Chương 1 CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA CHÍNH SÁCH GIẢI QUYẾT VIỆC LÀM CHO THANH NIÊN 1.1 Cơ sở lý luận về chính sách giải quyết việc làm cho thanh niên 1.1 Một số khái niệm 1.1 Khái niệm việc làm Đứng trên các góc độ nghiên cứu khác nhau, người ta đã đưa ra rất nhiều định nghĩa nhằm sáng tỏ khái niệm việc làm. Và ở các quốc gia khác nhau, do ảnh hưởng của nhiều yếu tố như điều kiện kinh tế, chính trị, luật pháp… người ta quan niệm về việc làm cũng khác nhau. Chính vì thế, không có một định nghĩa chung và khái quát nhất về việc làm. Có thể hiểu, việc làm là một phạm trù tồn tại khách quan trong nền sản xuất xã hội, phụ thuộc vào các điều kiện hiện có của nền sản xuất.
Người lao động được coi là có việc làm khi chiếm giữ một vị trí nhất định trong hệ thống sản xuất của xã hội. Nhờ có việc làm mà người lao động mới thực hiện được quá trình lao động tạo ra sản phẩm cho xã hội, cho bản thân. Ở Việt Nam, khái niệm việc làm đã được quy định tại Điều 13 của Bộ luật lao động: “Mọi hoạt động lao động tạo ra nguồn thu nhập không bị pháp luật cấm đều được thừa nhận là việc làm”. [10] Khái niệm trên nói chung khá bao quát, nhưng chúng ta cũng thấy rõ hai hạn chế cơ bản.
Thứ nhất, hoạt động nội trợ không được coi là việc làm, trong khi đó hoạt động nội trợ tạo ra các lợi ích phi vật chất và gián tiếp tạo ra lợi ích vật chất không hề nhỏ.Thứ hai, khó có thể so sánh tỷ lệ người có việc làm giữa các quốc gia với nhau vì quan niệm về việc làm giữa các quốc gia có thể khác nhau, phụ thuộc vào luật pháp, phong tục tập quán. Có những nghề ở quốc gia này thì được cho phép và được coi là việc làm, nhưng ở quốc gia 9 khác, ví dụ đánh bạc ở Việt Nam bị cấm, nhưng ở Thái Lan và Mỹ lại được coi là một nghề. Thậm chí nghề này rất phát triển, vì nó thu hút khá đông tầng lớp thượng lưu.Trong thời kỳ hội nhập và toàn cầu hóa hiện nay, Tổ chức lao động quốc tế (ILO) còn khuyến cáo và đề cập tới việc làm nhân văn hay việc làm bền vững.2 Khái niệm giải quyết việc làm Theo khái niệm việc làm nêu ở phần trên, việc làm là phạm trù để chỉ trạng thái phù hợp giữa sức lao động và những điều kiện cần thiết (vốn, tư liệu sản xuất, công nghệ.) để sử dụng sức lao động đó. Rõ ràng tạo được việc làm cho người lao động hoặc tạo nhiều việc làm luôn gắn với quá trình phát triển kinh tế xã hội, phát huy sức mạnh tiềm năng của con người, phát huy trí tuệ người lao động để tạo ra nhiều của cải cho xã hội.
Chính vì vậy, Văn kiện Đại hội X của Đảng đã nêu rõ “Giải quyết việc làm là yếu tố quyết định để phát huy nhân tố con người, ổn định và phát triển kinh tế, làm lành mạnh xã hội, đáp ứng nguyện vọng chính đáng và yêu cầu bức xúc của nhân dân”. Vấn đề giải quyết việc làm cho người lao động là cần thiết, không những mang tầm quốc gia mà vượt ra bên ngoài khu vực và thế giới. Tuỳ thuộc vào các cách thức tiếp cận và mục đích nghiên cứu khác nhau mà người ta đưa ra khái niệm về giải quyết việc làm. Giải quyết việc làm là một quá trình tạo ra môi trường hình thành các chỗ làm việc và sắp xếp người lao động phù hợp với chỗ làm việc để có các việc làm chất lượng, đảm bảo nhu cầu của cả người lao động và người sử dụng lao động, đồng thời đáp ứng được mục tiêu phát triển đất nước.
