Tổng quan nghiên cứu

Khu bảo tồn biển Phú Quốc là một trong 12 khu bảo tồn biển trọng điểm của Việt Nam, giữ vị trí vùng lõi đặc biệt quan trọng trong Khu Dự trữ sinh quyển thế giới Kiên Giang. Với tổng diện tích vùng biển được bảo tồn trải rộng qua hai phân khu chính là khu vực phía Đông Bắc đảo và phía Nam quần đảo An Thới, nơi đây sở hữu nguồn tài nguyên sinh vật biển phong phú cùng hệ sinh thái rạn san hô và thảm cỏ biển có độ đa dạng sinh học hàng đầu cả nước. Trong giai đoạn 2010 – 2015, ngành du lịch địa phương ghi nhận tốc độ tăng trưởng khách bình quân trên 20% mỗi năm, mở ra cơ hội kinh tế to lớn cho toàn bộ huyện đảo Phú Quốc.

Tuy nhiên, sự bùng nổ du lịch kết hợp với các hoạt động kinh tế truyền thống đã tạo ra áp lực nặng nề lên môi trường tự nhiên. Hiện nay, hơn 75% dân cư tại vùng đệm vẫn sống phụ thuộc vào đánh bắt thủy hải sản ven bờ và sản xuất nông nghiệp, gây suy giảm nghiêm trọng trữ lượng hải sản và diện tích rạn san hô. Mô hình du lịch cộng đồng tại đây vẫn mang tính tự phát, chưa có sự liên kết chặt chẽ và thiếu cơ chế chia sẻ lợi ích công bằng giữa các bên liên quan.

Mục tiêu nghiên cứu tập trung hệ thống hóa cơ sở lý luận về du lịch cộng đồng, đánh giá toàn diện thực trạng phát triển tại Khu bảo tồn biển Phú Quốc và đề xuất hệ thống giải pháp phát triển bền vững giai đoạn 2017 – 2025. Phạm vi nghiên cứu sử dụng dữ liệu thứ cấp từ năm 2010 đến 2015 cùng dữ liệu sơ cấp điều tra thực địa từ tháng 02/2017 đến tháng 07/2017. Nghiên cứu mang ý nghĩa thực tiễn sâu sắc, cung cấp luận cứ khoa học nhằm nâng tỷ lệ tham gia dịch vụ du lịch của người dân địa phương lên trên 40%, đồng thời hướng tới mục tiêu giảm thiểu từ 30% đến 50% các tác động tiêu cực đến hệ sinh thái biển đảo.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu được xây dựng trên nền tảng lý thuyết du lịch dựa vào cộng đồng và mô hình sinh kế bền vững trong các khu bảo tồn thiên nhiên. Theo các nghiên cứu chuyên ngành của Nicole Hausle, Wolfgang Strasdas và Phạm Trung Lương, du lịch cộng đồng là loại hình du lịch mang lại trải nghiệm bản sắc văn hóa địa phương, trong đó người dân bản địa trực tiếp tham gia quản lý, chia sẻ công bằng lợi ích kinh tế và có trách nhiệm bảo tồn tài nguyên môi trường. Nghiên cứu phân định rõ 3 cấp độ tham gia của cộng đồng: cấp độ thụ động (cộng đồng chỉ đóng vai trò là đối tượng tham quan), cấp độ tham gia từng phần (cung cấp dịch vụ ăn uống, hàng lưu niệm) và cấp độ chủ động (cộng đồng làm chủ thể tổ chức, điều hành và hưởng lợi chính).

