Chương 1 ĐỀ TÀI HÀ NỘI TRONG VĂN HỌC VIỆT NAM VÀ TRONG SÁNG TÁC NGUYỄN HUY TƯỞNG 1. Hà Nội trong văn học Việt Nam 1. Hà Nội trong văn học trung đại Với bề dày lịch sử hơn một nghìn năm của mảnh đất Thăng Long - Hà Nội thì tương ứng với nó cũng là lịch sử của hơn một nghìn năm văn học Thăng Long - Hà Nội. Ở thời kì nào văn học Thăng Long - Hà Nội cũng nổi bật hai đặc điểm cơ bản đó là chủ nghĩa yêu nước và chủ nghĩa nhân đạo.
Ở mảng văn xuôi, bao gồm các thể loại ký - tản văn, tiểu thuyết, truyện ngắn, dù tồn tại dưới loại hình nào thì văn học về đề tài Thăng Long - Hà Nội cũng phát triển rực rỡ trong suốt chiều dài ngàn năm văn hiến. Suốt thời Lý - Trần, những tác phẩm tự sự viết về Thăng Long - Hà Nội chủ yếu là những tác phẩm mang chức năng hành chính và nghi lễ tôn giáo. Ta có thể nhắc đến một số tác phẩm tiêu biểu trong thời kì này như: Việt điện u linh của Lý Tế Xuyên, Thiền uyển tập anh, Thánh đăng ngữ lục, Tam tổ thực lục ( khuyết danh), Lĩnh Nam chích quái của Trần Thế Pháp. Những tác phẩm trên hầu hết mang chức năng lễ nghi tôn giáo, mang dấu ấn huyền thoại dân gian song đều dành nhiều trang viết cho mảnh đất Thăng Long.
Đó là hình ảnh các vị thần trong Việt điện u linh của Lý Tế Xuyên có 27 truyện kể về các vị thần linh được thờ ở Việt Nam, gồm các vua chúa (nhân quân), bề tôi trung liệt (nhân thần), thần sông, thần núi (hạo khí anh linh); trong Lĩnh Nam chích quái là một tập truyện thần thoại cổ, mang nhiều biểu tượng của triết lý và tâm linh Việt Nam. Đa số các nhân vật trong Lĩnh Nam chích quái là thần thoại-Lạc Long Quân Âu Cơ, Tiên Dung Chử Đồng Tử, Trọng Thuỷ Mỵ Châu, Tháng Gióng Phù Đổng Thiên Vương,…; Nhiều tác phẩm kể về các anh hùng dân tộc, các vị vua tài đức (Thánh đăng ngữ lục là một tập sách thuật lại hành trạng tu tập của năm vị vua đời Trần, trong đó, lịch sử của vua c 11 Trần Thái Tông và Trần Nhân Tông được ghi chép đầy đủ), các nhân sĩ trí thức hay các tăng đồ tôn giáo xuất chúng (trong Thiền uyển tập anh - đây là một cuốn sách cổ của Phật giáo Việt Nam ghi lại các tông phái thiền học và sự tích các vị Thiền sư nổi tiếng vào cuối thời Bắc thuộc cho đến thời Đinh, Lê, Lý, một số ít vị lớp sau còn sống đến đầu thời Trần. Tam tổ thực lục - cuốn sách nói về tiểu sử của ba vị tổ thiền phái Trúc Lâm Yên Tử gồm Sơ Tổ Trúc Lâm (1258-1308), Nhị Tổ Huyền Quang (1284-1330) và Tam Tổ Pháp Loa (1254- 1334), được biên soạn vào thời Trần. Thời Hồng Đức (1460 - 1497), hoàn cảnh dân tộc có những thay đổi lớn, dẫn đến có những biến chuyển trong cảm quan nghệ thuật về con người trong văn học.
