Tổng quan nghiên cứu

Phường Trà Cổ thuộc thành phố Móng Cái, tỉnh Quảng Ninh sở hữu diện tích đất tự nhiên 1.301,07 ha, bờ biển trải dài 17 km cùng 7,5 km đường biên giới trên biển tiếp giáp trực tiếp với Trung Quốc. Với vị trí tiền tiêu trọng yếu tại cực Đông Bắc của Tổ quốc, địa phương này giữ vai trò chiến lược đặc biệt về an ninh quốc phòng, kinh tế mậu dịch và giao lưu văn hóa quốc tế. Vấn đề nghiên cứu trọng tâm của luận văn là làm sáng tỏ quá trình vận động, chuyển biến sâu sắc trong đời sống kinh tế và đời sống văn hóa của cộng đồng cư dân Trà Cổ trong vòng 20 năm, tính từ mốc lịch sử thành lập phường theo Nghị định 52/1998/NĐ-CP năm 1998 đến năm 2018.

Mục tiêu cụ thể của công trình là phục dựng bức tranh toàn cảnh về tiến trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế từ tự cung tự cấp sang mô hình đa ngành lấy du lịch - dịch vụ và ngư nghiệp làm mũi nhọn, đồng thời phân tích sự tiếp nối, biến đổi của các giá trị văn hóa vật chất lẫn tinh thần của cư dân bản địa. Về phạm vi không gian và thời gian, đề tài giới hạn tại địa bàn hành chính phường Trà Cổ trong giai đoạn 1998 - 2018, có sự đối sánh mở rộng với các vùng duyên hải lân cận. Nghiên cứu mang ý nghĩa thực tiễn to lớn khi cung cấp hệ thống luận cứ khoa học tin cậy, hỗ trợ chính quyền địa phương định hướng mục tiêu đưa kinh tế du lịch chiếm tỷ trọng trên 70% cơ cấu GDP, nâng mức thu nhập của 5.370 người dân địa phương và bảo tồn bền vững không gian văn hóa di sản miền biên viễn.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Luận văn vận dụng lý thuyết hình thái kinh tế - xã hội của chủ nghĩa duy vật lịch sử, nhấn mạnh mối quan hệ biện chứng giữa hạ tầng kinh tế và kiến trúc thượng tầng văn hóa. Cơ sở vật chất và phương thức mưu sinh vùng biển đóng vai trò nền tảng quyết định các thiết chế văn hóa, phong tục và tâm lý xã hội của cư dân. Bên cạnh đó, đề tài tích hợp lý thuyết sinh thái nhân văn văn hóa biển và lý thuyết chuyển đổi kinh tế vùng biên giới để phân tích khả năng thích ứng sinh kế của cộng đồng trước tác động của cơ chế thị trường và mở cửa hội nhập quốc tế.

Các khái niệm then chốt được chuẩn hóa bao gồm: đời sống kinh tế biển, văn hóa biển cận duyên, thiết chế văn hóa cơ sở, biến đổi văn hóa và sinh kế bền vững. Sự kết hợp giữa các góc nhìn lý thuyết này tạo nên khung phân tích đa chiều, làm rõ quy luật cộng cư và phương thức thích nghi độc đáo của người dân nơi đầu sóng ngọn gió.

Phương pháp nghiên cứu

Nguồn dữ liệu của luận văn được tổng hợp từ các văn kiện, nghị quyết của Đảng bộ phường Trà Cổ qua các nhiệm kỳ từ năm 1998 đến 2018, số liệu lưu trữ tại Chi cục Thống kê thành phố Móng Cái, hồ sơ di tích của Sở Văn hóa - Thể thao tỉnh Quảng Ninh và các tư liệu điền dã thực địa. Cỡ mẫu nghiên cứu thực tế bao gồm phiếu khảo sát tại 20 hộ kinh doanh du lịch dịch vụ, dữ liệu sản xuất của 613 hộ ngư nghiệp, cùng 15 cuộc phỏng vấn sâu với các nghệ nhân cao niên, ban quản lý di tích và cán bộ chủ chốt của địa phương vào tháng 2 năm 2019. Phương pháp chọn mẫu phân tầng kết hợp chọn mẫu thuận tiện được áp dụng để đảm bảo tính đại diện cho các nhóm sinh kế chính như đánh bắt, nuôi trồng, làm dịch vụ du lịch và thương mại bãi bồi.

Phương pháp lịch sử và phương pháp logic là hai trụ cột chính giúp tái hiện tiến trình biến đổi kinh tế - văn hóa theo đúng trục thời gian 1998 - 2018, từ đó khái quát nên những quy luật mang tính bản chất. Phương pháp điền dã dân tộc học với các kỹ thuật quan sát tham dự, phỏng vấn hồi cố giúp thu thập các nguồn tư liệu sống động về tập quán đánh bắt, lễ hội và tín ngưỡng mà số liệu thống kê thành văn chưa phản ánh đầy đủ. Phương pháp phân tích, tổng hợp và so sánh đối chiếu được sử dụng nhằm làm nổi bật nét tương đồng và dị biệt giữa văn hóa cư dân Trà Cổ với các cộng đồng ngư dân khác ở vùng duyên hải Bắc Bộ.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, ngành kinh tế ngư nghiệp có bước nhảy vọt toàn diện về sản lượng và quy mô phương tiện. Năm 1998, sản lượng đánh bắt thủy sản chỉ đạt 378 tấn với 62 hộ tham gia, phương tiện chủ yếu là bè tre thô sơ. Đến năm 2018, sản lượng khai thác đã đạt 3.251 tấn, tăng gấp hơn 8,6 lần, thu hút 613 hộ gia đình tham gia đánh bắt thường xuyên, chiếm 37% tổng số hộ của phường. Hoạt động nuôi trồng thủy sản từ diện tích ban đầu 24,25 ha năm 1998 đã mở rộng lên 46,71 ha vào năm 2018 với sản lượng thu hoạch 94 tấn.