Các khái niệm then chốt được vận dụng gồm: Du lịch cộng đồng, Khu bảo tồn biển, Hệ sinh thái rạn san hô và thảm cỏ biển, Sinh kế bền vững, và Cơ chế đồng quản lý. Bên cạnh đó, nghiên cứu tích hợp mô hình khung DPSIR (Động lực - Áp lực - Hiện trạng - Tác động - Phản hồi) để mô hình hóa mối quan hệ tương tác phức tạp giữa tăng trưởng kinh tế xã hội và hiện trạng suy thoái môi trường biển đảo.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu kết hợp phương pháp nghiên cứu định tính và định lượng nhằm đảm bảo tính chuẩn xác và độ tin cậy của dữ liệu:

  • Nguồn dữ liệu thứ cấp: Thu thập các báo cáo kinh tế xã hội, quy hoạch phát triển du lịch, và báo cáo nguồn vốn ngân sách cấp cho hoạt động bảo tồn biển giai đoạn 2006 – 2015 từ Sở Du lịch Kiên Giang, Chi cục Khai thác và Bảo vệ Nguồn lợi Thủy sản cùng Ban quản lý Khu bảo tồn biển Phú Quốc.
  • Nguồn dữ liệu sơ cấp: Thu thập thông qua điều tra bảng hỏi cấu trúc kết hợp khảo sát thực địa từ tháng 02/2017 đến tháng 07/2017. Cỡ mẫu nghiên cứu gồm 250 đối tượng khảo sát, phân bổ cụ thể: 100 hộ dân sinh sống tại các làng chài ven biển (Hàm Ninh, Bãi Thơm, Gành Dầu, An Thới), 120 du khách trong nước và quốc tế trực tiếp trải nghiệm tour biển đảo, cùng 30 doanh nghiệp lữ hành và cơ sở kinh doanh dịch vụ du lịch.
  • Phương pháp chọn mẫu: Sử dụng phương pháp chọn mẫu phân tầng kết hợp ngẫu nhiên thuận tiện. Việc lựa chọn phương pháp này giúp phản ánh đầy đủ góc nhìn đa chiều từ các chủ thể then chốt trong chuỗi giá trị du lịch.
  • Phương pháp phân tích dữ liệu: Dữ liệu sơ cấp được mã hóa và xử lý trên phần mềm Microsoft Excel bằng phương pháp thống kê mô tả, phân tích tần số và tỷ lệ phần trăm. Lý do lựa chọn phương pháp phân tích này là nhằm làm rõ các biến số về thu nhập, mức độ hài lòng của du khách và sự sẵn sàng tham gia chuyển đổi sinh kế của cộng đồng.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Khảo sát thực tế giai đoạn 2010 – 2015 và các kết quả điều tra sơ cấp năm 2017 đã chỉ ra 4 phát hiện cốt lõi về thực trạng du lịch cộng đồng tại Khu bảo tồn biển Phú Quốc:

Thứ nhất, mức độ tham gia vào chuỗi giá trị du lịch của cộng đồng còn rất thấp. Khoảng 78% hộ gia đình được khảo sát vẫn duy trì sinh kế truyền thống bằng nghề đánh bắt hải sản ven bờ và làm vườn, chỉ có 22% hộ dân tham gia cung cấp các dịch vụ du lịch đơn lẻ như chạy tàu thuyền chở khách, kinh doanh quán ăn nhỏ hoặc bán đồ lưu niệm. Mức thu nhập bổ sung từ du lịch của hơn 60% hộ dân tham gia dịch vụ chỉ đạt dưới 3.000.000 VNĐ/tháng, cho thấy lợi ích kinh tế chưa thực sự trở thành động lực chuyển đổi sinh kế bền vững.

Thứ hai, hệ sinh thái biển đảo bị suy giảm nghiêm trọng dưới tác động kép của đánh bắt tận diệt và du lịch tự phát. Dữ liệu giám sát cho thấy độ phủ của rạn san hô sống tại khu vực Nam An Thới suy giảm từ 15% đến 25% trong vòng 10 năm qua. Hơn 85% diện tích thảm cỏ biển tại vùng Đông Bắc đảo chịu áp lực lớn từ rác thải sinh hoạt, bùn lắng do nạo vét và thức ăn dư thừa từ các bè nuôi trồng thủy sản. Các loài sinh vật nguy cấp như Bò biển (Dugong) và Rùa biển bị mất môi trường kiếm ăn và bãi đẻ tự nhiên.

