Tổng quan nghiên cứu

Tại Việt Nam, đồng bào dân tộc thiểu số chỉ chiếm khoảng 15% tổng dân số nhưng lại chiếm tới 47% tổng số người nghèo và 68% số người nghèo cùng cực trên phạm vi cả nước. Na Rì là huyện miền núi nằm ở phía Đông Bắc tỉnh Bắc Kạn với diện tích tự nhiên 85.300 ha, nơi đồng bào dân tộc thiểu số chiếm tới 92,93% dân số toàn huyện. Mặc dù sở hữu vị trí chiến lược dọc theo Quốc lộ 3B và Quốc lộ 279 cùng tiềm năng lâm nghiệp phong phú, Na Rì từng là địa bàn có tỷ lệ đói nghèo thuộc nhóm cao nhất tỉnh Bắc Kạn. Giai đoạn 2015 - 2018 ghi nhận sự chuyển dịch mạnh mẽ khi tỷ lệ hộ nghèo toàn huyện giảm từ 40,89% xuống còn 28,39%, tương ứng giảm 12,50 điểm phần trăm. Tuy nhiên, kết quả này vẫn tiềm ẩn nhiều nguy cơ tái nghèo do tính chất thiếu hụt đa chiều và mức độ sinh kế còn bấp bênh.

Nghiên cứu được thực hiện nhằm hệ thống hóa cơ sở lý luận, đánh giá thực trạng giảm nghèo đa chiều giai đoạn 2016 - 2018 và phân tích các yếu tố ảnh hưởng trực tiếp đến sinh kế của đồng bào dân tộc thiểu số tại huyện Na Rì. Trên cơ sở khảo sát 120 hộ gia đình tại 3 xã đại diện là Quang Phong, Cư Lễ và Văn Học, đề tài xác định hệ thống giải pháp giảm nghèo bền vững cho giai đoạn 2020 - 2025. Kết quả nghiên cứu đóng góp cơ sở dữ liệu thực chứng quan trọng giúp chính quyền địa phương hoàn thiện các chính sách an sinh xã hội, tối ưu hóa nguồn lực đầu tư công và thúc đẩy mục tiêu giảm tỷ lệ hộ nghèo bình quân từ 3,5% đến 4,0% mỗi năm.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Luận văn vận dụng lý thuyết nghèo đa chiều theo khung chuẩn mực của Liên hợp quốc và Quyết định số 59/2015/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ, kết hợp với Khung sinh kế bền vững để phân tích thực trạng kinh tế nông thôn. Nghèo đói không chỉ được đo lường đơn thuần qua mức thu nhập bình quân mà được xác định dựa trên sự thiếu hụt các nhu cầu cơ bản của con người. Khung phân tích tập trung vào 5 loại vốn sinh kế then chốt: vốn con người, vốn tự nhiên, vốn vật chất, vốn tài chính và vốn xã hội.

Các khái niệm trọng tâm được chuẩn hóa trong nghiên cứu bao gồm:

  1. Thoát nghèo bền vững: Trạng thái hộ gia đình đạt mức thu nhập trên chuẩn nghèo quy định, thỏa mãn các dịch vụ xã hội cơ bản và duy trì năng lực tự phục hồi trước các rủi ro kinh tế - môi trường mà không bị tái nghèo.
  2. Nghèo kinh niên: Tình trạng hộ gia đình liên tục có mức thu nhập và điều kiện sống dưới chuẩn nghèo trong một khoảng thời gian dài do thiếu hụt tài sản sinh kế trầm trọng.
  3. Nghèo đa chiều: Tình trạng hộ gia đình thiếu hụt từ 3 chỉ số đo lường mức độ tiếp cận 5 dịch vụ xã hội cơ bản gồm y tế, giáo dục, nhà ở, nước sinh hoạt cùng vệ sinh môi trường, và thông tin truyền thông.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu sử dụng nguồn dữ liệu thứ cấp từ Niên giám thống kê huyện Na Rì, các báo cáo chuyên đề giai đoạn 2015 - 2018 của Ủy ban nhân dân huyện, Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội, cùng các Nghị quyết của Đảng bộ tỉnh Bắc Kạn. Nguồn dữ liệu sơ cấp được thu thập thông qua điều tra khảo sát thực địa năm 2018 với bảng hỏi cấu trúc và phỏng vấn sâu cán bộ quản lý cấp huyện, xã.