Với khái niệm trên, việc giải quyết việc làm không chỉ có nhiệm vụ chức năng của Nhà nước mà còn là trách nhiệm của xã hội, của các cơ quan doanh nghiệp và ngay bản thân người lao động.3 Khái niệm chính sách giải quyết việc làm Nhà nước đóng vai trò và chịu trách nhiệm chính trong việc giải quyết việc làm thông qua các công cụ quản lý nhà nước. Một trong những công cụ quan trọng của Nhà nước để giải quyết các vấn đề của xã hội nói chung và giải quyết việc làm nói riêng đó là chính sách. Chính sách giải quyết việc làm có thể hiểu là những biện pháp của Nhà nước tác động tới xã hội nhằm giải quyết các vấn đề về việc làm như thất nghiệp, khuyến khích người lao động tự tạo việc làm, hỗ trợ tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước đầu tư phát triển sản xuất, kinh doanh để tạo việc làm cho người lao động. Hiện nay, các chính sách của Nhà nước luôn quan tâm chú trọng đến tạo công ăn việc làm cho người lao động thông qua các văn bản quy phạm pháp luật, các chương trình, chính sách hỗ trợ tới tận hộ gia đình, các cá nhân sẵn sàng làm việc.
Chính vì vậy, chính sách nhà nước là một trong những tác động quan trọng rất mạnh đến việc làm của người lao động như khuyến khích các doanh nghiệp mở rộng sản xuất như giảm thuế tiền sử dụng đất, thuê nhà xưởng, văn phòng, hỗ trợ về cơ sở hạ tầng điện đường, trường trạm nhằm phục vụ cho các công trình sản xuất. Chính sách chính sách nhà nước tác động toàn diện đến vấn đề giải quyết việc làm. Bên cạnh đó, các chương trình, chiến lược phát triển, các hoạt động cụ thể của các doanh nghiệp tác động trực tiếp đến giải quyết việc làm cho người lao động như đào tạo nguồn lao động, tuyển dụng, bố trí sắp xếp lao động phù hợp năng lực và yêu cầu.4 Khái niệm chính sách giải quyết việc làm cho thanh niên - Khái niệm thanh niên Thanh niên là một khái niệm có thể được hiểu và định nghĩa theo nhiều cách. Tùy thuộc vào nội dung tiếp cận, góc độ nhìn nhận hoặc cấp độ đánh giá mà người ta đưa ra các định nghĩa khác nhau về thanh niên.
Về mặt sinh học, các nhà nghiên cứu coi thanh niên là một giai đoạn 11 xác định trong quá trình “tiến hóa” của cơ thể. Các nhà tâm lý học thường nhìn nhận thanh niên là một giai đoạn chuyển tiếp từ tuổi thơ phụ thuộc sang hoạt động độc lập với tư cách là một công dân có trách nhiệm. Còn theo Luật thanh niên do Quốc Hội ban hành ngày 29/11/2005 qui định “Thanh niên quy định trong Luật này là công dân Việt Nam từ đủ mười sáu tuổi đến ba mươi tuổi”, góc tiếp cận xác định độ tuổi để xác định một người được gọi là thanh có quyền và nghĩa vụ sống và làm việc theo pháp luật của NN Việt Nam qui định - Khái niệm chính sách giải quyết việc làm cho thanh niên Chính sách giải quyết việc làm cho thanh niên là một bộ phận của chính sách giải quyết việc làm cho người lao động nói chung. Đặc biệt ở chỗ, đối tượng của các chính sách này là dành cho thanh niên.
