Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI 1.Giá trị và định hướng giá trị.Khái niệm về giá trị (GT): GT và ĐHGT hiện nay đang là vấn đề thu hút sự quan tâm nghiên cứu của nhiều nhà khoa học, nhiều tể chức và nhiều quốc gia trên thế giới, bởi lẽ nó thực sự là vấn đề cơ bản về lý luận và có ý nghĩa thực tiễn rất to lớn. Những hiểu biết đầu tiên về GT và GT học (hay còn gọi là lý luận về GT) có từ thời xa xưa gắn liền với triết học. Mãi đến nửa sau thế kỷ XIX giá trị học mới bắt đầu được hình thành như một khoa học độc lập. Khái niệm GT trở thành trung tâm của giá trị học và được sử dụng rộng rãi trong nhiều ngành khoa học như: triết học, xã hội học, tâm lý học, đạo đức học, kinh tế học, mỹ học với những nội dung rộng hẹp khác nhau.
Đã có nhiều định nghĩa về GT, trong đó một số định nghĩa tiêu biểu trong các từ điển của các nước và của một số tác giả như sau: -Trong từ điển triết học của Liên xô do M.M Rozentan chủ biên đã xác định: "GT- những định nghĩa về mặt xã hội của các khách thể trong thế giới chung quanh, nhằm nêu bật tác dụng tích cực hoặc tiêu cực của các khách thể ấy đối với con người và xã hội (cái lợi, cái thiện và cái ác, cái đẹp, cái xấu.nằm trong những hiện tượng của đời sống xã hội hoặc tự nhiên)"[60-tr.52] P P -Trong từ điển Đức: "GT là ý nghĩa tích cực của một chủ thể hoặc khách thể trong mối liên hệ với một chủ thể hoặc khách thể khác" [60-tr. P P -Theo tài liệu "giáo dục GT của bộ văn hoa giáo dục, thể thao Philipin" thì "Một vật có GTkhi nó được thừa nhận là có ích và cần có".Không chỉ có hàng hóa, vật chất mà cả lý tưởng và những khái niệm đều có GT như "sự thật", "lương thiện" và "công lý"[60-tr.Fichter cho rằng: "Tất cả những cái gì có ích lợi, đáng ham chuộng, đáng kính phục đối với cá nhân, hoặc xã hội đều có GT"[60-tr.Tugarinov (Liên xô) quan niệm: "GT là những khách thể, những hiện tượng và những thuộc tính của chúng mà tất cả đều cần thiết cho con người (ích lợi, hứng thú.) của một xã hội hay của một giai cấp nào đó cũng như cá nhân riêng lẻ, với tư cách là phương tiện thoả mãn những nhu cầu và những lợi ích của họ, đồng thời cũng là những tư tưởng và những ý định với tư cách là chuẩn mực, mục đích hay lý tưởng".54] P P 14 -Nhấn mạnh tính khách quan của GT, tác giả L.Dramaliev (Bungari) coi "GT là một phẩm chất khách quan, một đặc tính, một khả năng thỏa mãn những nhu cầu đã trở thành rõ rệt trong quá trình quan hệ qua lại có tinh chất xã hội giữa người với người trong hành vỉ thực tế của họ. Với tính cách là một khách thể xã hội, GT không thể tách khỏi những nhu cầu, những mong muốn, những thái độ, những quan điểm và những hành động của con người với tư cách là một chủ thể của các quan hệ xã hội".54] P P -Ở Việt nam, Đại từ điển tiếng Việt (Nxb Văn hoá-thông tin năm 1999) đã xác định GT là: "cái được xác định có ích, có hiệu quả trong đời sống vật chất và tinh thần". -Trong những năm gần đây ở Việt nam cũng đã có nhiều công trình nghiên cứu về GT.