Quy mô mẫu nghiên cứu được xác định theo công thức Slovin từ tổng thể 2.756 hộ nghèo dân tộc thiểu số với sai số cho phép e = 0,09, xác định quy mô mẫu lý thuyết là 118 hộ và được mở rộng lên cỡ mẫu thực tế là 120 hộ. Phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên phân tầng được áp dụng tại 3 xã đại diện cho 3 tiểu vùng kinh tế - sinh thái của huyện Na Rì:

  • Xã Quang Phong: Đại diện vùng 1 có điều kiện giao thông tương đối thuận lợi, trình độ kinh tế trung bình, khảo sát 40 hộ.
  • Xã Cư Lễ: Đại diện vùng 2 có cánh đồng lúa phát triển, giao thông thuận tiện, kinh tế phát triển nhanh, khảo sát 40 hộ.
  • Xã Văn Học: Đại diện vùng 3 có địa hình hiểm trở, hạ tầng khó khăn, kinh tế kém phát triển, khảo sát 40 hộ.

Trong tổng số 120 hộ điều tra, có 98 hộ nghèo (chiếm 81,67%) và 22 hộ cận nghèo (chiếm 18,33%). Toàn bộ số liệu được tổng hợp, xử lý bằng phần mềm Microsoft Excel, kết hợp phương pháp thống kê mô tả, phương pháp so sánh tương đối và tuyệt đối, cùng phương pháp tham vấn chuyên gia để đánh giá biến động tỷ lệ nghèo.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Quá trình phân tích thực chứng tại huyện Na Rì giai đoạn 2015 - 2018 đã chỉ ra 4 phát hiện căn bản:

Thứ nhất, tốc độ giảm nghèo chung đạt mức khả quan nhưng áp lực tập trung chủ yếu vào chiều thu nhập. Tỷ lệ hộ nghèo toàn huyện giảm từ 40,89% (3.995 hộ) năm 2015 xuống 35,76% năm 2016, 32,16% (3.202 hộ) năm 2017 và đạt 28,39% (2.843 hộ) năm 2018. Tuy nhiên, trong số 2.843 hộ nghèo năm 2018, có tới 2.686 hộ nghèo do thiếu hụt tiêu chí thu nhập (chiếm 94,40%), trong khi hộ nghèo do thiếu hụt các dịch vụ xã hội cơ bản chỉ chiếm 5,60% (157 hộ).

Thứ hai, mức độ nghèo phân hóa rõ rệt và trầm trọng nhất ở nhóm đồng bào thiểu số vùng cao. Đồng bào dân tộc thiểu số chiếm hơn 95% tổng số hộ nghèo toàn huyện. Đáng chú ý, tỷ lệ hộ nghèo trong cộng đồng người Mông lên tới 72,88% vào năm 2018, người Dao là 58,55%, người Nùng là 27,97%, người Tày là 20,12% và người Kinh chỉ chiếm 13,70%. Dù người Mông chỉ chiếm 1,97% dân số toàn huyện nhưng lại chiếm tỷ trọng lớn trong nhóm nghèo cùng cực.

Thứ ba, sự phân hóa kinh tế theo không gian địa lý diễn ra sâu sắc. Tại xã khó khăn như Văn Học, tỷ lệ hộ nghèo năm 2015 lên tới 71,19% (173 hộ nghèo trên 243 hộ dân), trong khi tại xã vùng thấp như Quang Phong, tỷ lệ hộ nghèo năm 2015 là 40,00% và giảm xuống còn 35,97% vào năm 2018.

Thứ tư, nguồn thu nhập của hộ nghèo phụ thuộc hoàn toàn vào nông lâm nghiệp truyền thống với năng suất thấp. Khảo sát 120 hộ cho thấy đa phần chủ hộ có trình độ học vấn dưới trung học cơ sở, thiếu vốn sản xuất và thiếu kỹ năng ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật.

Thảo luận kết quả

Cơ cấu dữ liệu nghiên cứu có thể được hệ thống hóa trực quan thông qua biểu đồ cột thể hiện diễn biến giảm nghèo giai đoạn 2015 - 2018 và bảng ma trận chéo phân tích mức độ thiếu hụt 10 chỉ số dịch vụ cơ bản giữa các nhóm dân tộc. Thực tế cho thấy nguyên nhân cốt lõi khiến tỷ lệ nghèo thu nhập chiếm tới 94,40% bắt nguồn từ việc manh mún đất canh tác, địa hình đồi núi dốc và chuỗi liên kết tiêu thụ sản phẩm nông lâm nghiệp chưa đồng bộ.