Ở nước ta, căn cứ Luật Thanh Niên số 53/2005/QH11, thanh niên là những người trong độ tuổi từ đủ 16 tuổi đến 30 tuổi. Do đó, chính sách giải quyết việc làm cho thanh niên là các biện pháp của Nhà nước tác động tới xã hội nhằm giải quyết các vấn đề về việc làm cho thanh niên như khắc phục tình trạng thất nghiệp, khuyến khích, hỗ trợ thanh niên tự tạo việc làm, khuyến khích, hỗ trợ doanh nghiệp trong và ngoài nước phát triển việc làm và tiếp nhận đội ngũ thanh niên vào làm việc.2 Vai trò, sự cần thiết của thực hiện chính sách giải quyết việc làm cho thanh niên 1.1 Vai trò của thực hiện chính sách giải quyết việc làm cho thanh niên Lao động là một trong những quyền cơ bản của công dân được ghi nhận trong Hiến pháp. Công dân có sức lao động phải được làm việc để duy trì sự tồn tại của bản thân và góp phần xây dựng xã hội, thực hiện các nghĩa vụ của họ đối với những người xung quanh trong cộng đồng. Giải quyết việc làm, đảm bảo cho mọi người có khả năng lao động đều có cơ hội có việc làm 12 là vai trò, trách nhiệm của Nhà nước, của các doanh nghiệp và toàn xã hội.
Pháp luật lao động quy định trách nhiệm trực tiếp thuộc về Chính phủ và các cơ quan hành chính Nhà nước, trách nhiệm trước hết thuộc về Quốc hội và hệ thống các cơ quan quyền lực (Hội đồng nhân dân các cấp). Đối với Ủy ban nhân dân cấp tỉnh: Ủy ban nhân dân cấp tỉnh lập chương trình và quỹ giải quyết việc làm của địa phương trình Hội đồng nhân dân cùng cấp quyết định và tổ chức thực hiện quyết định đó, đồng thời có trách nhiệm báo cáo về Bộ Kế hoạch và Đầu tư và Bộ Tài chính. Từ những quy định trên, có thể thấy, ủy ban nhân dân cấp huyện nói chung và trong hoạt động của ủy ban nhân dân Quận có trách nhiệm thực hiện chỉ đạo của chính quyền cấp tỉnh về giải quyết việc làm, từ đó triển khai xuống cấp cơ sở (cấp xã).2 Sự cần thiết của thực hiện chính sách giải quyết việc làm cho thanh niên Sự ổn định, an toàn trật tự và phát triển kinh tế luôn là mục tiêu của quản lý nhà nước từ trung ương tới địa phương. Đặc biệt là một trong những trung tâm chính trị, văn hóa, kinh tế hàng đầu của cả nước như quận Ba Đình , thì những mục tiêu nêu trên càng được Đảng, Nhà nước và nhân dân ta kỳ vọng.
Do đó trách nhiệm của chính quyền địa phương trong thực hiện chính sách GQVL nhằm đáp ứng hai lý do chính như sau: - Một là, GQVL là nội dung quan trong góp phần ổn định trật tự, an toàn xã hội. Thật vậy, nhiều công trình khoa học đã chứng minh, những nơi tội phạm gia tăng, tình hình mất trật tự xã hội xảy ra thường là những nơi nghèo đói, tình trạng thất nghiệp tràn lan; hay nói theo cách dân gian ta ngày xưa là: “nhàn cư, vi bất thiện”. Bên cạnh đó, trách nhiệm của chính quyền địa phương là giữ vững an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội trên địa bàn, do vậy, GQVL cho thanh niên là góp phần quan trọng để đạt mục tiêu trật tự, an toàn xã hội. 13 - Hai là, GQVL là góp phần quan trọng trong phát triển kinh tế địa phương, đây vừa là trách nhiệm vừa là mong muốn của mọi nhà nước nói chung hay của chính quyền địa phương nói riêng.