Dưới thời vua Lê Thánh Tông, đất nước phát triển rực rỡ, hưng thịnh về mọi mặt từ kinh tế, văn hóa, xã hội, giáo dục, quân sự và mở rộng đáng kể lãnh thổ của mình, đây là thời kì nước Đại Việt trở thành một cường quốc trong khu vực Đông Nam Á, ở thời kì này vai trò, vị trí của con người được đề cao. Chính vì vậy trong văn học hình thành quan niệm về con người cá nhân, nâng cao vị trí, vai trò của con người. Ta có thể kể đến văn bia đề tên các tiến sĩ trải suốt từ thời Hồng Đức, đã ghi lại các kì thi quan trọng bậc nhất từng diễn ra tại đất Thăng Long cũng như sự đề cao, bồi dưỡng nhân tài của quốc gia dưới thời vua Lê Thánh Tông. Sau thời Hồng Đức, giai cấp phong kiến suy tàn, đất nước rơi vào khủng hoảng, bị chia cắt, vì chiến tranh phong kiến diễn ra ác liệt và kéo dài, quyền sống của con người bị bóp nghẹt, nhân dân điêu đứng, khổ cực.
Vì vậy văn học giai đoạn này đi sâu vào khuynh hướng thể hiện con người và thế tục. Tiêu biểu là các tác phẩm Truyền kì mạn lục của Nguyễn Dữ, Truyền kì tân phả của Đoàn Thị Điểm,… Qua tác phẩm Truyền kì mạn lục, Nguyễn Dữ đã cất lên tiếng nói phản kháng mạnh mẽ hiện thực xã hội Việt Nam thế kỉ XVI. Trong hoàn cảnh xã hội ấy, văn học chính là mảnh đất thuận lợi để các tác giả bày tỏ những ước mơ, lý tưởng thẩm mĩ của mình. Do thái độ bất mãn tước hiện thực xã hội đương thời, tác phẩm Truyền kì mạn lục đã phản ánh khá c 12 nhiều vấn đề của xã hội: vạch trần chế độ chính trị đen tối, hủ bại, bộ mặt xã hội rốn ren nhiều tệ nạn, đả kích hôn quân, bạo chúa, tham quan lại nhũng, đồi phong bại tục, đồng thời cất lên tiếng nói đòi quyền sống, quyền hạnh phúc của con người trong tình yêu trai gái, tình cảm vợ chồng, hạnh phúc lứa đôi… Trong Truyền kì tân phả của Đoàn Thị Điểm, cuốn sách ghi chép những truyện linh dị và những truyện gặp gỡ được xây dựng từ những nhân vật có thật trong lịch sử hoặc theo truyền thuyết dân gian, đều có ý thức đề cao người phụ nữ.
Đó là các truyện: Hải khẩu linh từ (Đền thiêng cửa biển), Vân Cát thần nữ (Thần nữ Vân Cát), An Ấp liệt nữ (Liệt nữ ở An Ấp), Bích Câu kỳ ngộ (Cuộc gặp gỡ kỳ lạ ở Bích Câu), Nghĩa khuyển khuất miêu (Chó khôn chịu nhịn mèo) và Hoành Sơn tiên cục (Cuộc cờ tiên trên núi Hoành Sơn). Tuy nhiên nổi bật hơn cả là truyện “Hải khẩu linh từ” (Đền thiêng cửa biển), tác giả hướng đến tái tạo hình tượng người phụ nữ tài sắc đất cố đô -nữ thần Chế Thống, tức Nguyễn Thị Bích Châu, cung phi của vua Trần Duệ Tông đã hi sinh thân mình để nhà vua được an toàn đưa chiến thuyền vào đánh quân Chiêm Thành. Cái chết tự nguyện của nàng Bích Châu là kết quả của một sự suy nghĩ lâu dài về vận mệnh đất nước, dân tộc và hình tượng của nàng còn có ý nghĩa tố cáo cuộc chiến tranh phi nghĩa. Tác phẩm này được đánh giá là thành công hơn cả của Đoàn Thị Điểm.
Đến thế kỉ XVIII - XIX, đời sống xã hội có nhiều biến động, đây là giai đoạn khủng hoảng, suy vong trầm trọng của chế độ phong kiến Việt Nam và nhà văn đã phản ánh sự biến động ấy vào văn học nghệ thuật một cách sinh động. Cho nên thời kì này là giai đoạn phát triển rực rỡ nhất của nền văn học dân tộc trong suốt thời kỳ phong kiến. Vấn đề trung tâm của văn học giai đoạn này là vấn đề số phận con người trong chế độ phong kiến suy tàn. Các tác phẩm văn xuôi đã phản ánh sâu sắc một Thăng Long dâu bể, có cả mặt trái nơi cung vua phủ chúa, nhà quan, phố chợ và cả hào khí một thời chiến trận.