So sánh với các nghiên cứu thực hiện tại tỉnh Lào Cai và Tuyên Quang, Na Rì có tỷ lệ che phủ rừng lớn với 66.949,96 ha đất lâm nghiệp (chiếm 78,49% diện tích tự nhiên) và sản lượng dong riềng hàng năm vượt 18.000 tấn, nhưng giá trị gia tăng thu về của người dân còn rất hạn chế. Nguyên nhân chủ yếu do chế biến thô chiếm tỷ trọng cao, thiếu cơ sở tinh chế hiện đại và hệ thống hạ tầng giao thông kết nối các xã vùng 3 còn trắc trở. Mặt khác, tâm lý ỷ lại vào chính sách trợ cấp xã hội và thiếu kỹ năng lập kế hoạch tài chính hộ gia đình vẫn là rào cản lớn đối với mục tiêu thoát nghèo bền vững.

Đề xuất và khuyến nghị

Nhằm thực hiện mục tiêu giảm tỷ lệ hộ nghèo từ 3,5% đến 4,0% mỗi năm trong giai đoạn 2020 - 2025 tại huyện Na Rì, 4 nhóm giải pháp đột phá được đề xuất:

Thứ nhất, tái cơ cấu sản xuất nông lâm nghiệp gắn với chuỗi giá trị hàng hóa. Ủy ban nhân dân huyện Na Rì cùng Phòng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn cần tập trung quy hoạch vùng nguyên liệu dong riềng đạt trên 18.000 tấn/năm kết hợp chế biến miến dong chất lượng cao. Đẩy mạnh giao khoán và quản lý hiệu quả 66.949,96 ha đất lâm nghiệp, khuyến khích các mô hình trồng rừng kinh tế gỗ lớn gắn với công nghiệp chế biến gỗ tại các xã Côn Minh, Cư Lễ và Hảo Nghĩa nhằm nâng cao thu nhập bình quân đầu người lên trên 1,5 triệu đồng/tháng.

Thứ hai, hoàn thiện cơ sở hạ tầng giao thông và thủy lợi phục vụ sản xuất. Ban Quản lý dự án đầu tư xây dựng huyện cần ưu tiên nguồn vốn từ Chương trình Mục tiêu Quốc gia để kiên cố hóa 100% đường liên thôn tại các xã khó khăn như Văn Học, nâng cấp hệ thống kênh mương thủy lợi xã Lương Thượng và khai thác hiệu quả nguồn nước từ Hồ Cốc Thông, Hồ Khuổi Khe trước năm 2025.

Thứ ba, đổi mới công tác đào tạo nghề và chuyển giao khoa học kỹ thuật. Trung tâm Giáo dục nghề nghiệp - Giáo dục thường xuyên huyện chủ trì tổ chức các lớp tập huấn kỹ thuật canh tác ngô lai, chăn nuôi gia súc theo phương pháp an toàn sinh học cho ít nhất 80% lao động thuộc diện hộ nghèo, hộ cận nghèo tại 21 xã và thị trấn.

Thứ tư, tối ưu hóa chính sách tín dụng ưu đãi và mở rộng dịch vụ an sinh xã hội. Ngân hàng Chính sách Xã hội huyện Na Rì phối hợp với các đoàn thể địa phương tăng cường giải ngân vốn vay ưu đãi với lãi suất hỗ trợ, đồng thời duy trì tỷ lệ bao phủ bảo hiểm y tế đạt trên 98% cho đồng bào dân tộc thiểu số, đảm bảo 100% hộ dân được tiếp cận dịch vụ thông tin truyền thông cơ bản.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nội dung và khung phân tích thực chứng của luận văn mang lại giá trị thực tiễn cho 4 nhóm đối tượng:

  1. Cơ quan quản lý Nhà nước và cán bộ hoạch định chính sách: Lãnh đạo Ủy ban nhân dân các cấp, cán bộ Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội, Phòng Dân tộc huyện Na Rì có thể sử dụng kết quả khảo sát 120 hộ làm căn cứ điều chỉnh các chỉ tiêu giảm nghèo trong kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm.
  2. Giảng viên, học viên cao học và nghiên cứu sinh: Các nhà nghiên cứu thuộc chuyên ngành Phát triển Nông thôn, Kinh tế Nông nghiệp có nguồn tư liệu tham khảo chuẩn xác về phương pháp ứng dụng công thức Slovin và mô hình phân tích nghèo đa chiều cấp huyện.
  3. Ban quản lý các chương trình, dự án phát triển và tổ chức phi chính phủ: Các tổ chức phát triển cộng đồng có thể dựa trên dữ liệu phân tầng kinh tế 3 vùng của Na Rì để thiết kế các dự án viện trợ sinh kế, cấp nước sinh hoạt và hỗ trợ kỹ thuật có địa chỉ cụ thể.
  4. Cán bộ khuyến nông và ban quản trị hợp tác xã địa phương: Đội ngũ kỹ thuật viên cơ sở có thể khai thác các giải pháp phát triển chuỗi giá trị cây dong riềng và quản trị rừng kinh tế để nhân rộng mô hình sản xuất hiệu quả cho xã viên.