Thứ ba, sự phân bổ lợi nhuận du lịch thiếu cân bằng. Hơn 80% doanh thu từ các hoạt động tham quan, lặn ngắm san hô tập trung vào các công ty lữ hành bên ngoài địa phương. Người dân bản địa chỉ nhận được tỷ lệ thù lao dịch vụ khiêm tốn mà phải gánh chịu toàn bộ chi phí ngoại ứng về ô nhiễm môi trường và chi phí sinh hoạt gia tăng. Tỷ lệ trích đóng góp từ doanh thu du lịch để tái đầu tư vào Quỹ bảo tồn biển địa phương hiện xấp xỉ bằng 0%.

Thứ tư, chất lượng dịch vụ du lịch cộng đồng chưa đáp ứng yêu cầu của thị trường. Khoảng 68% du khách tham gia khảo sát thể hiện sự ưa chuộng đối với loại hình du lịch trải nghiệm văn hóa làng chài, nhưng có tới 64% du khách chưa hài lòng về điều kiện vệ sinh môi trường, tiện nghi lưu trú và kỹ năng giao tiếp, ngoại ngữ của các hướng dẫn viên địa phương.

Thảo luận kết quả

Thực trạng suy giảm tài nguyên và bất cập trong quản lý sinh kế tại Phú Quốc phản ánh sự thiếu vắng cơ chế quản lý đa phương và chính sách hỗ trợ phát triển chuỗi giá trị du lịch. Khi so sánh với kinh nghiệm quốc tế, mô hình quy hoạch 16 phân vùng du lịch tại đảo Bali (Indonesia) đã thành công nhờ kết hợp hài hòa giữa bảo tồn đa dạng sinh học và phát huy văn hóa bản địa. Tại Malaysia, chương trình Homestay quốc gia triển khai tại 13 bang với 230 ngôi làng đã mang lại hơn 16 triệu USD doanh thu nhờ sự tài trợ trực tiếp 5.000 RM cho mỗi hộ dân cải tạo công trình phụ và khóa đào tạo 7 ngày bắt buộc.

Tại Việt Nam, các mô hình du lịch cộng đồng tại Sa Pa (bản Sín Chải giảm tỷ lệ nghèo từ 68% xuống 26%), Vườn quốc gia Ba Bể (thu hút hơn 8.500 khách quốc tế lưu trú mỗi năm) hay dự án bảo tồn biển Hòn Mun (Khánh Hòa) đều chứng minh vai trò quyết định của việc chia sẻ lợi ích công bằng và trao quyền tự chủ cho người dân.

Các dữ liệu nghiên cứu này có thể được trực quan hóa thông qua Biểu đồ hình quạt thể hiện cơ cấu sinh kế của cư dân vùng đệm, Biểu đồ cột biểu diễn mức độ hài lòng của du khách theo thang đo Likert 5 điểm, và Sơ đồ ma trận DPSIR minh họa chuỗi tác động nhân quả giữa áp lực phát triển kinh tế xã hội và sự biến động của hệ sinh thái biển.

Đề xuất và khuyến nghị

Nhằm phát triển du lịch cộng đồng bền vững tại Khu bảo tồn biển Phú Quốc, nghiên cứu đề xuất 4 nhóm giải pháp chiến lược:

