển, tiếp viện, tiếp tế lương thực cho miền Nam Việt Nam, lập các vành đai trắng vùng trọng điểm ở biên giới Việt - Lào - Campuchia, xung quanh các căn cứ chiến lược, chiến thuật, củng cố tuyến phòng thủ của Hoa Kỳ, ngăn chặn hoạt động quân sự của quân và nhân dân Việt Nam. Với âm mưu này, Hoa Kỳ đã sử dụng các thủ đoạn tinh vi sau: Đầu tiên, quân đội Hoa Kỳ sử dụng chất phát quang để đánh phá các căn cứ giao thông bộ, thủy của quân cách mạng.
Hoa Kỳ sử dụng chất độc phát quang trên hầu hết các tỉnh từ vĩ tuyến 17 vào Nam đã tàn phá cây cối, đồi núi, dọc bên hai bờ sông, hủy diệt màu xanh của lá cây, làm cho cây cối chết khô để phục vụ mục đích quân sự ngăn chặn và khống chế sự cơ động và vận chuyển của cơ quan lực lượng ở miền Nam. Để phát hiện đánh phá căn cứ 9 c của quân giải phóng, quân đội Hoa Kỳ đã mở rộng tăng cường phun rải các chất phát quang đặc biệt là ở Minh Châu, Bời Lời và nơi giáp ranh Trị Thiên, Quế Sơn, Tây Ninh. Các hệ thống đường giao thông quan trọng là mục tiêu đánh phá và ngăn chặn của quân đội Hoa Kỳ, bởi đây là con đường tiếp viện lực lượng cũng như lương thực thực phẩm cho miền Nam nên Hoa Kỳ ra sức ngăn chặn quá trình vận chuyển, tiếp tế cho lực lượng cách mạng. Tiêu biểu, tại hành lang tây Trị Thiên trong hai ngày 28, 29/7/1968 quân đội Hoa Kỳ đã ném 23 quả bom CS (Corson Stoughton) ở Dốc Mèo gây nhiễm độc bán kính rộng 2.5km, tiếp đó là trục đường 12 và A Sầu, A Lưới vào hai tháng 7, 9/1969 quân đội Hoa Kỳ đã dùng máy bay B52 kết hợp với CĐHH phá hoại đường giao thông làm tắc con đường vận chuyển của quân giải phóng.
Đặc biệt, ở nơi có hệ thống giao thông trọng điểm Hoa Kỳ rải CĐHH liên tục làm tê liệt khả năng khắc phục. Về hệ thống đường thủy là mục tiêu Hoa Kỳ chú ý, Hoa Kỳ tập trung đánh phá dọc hai bên bờ sông, Hoa Kỳ rải CĐHH dọc 2 bên bờ sông, kênh rạch kể cả khu vực đồng bằng lẫn rừng núi, bán kính phun rải chất phát quang hai bên đường dọc sông từ 500m đến 2 hoặc 3km. Đặc biệt, ở các vùng hiểm trở Hoa Kỳ còn sử dụng chất CS dạng bột cùng máy bay B52 đánh phá quyết liệt, làm tê liệt hệ thống giao thông. Ngoài ra, Hoa Kỳ kết hợp máy bay B52, bom bi, bom trường, bom nổ chậm, mìn lá.
với CĐHH để tạo thành khu trống trải và dùng bom napan, rải xăng đốt cháy rừng. Tiếp đó, để cản trở, ngăn chặn hoạt động của quân và dân Việt Nam, quân đội Hoa Kỳ sử dụng bột CS. Thứ hai, Hoa Kỳ phát quang lập vành đai trắng dọc biên giới và xung quanh các căn cứ quân sự quan trọng của miền Nam Việt Nam. Hoa Kỳ mở rộng phạm vi phát quang nhằm tiêu diệt các loại cây cối, và dùng bột CS, bom mìn khác thiết lập vành đai trắng xung quanh căn cứ, hậu cứ và đô thị lớn do Hoa Kỳ kiểm soát.
Để bảo vệ căn cứ liên hợp Đà Nẵng, Hoa Kỳ đã tạo ra hàng rào điện tử, triệt phá toàn bộ khu vực Duy Xuyên, phát quang đường giao thông chiến lược 19 và xung quanh các mục tiêu quan trọng. Tiếp đó, các khu vực mà Hoa Kỳ nghi ngờ quân giải phóng sử dụng làm bàn đạp tiến công 10 c thì Hoa Kỳ ra sức phát quang thành khu vực trắng. Điển hình ở Huế, Hoa Kỳ đã phát quang chiều rộng khoảng hai ngày đường đi bộ, dài từ 40 đến 60km. Âm mưu thứ hai của Hoa Kỳ là sử dụng các chất độc, hơi độc trực tiếp chi viện trong quá trình tác chiến kết hợp với các hỏa lực khác tiêu hao và gây khó khăn trở ngại cho hoạt động quân sự của lực lượng vũ trang cách mạng ở miền Nam.
Liên tục bị thất bại và tổn thất nặng nề trong các chiến dịch nhưng Hoa Kỳ vẫn nuôi hy vọng sử dụng các thiết bị vũ trang hiện đại sẽ làm hạn chế được hoạt động của quân cách mạng và CĐHH được ưu tiên sử dụng hơn trong các chiến dịch.