Câu hỏi thường gặp

Chuẩn nghèo tiếp cận đa chiều giai đoạn 2016 - 2020 được xác định dựa trên những tiêu chí cốt lõi nào?
Theo Quyết định số 59/2015/QĐ-TTg, chuẩn nghèo khu vực nông thôn được xác định khi hộ gia đình có thu nhập bình quân đầu người từ 700.000 đồng/tháng trở xuống, hoặc trên 700.000 đồng đến 1.000.000 đồng/tháng kết hợp thiếu hụt từ 3 chỉ số đo lường mức độ tiếp cận 5 dịch vụ xã hội cơ bản.

Vì sao tỷ lệ hộ nghèo của dân tộc Mông và dân tộc Dao tại huyện Na Rì lại ở mức rất cao?
Năm 2018, tỷ lệ hộ nghèo của người Mông là 72,88% và người Dao là 58,55%. Nguyên nhân chủ yếu do đồng bào sinh sống tập trung tại các vùng núi cao hiểm trở, đất canh tác bạc màu, trình độ học vấn thấp và rào cản về ngôn ngữ trong việc tiếp cận tiến bộ kỹ thuật.

Phương pháp xác định quy mô mẫu 120 hộ điều tra trong nghiên cứu được tiến hành ra sao?
Từ tổng thể 2.756 hộ nghèo dân tộc thiểu số, tác giả áp dụng công thức Slovin với mức sai số e = 0,09 để tính ra cỡ mẫu 118 hộ và mở rộng thành 120 hộ. Mẫu được chia đều cho 3 xã đại diện (mỗi xã 40 hộ) gồm Quang Phong, Cư Lễ và Văn Học.

Tiềm năng kinh tế mũi nhọn nào của Na Rì đóng vai trò quyết định trong công tác giảm nghèo?
Na Rì sở hữu 66.949,96 ha đất lâm nghiệp và vùng chuyên canh cây dong riềng đạt sản lượng trên 18.000 tấn/năm. Nghề sản xuất và chế biến miến dong cùng kinh tế rừng bền vững là hai động lực kinh tế chủ đạo giúp hàng trăm hộ dân địa phương thoát nghèo.

Nguyên nhân trọng yếu nào dẫn đến nguy cơ tái nghèo cao tại các xã vùng 3 của huyện Na Rì?
Hơn 94,40% hộ nghèo tại Na Rì thuộc nhóm thiếu hụt thu nhập. Sinh kế phụ thuộc lớn vào thời tiết, thiếu vốn tích lũy, cơ sở hạ tầng giao thông khó khăn tại các xã như Văn Học khiến năng lực chống chịu rủi ro thiên tai và biến động giá cả nông sản của người dân rất yếu.

Kết luận

  • Luận văn đã đánh giá toàn diện bức tranh giảm nghèo huyện Na Rì giai đoạn 2015 - 2018, làm nổi bật kết quả kéo giảm tỷ lệ hộ nghèo từ 40,89% xuống 28,39%.
  • Nghiên cứu chỉ ra nghịch lý giảm nghèo khi có tới 94,40% hộ nghèo thuộc nhóm thiếu hụt thu nhập và hơn 95% hộ nghèo tập trung vào đồng bào dân tộc thiểu số, đặc biệt là dân tộc Mông (72,88%) và Dao (58,55%).
  • Cơ sở dữ liệu sơ cấp từ 120 hộ khảo sát tại 3 tiểu vùng đại diện cung cấp bức tranh thực chứng sâu sắc về mối liên hệ giữa sinh kế, trình độ dân trí và nghèo đa chiều.
  • Hệ thống 4 nhóm giải pháp đồng bộ giai đoạn 2020 - 2025 mở ra lộ trình thực tiễn nhằm phát huy thế mạnh 66.949,96 ha đất lâm nghiệp và thương hiệu miến dong Na Rì.
  • Các nhà quản lý, nhà nghiên cứu và cơ quan phát triển nông thôn hãy tham khảo toàn văn công trình nghiên cứu để áp dụng hiệu quả mô hình giảm nghèo đa chiều vào thực tiễn địa phương.