  • Quy hoạch và đầu tư kết cấu hạ tầng du lịch có trách nhiệm: Nâng cấp đồng bộ 100% hệ thống cầu cảng, bến đỗ tàu du lịch tại các làng chài Hàm Ninh, Gành Dầu và Bãi Thơm; lắp đặt hệ thống 20 phao neo sinh thái chuyên dụng tại các điểm lặn ngắm san hô Nam An Thới nhằm xóa bỏ hoàn toàn tình trạng tàu thả neo phá hủy rạn san hô. Timeline thực hiện: 2018 – 2020. Chủ thể thực hiện: Ban quản lý Khu bảo tồn biển Phú Quốc phối hợp Sở Giao thông Vận tải Kiên Giang.
  • Nâng cao nhận thức và đào tạo phát triển nguồn nhân lực bản địa: Tổ chức định kỳ 15 khóa đào tạo nghiệp vụ lưu trú homestay, kỹ năng cứu hộ đuối nước, nấu ăn và ngoại ngữ cơ bản cho 600 lao động địa phương. Target metric: Phấn đấu 50% lao động tham gia du lịch đạt chứng chỉ sơ cấp nghề. Timeline thực hiện: 2018 – 2022. Chủ thể thực hiện: Sở Du lịch tỉnh Kiên Giang phối hợp cùng các tổ chức phi chính phủ (WWF, IUCN).
  • Xây dựng cơ chế chia sẻ lợi ích công bằng và thành lập Quỹ phát triển du lịch cộng đồng: Ban hành quy chế liên kết bắt buộc giữa các công ty lữ hành và tổ hợp tác du lịch cộng đồng địa phương; trích nộp từ 5% đến 8% giá vé tour tham quan biển đảo vào Quỹ bảo tồn và phát triển sinh kế cộng đồng để tái đầu tư hạ tầng dân sinh. Timeline thực hiện: 2019 – 2021. Chủ thể thực hiện: Ủy ban nhân dân huyện Phú Quốc và Hiệp hội Du lịch Kiên Giang.
  • Kiểm soát ô nhiễm môi trường và phục hồi hệ sinh thái biển: Xây dựng 4 trạm xử lý nước thải tập trung quy mô nhỏ tại các điểm du lịch ven biển; khoanh vùng bảo vệ nghiêm ngặt 100% bãi đẻ của rùa biển và vùng phân bố thảm cỏ biển của Bò biển, hướng tới mục tiêu phục hồi 30% diện tích thảm san hô bị tổn thương. Timeline thực hiện: 2018 – 2025. Chủ thể thực hiện: Chi cục Khai thác và Bảo vệ Nguồn lợi Thủy sản Kiên Giang cùng cộng đồng ngư dân tham gia đồng quản lý.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

  • Cơ quan quản lý nhà nước và Ban quản lý Khu bảo tồn biển: Nắm bắt phương pháp luận đánh giá tác động DPSIR và khung cơ chế đồng quản lý tài nguyên, từ đó xây dựng các quy hoạch phân vùng chức năng và chính sách hỗ trợ phát triển sinh kế ven biển hiệu quả.
  • Doanh nghiệp lữ hành và các đơn vị kinh doanh du lịch: Sử dụng các số liệu khảo sát về thị hiếu và mức độ hài lòng của du khách để thiết kế các sản phẩm tour du lịch sinh thái cộng đồng khác biệt, đồng thời thiết lập chuỗi liên kết cung ứng bền vững với các hộ dân bản địa.
  • Giảng viên, nhà nghiên cứu và học viên chuyên ngành Du lịch, Môi trường: Sử dụng luận văn như một công trình tham khảo học thuật điển hình về quản trị du lịch biển đảo, phương pháp xử lý dữ liệu điều tra xã hội học và giải pháp phát triển sinh kế dựa vào tài nguyên thiên nhiên.
  • Cộng đồng cư dân ven biển và các tổ chức phi chính phủ (NGOs): Tiếp cận các mô hình sinh kế du lịch thực tiễn (homestay, ẩm thực làng chài, thuyền nan ngắm cảnh), nâng cao năng lực tự quản và xây dựng các dự án tài trợ vốn vi mô xóa đói giảm nghèo gắn với bảo vệ môi trường sinh thái.

Câu hỏi thường gặp

Du lịch cộng đồng mang lại lợi ích cụ thể nào cho cư dân vùng đệm Khu bảo tồn biển Phú Quốc?

Phát triển du lịch cộng đồng giúp người dân chuyển đổi từ khai thác tận diệt sang cung cấp dịch vụ du lịch xanh, nâng mức thu nhập trung bình của các hộ tham gia thêm từ 3.000.000 đến 6.000.000 VNĐ mỗi tháng, giảm hơn 40% sự lệ thuộc vào nguồn lợi thủy sản tự nhiên đang ngày càng cạn kiệt.