Nhìn chung các tác giả đều cơ bản thống nhất với nhau về khái niệm GT. GS Trần văn Giàu và GS Phạm Minh Hạc đều quan niệm: "GT là tính có nghĩa tích cực, tốt đẹp, đáng quý, có ích của các đối tượng với các chủ thể". Theo TSKH Thái Duy Tuyên thì có thể hiểu GT một cách thông thường ìầ:"cái đáng quý, cái cần thiết, có ích lợi, có nghĩa, thỏa mãn những nhu cầu về vật chất và tinh thần của con người, giai cấp, nhóm xã hội nói chung"[58-tr. PGS P P Trần Tuấn Lộ thì chỉ rõ GT một cách cụ thể hơn, đó là: "cái ích (GT sử dung), cái khoái (GT cảm giác), cái lợi (GT kinh tế), cái chân (tức cái đúng, cái thật, cái bản chất và cái có tính quy luật; GT khoa học), cái thiện (GTđạo đức), cái mỹ (GTthẩm mỹ)"[20-tr.
P P Qua các định nghĩa về "GT" trên đây chúng ta thấy rằng, các tác giả ở các góc độ khác nhau đã có những cách định nghĩa khác nhau. Tựu chung lại chúng ta có thể khái quát một số nét cơ bản sau đây: Một là: Bất cứ sự vật, hiện tượng nào cũng có thể xem là có GT, dù nó là vật thể hay phi vật thể, miễn là nó được người ta thừa nhận, cần đến nó như một nhu cầu, xác định nó có một vị trí quan trọng trong đời sống của họ. Hai là: -Phải phân biệt bản chất, quy luật với GT của khách thể: Bản chất, quy luật của khách thể được quy định bởi những thuộc tính khách quan, vốn có của nó, không phụ thuộc vào nhu cầu, ý thức của chủ quan của con người. Còn GT chỉ hình thành và tồn tại trong mối quan hệ với nhu cầu của con người, tuy thuộc vào việc con người có hay không có nhu cầu mà một sự vật, hiện tượng có hay không có GT.
Như vậy, nói tới GT là nói tới mối quan hệ nhất định giữa khách thể (sự vật hiện tượng) và chủ thể (con người) nào đó. Nghĩa là phải nói GT gì? của sự vật hiện tương nào? đối với ai? (chủ thể nào?). Một sự vật, hiện tượng nào đó (khách thể) có hay không có GT, 15 nó phụ thọc vào nhu cầu của chủ thể. Cùng một sự vật, hiện tượng nhưng nó có GT khác nhau đối với các chủ thể khác nhau, thậm chí nó có GT đối với chủ thể này nhưng lại không có GT đối với chủ thể khác.
-Ba là: GT luôn mang tính lịch sử, khách quan: GT mang tính lịch sử vì nó chỉ hình thành và tồn tại trong mối quan hệ với nhu cầu của con người, mà nhu cầu của con người cũng biến đổi do sự tác động của môi trường và tiến trình phát triển của lịch sử. PGS Trần Tuấn Lộ có nhận xét: "Mỗi thời đại, mỗi chế độ xã hội, mỗi dân tộc, mỗi giai cấp và mỗi cá nhân đều có những GT riêng của mình do thực tiễn quy định"[20-tr. Tuy vậy GT vẫn luôn P P mang tính khách quan, bởi nhu cầu của con người cũng xuất hiện không phải do ý thức chủ quan mà do đòi hỏi khách quan trong hoạt động thực tiễn của họ quyết định. Đây là quan điểm có ý nghĩa thực tiễn hết sức quan trọng trong việc giáo dục GT, là cơ sở để chống lại chủ nghĩa duy tâm khách quan và chủ quan hoặc là áp đặt GT đối với con người, hoặc coi GT là hiện tượng của ý thức, là biểu tượng của thái độ chủ quan của con người đối với khách thể.