Khuynh hướng chủ đạo của văn học giai đoạn này tố cáo hiện thực và nhân đạo chủ nghĩa. Các nhà văn mang trong mình ý thức cá nhân và phản ánh thời cuộc c 13 bằng cái nhìn thế sự. Tiêu biểu là các tác phẩm Tang thương ngẫu lục của Phạm Đình Hổ - Nguyễn Án, Vũ trung tùy bút của Phạm Đình Hổ, Thượng kinh ký sự của Lê Hữu Trác, Hoàng Lê nhất thống chí của Ngô Gia Văn Phái. Hoàng Lê nhất thống chí là cuốn tiểu thuyết lịch sử chương hổi, ghi lại một giai đoạn lịch sử với bao biến cố dữ dội từ khi Trịnh Sâm lên ngôi Chúa đến khi Gia Long chiếm Bắc Hà (1768 - 1802): loạn kiêu binh, triều Lê - Trịnh sụp đổ, Nguyễn Huệ đại phá quân Thanh, Gia Long lật đổ triều đại Tây Sơn.
Đây chính là giai đoạn rất nhiều biến động trong lịch sử Việt Nam. Tập ký kể lại cuộc hành trình từ quê nhà Nghệ Tĩnh của ông về kinh thành Thăng Long để chữa bệnh cho chúa Trịnh ở phủ Chúa, vì chúa đã biết tiếng tăm lừng lẫy của một đại danh y. Nhiều trang viết mô tả quang cảnh kinh kỳ, nhất là trong phủ chúa Trịnh, nơi lắm xa hoa và quyền uy. Tác giả thuật lại những điều tai nghe mắt thấy trong xã hội hiện lên rất phong phú và sống động.
Tuy nhiên, đằng sau những biến đổi sâu sắc của xã hội, ta vẫn nhận thấy một hình ảnh Thăng Long hào hoa, thanh lịch. Hà Nội trong văn học từ thế kỉ XX đến nay Ðầu thế kỉ XX thực dân Pháp cơ bản đã thực hiện xong công cuộc bình định trên đất nước ta và chuyển sang khai thác thuộc địa, xây dựng trật tự mới. Cùng với các cuộc khai thác thuộc địa có quy mô lớn, xã hội Việt Nam mới có sự phân hóa đáng kể. Lúc này nền văn hóa phương Tây đã được du nhập vào Việt Nam ồ ạt, trong phạm vi cả nước.
Trong bối cảnh ấy, chúng ta hội nhập với văn hóa Pháp và văn minh Âu Tây, từng bước hòa nhập vào văn hóa thế giới. Hà Nội được trả về vị trí xứng đáng là trái tim của cả nước, là trung tâm văn hóa chính trị của đất nước. Đặc biệt sự xuất hiện của tổ chức Tự lực văn đoàn đã làm nên cả một thời đại văn học, thúc đẩy một bộ phận văn xuôi hội nhập với nền văn học hiện đại thế giới. Trong bối cảnh chung, các tác giả Nguyễn Tuân, Thạch Lam, Vũ Trọng Phụng, Nguyễn Huy Tưởng, Tô Hoài đã có những tác phẩm xuất sắc về đề tài Hà Nội và đứng vào đội ngũ các tác gia hàng đầu của nền văn học hiện đại.
c 14 Trong hai mươi năm đầu thế kỉ XX, xu hướng của các nhà văn đi vào phản ánh trực diện cuộc sống và con người Hà Nội. Văn học giai đoạn này hình thành hai khuynh hướng rõ nét là khuynh hướng lãng mạn và khuynh hướng hiện thực. Ở khuynh hướng lãng mạn, các nhà văn viết về Hà Nội với cái nhìn sâu sắc về những thay đổi tinh vi trong tâm hồn, tình cảm, tâm trạng của con người. Người đọc có thể cảm nhận được rõ thông qua các tiểu thuyết thuộc nhóm các tác giả Tự lực văn đoàn như Tố Tâm của Hoàng Ngọc Phách, Nửa chừng xuân của Khái Hưng.
Ở thể loại truyện ngắn Hoa vông vang của Đỗ Tốn, Hoa tigôn của Thanh Châu, Ba, Thả thia lia của Đỗ Đức Thu. Đặc biệt là hai tác giả Thạch Lam và Nguyễn Tuân - hai cây bút đương thời tiêu biểu nhất cho thái độ trân trọng, nâng niu những nét văn hóa đặc trưng của Hà Nội cổ xưa.