Tại sao cần áp dụng mô hình DPSIR trong việc hoạch định giải pháp du lịch tại Phú Quốc?

Mô hình DPSIR giúp bóc tách toàn diện chuỗi liên hoàn từ động lực phát triển kinh tế (D), áp lực xả thải và khai thác (P), hiện trạng suy thoái rạn san hô (S), tác động tiêu cực đến sinh thái và xã hội (I) để đưa ra các giải pháp phản hồi chính sách (R) đồng bộ và chính xác nhất.

Kinh nghiệm phát triển Homestay của Malaysia có thể ứng dụng vào Phú Quốc như thế nào?

Phú Quốc có thể áp dụng cơ chế hiệp hội Homestay của Malaysia thông qua việc cấp phép chuẩn hóa điều kiện vệ sinh phòng nghỉ, cung cấp các gói vay hỗ trợ cải tạo nhà ở khoảng 20 – 30 triệu VNĐ/hộ và tổ chức khóa huấn luyện bắt buộc 7 ngày về nghiệp vụ tiếp đón khách quốc tế.

Các loài sinh vật nguy cấp như Bò biển và Rùa biển tại KBTB Phú Quốc đang đối mặt với những mối đe dọa nào?

Bò biển (Dugong) và Rùa biển bị đe dọa trực tiếp do mất nguồn thức ăn khi thảm cỏ biển bị ô nhiễm bùn lắng và rác thải, đồng thời thường xuyên đối mặt nguy cơ mắc vào lưới cào, lưới rê đánh bắt thủy sản hoặc va chạm với chân vịt của các tàu thuyền du lịch chạy tốc độ cao.

Làm thế nào để đảm bảo tính công bằng trong chia sẻ lợi ích giữa doanh nghiệp lữ hành và người dân địa phương?

Cần ban hành quy chế liên kết liên ngành, thành lập Quỹ phát triển du lịch cộng đồng trích lập tối thiểu 5% doanh thu trên mỗi lượt khách tham quan để trực tiếp chi trả cho dịch vụ bảo vệ môi trường của cộng đồng và nâng cấp hạ tầng công cộng tại địa phương.

Kết luận

  • Hệ thống hóa toàn diện cơ sở lý luận về du lịch cộng đồng và xác lập khung phân tích DPSIR ứng dụng trong môi trường khu bảo tồn biển đảo.
  • Đánh giá thực trạng phát triển du lịch cộng đồng tự phát tại Phú Quốc với 78% hộ dân chưa tham gia chuỗi dịch vụ và sự suy thoái nghiêm trọng của rạn san hô, thảm cỏ biển.
  • Đúc kết bài học kinh nghiệm quốc tế từ Bali (Indonesia), Malaysia và các mô hình trong nước như Sa Pa, Ba Bể để vận dụng sáng tạo vào điều kiện huyện đảo.
  • Đề xuất hệ thống 4 nhóm giải pháp đột phá về hạ tầng, đào tạo nhân lực, cơ chế chia sẻ lợi ích và phục hồi sinh thái biển với lộ trình 2018 – 2025.
  • Xác định lộ trình triển khai tiếp theo tập trung vào việc thí điểm tổ hợp tác du lịch cộng đồng tại làng chài Hàm Ninh và Bãi Thơm giai đoạn 2018 – 2020 trước khi nhân rộng trên toàn huyện đảo.

Công trình nghiên cứu đóng góp nền tảng học thuật và thực tiễn vững chắc cho công tác quản trị du lịch biển đảo. Các nhà quản lý, doanh nghiệp và cộng đồng khoa học được khuyến khích tiếp tục mở rộng các nghiên cứu chuyên sâu về sức tải sinh thái (carrying capacity) và ứng dụng công nghệ chuyển đổi số trong công tác quản lý du lịch cộng đồng bền vững tại Phú Quốc.