-Bốn là: Trong mọi GT đều chứa đựng yếu tố nhận thức, yếu tố tình cảm và yếu tố hành vi của chủ thể trong mối quan hệ với sự vật, hiện tượng mang GT, thể hiện sự lựa chọn và đánh giá của chủ thể. Tóm lại, từ cách khái quát trên, chúng ta có thể hiểu: GT làmột phạm trù khẳng định ý nghĩa tích cực của sự vật, hiện tượng đối với con người về sự thỏa mãn nhu cầu của họ.Hệ GT, thang GT và chuẩn GT: a) Phân loại GT: Sự vận động của thực tiễn cuộc sống đã làm cho các GT đối với con người cũng ngày càng phát triển hết sức phong phú và đa dạng. Tuy theo mục đích nghiên cứu, với những cách tiếp cận khác nhau người ta đã có rất nhiều cách phân loại GT theo những căn cứ xác định. Dưới góc độ nghiên cứu về giáo dục GT, theo chúng tôi cần quan tâm một số cách phân loại GT như sau: -Phân loại theo vấn đề cơ bản của triết học: có GT vật chất và GT tinh thần.
Đây là cách phân loại phổ biến, phản ánh sự thỏa mãn nhu cầu mọi mặt của con người một cách khái quát nhất. +Trong GT vật chất có: GT sử dụng và GT kinh tế. 16 +Trong GT tinh thần có: GT khoa học; GT chính trị; GT luật pháp; GT tư tưởng; GT văn hoa; GT đạo đức; GT thẩm mỹ; GT tôn giáo. -Phân loại theo tính chất của chủ thể (cá nhân hoặc xã hội): GT cá nhân và GT xã hội; GT chung, GT riêng.
-Phân loại theo cấp độ: GT cốt lõi; GT cơ bản; GT chủ yếu; GT phổ biến -Phân loại theo các yếu tố cơ bản của cuộc sống: GT nhân văn; GT đạo đức; GT văn hóa; GT chính trị; GT kinh tế. Với tính chất đa dạng, phong phú của các GT trong cuộc sống sự phân loại GT cũng chỉ là tương đối. Ficher - nhà xã hội học Mỹ, mỗi hiện tượng xã hội có thể được dùng làm khởi điểm cho sự phân loại các GT, do đó sự phân loại GT cũng hết sức đa dạng và phong phú. Mỗi cách phân loại đều có những ưu việt và hạn chế riêng, điều quan trọng là phải biết vận dụng nó một cách phù hợp.
Khi xem xét sự phân loại các GT phải có một cách nhìn hệ thống, xác định mỗi GT trong một cấu trúc có thứ bậc, đồng thời chú ý đến tính đa dạng trong các biểu hiện sinh động của nó. b) Hệ GT, thang GT, chuẩn GT. Sự phân loại GT chính là sự sắp xếp các GT theo những quan hệ nhất định. Kết quả sự phân loại đó phản ánh những hệ thống GT có những thang bậc khác nhau đối với đời sống của con người.
- Hệ giá trị (hay còn gọi là hệ thống GT) đó là một tổ hợp các GT khác nhau được sắp xếp, hệ thống lại theo những nguyên tắc nhất định, thành một tập hợp mang tính toàn vẹn, hệ thống, thực hiện các chức năng đặc thù trong việc đánh giá của con người theo những phương thức vận hành nhất định của GT. Các GT thường được sắp xếp theo từng nhóm (hay phân hệ), các nhóm này có vị trí độc lập tương đối và tương tác với nhau theo những thứ bậc khác nhau phù hợp với các chức năng xã hội trong những điều kiện lịch sử - cụ thể. Hệ GT chỉ có tính ổn định tương đối, bởi thực tiễn cuộc sống của con người luôn luôn vận động và phát triển, có những GT cũ mất đi, có những GT mới xuất hiện, hoặc sự tương tác trong sắp xếp thứ bậc các GT đã có sự thay đổi, thì điều đó cũng dẫn đến sự biến đổi của một hệ GT.