Thứ hai, du lịch - dịch vụ chuyển dịch mạnh mẽ thành ngành kinh tế động lực. Năm 1998, lượng khách đến Trà Cổ chỉ đạt khiêm tốn 11.420 lượt người với doanh thu 742 triệu đồng. Nhờ các chương trình kích cầu và đầu tư kết cấu hạ tầng, lượng khách đã tăng lên 33.281 lượt năm 2000 và vượt 52.000 lượt vào năm 2004, đem lại doanh thu 1,825 tỷ đồng. Hệ thống cơ sở lưu trú tăng trưởng vượt bậc từ vài nhà trọ đơn sơ lên 44 khách sạn, nhà nghỉ với 544 phòng tiện nghi vào năm 2008.

Thứ ba, cơ cấu kinh tế chuyển đổi đã thúc đẩy phân hóa giàu nghèo theo hướng tích cực và nâng cao rõ rệt chất lượng sống. Tỷ lệ hộ nghèo từ mức trên 60% thời kỳ bao cấp đã giảm mạnh xuống dưới 20% vào cuối thập niên 1990 và tiếp tục giảm sâu dưới 3% trong giai đoạn 2015 - 2018. Cơ sở hạ tầng nông thôn - đô thị được nâng cấp mạnh mẽ, 100% đường liên khu được bê tông hóa và mạng lưới điện chiếu sáng, nước sạch phủ kín toàn bộ địa bàn.

Thứ tư, đời sống văn hóa thể hiện sự đan xen sâu sắc giữa yếu tố biển và cội nguồn nông nghiệp đồng bằng. Cư dân Trà Cổ luôn gìn giữ ý thức nguồn cội qua câu truyền ngôn người Trà Cổ - tổ Đồ Sơn. Không gian văn hóa tâm linh xoay quanh di tích lịch sử kiến trúc nghệ thuật đình Trà Cổ, chùa Vạn Linh Khánh và đền Thánh Mẫu được củng cố vững chắc, tạo nên sợi dây liên kết cộng đồng bền chặt nơi tuyến đầu biên giới.

Thảo luận kết quả

Nguyên nhân cốt lõi tạo nên sự chuyển biến vượt bậc này là sự lãnh đạo linh hoạt của Đảng bộ phường qua các nhiệm kỳ, việc tận dụng tối đa cơ chế thông thương biên giới Việt - Trung và nguồn vốn đầu tư hạ tầng gần 40 tỷ đồng trong giai đoạn 2001 - 2003 (tiêu biểu là nâng cấp Quốc lộ 18A trị giá 19 tỷ đồng và đường dạo ven biển 10 tỷ đồng). So với các nghiên cứu về các làng chài truyền thống ở Đồ Sơn hay Cát Bà, Trà Cổ sở hữu lợi thế kép khi vừa là trung tâm du lịch biển, vừa là cửa ngõ giao thương mậu dịch quốc tế.

Dữ liệu nghiên cứu về cơ cấu sử dụng đất gồm 30,3% đất nông nghiệp, 38,52% đất phi nông nghiệp và 31,18% đất chưa sử dụng, kết hợp cùng chuỗi số liệu tăng trưởng sản lượng khai thác từ 378 tấn năm 1998 lên 3.251 tấn năm 2018 có thể được trực quan hóa tối ưu thông qua biểu đồ đường kết hợp biểu đồ cột và biểu đồ tròn phân bổ không gian. Cách trình bày này giúp các nhà quản lý thấy rõ mối tương quan giữa sự thu hẹp quỹ đất nông nghiệp với tốc độ tăng trưởng phi mã của kinh tế biển và dịch vụ du lịch.

Đề xuất và khuyến nghị

Thứ nhất, hiện đại hóa đội tàu khai thác xa bờ và tổ chức lại nghiệp đoàn nghề cá. Ủy ban nhân dân thành phố Móng Cái và phường Trà Cổ cần triển khai chính sách hỗ trợ vốn vay ưu đãi để ngư dân nâng cấp công suất tàu thuyền trên 90CV, phấn đấu giảm tỷ trọng tàu thuyền công suất nhỏ đánh bắt ven bờ từ 65% hiện nay xuống dưới 30% vào năm 2025. Đồng thời, củng cố 100% các chi hội nghề cá nhằm liên kết 613 hộ ngư dân chia sẻ thông tin ngư trường và cứu hộ trên biển.

Thứ hai, đa dạng hóa sản phẩm du lịch biển cao cấp gắn với bảo tồn di sản văn hóa. Ban Quản lý Khu du lịch Trà Cổ phối hợp với Sở Du lịch Quảng Ninh xây dựng các tour trải nghiệm văn hóa tâm linh kết nối đình Trà Cổ, mũi Sa Vĩ với các tuyến du lịch đường biển quốc tế sang Trung Quốc, đặt mục tiêu thu hút 150.000 lượt khách mỗi năm vào giai đoạn 2025 - 2030, nâng doanh thu dịch vụ du lịch tăng trưởng bình quân 15% mỗi năm.

Thứ ba, bảo vệ nghiêm ngặt hệ sinh thái biển và phục hồi nguồn lợi thủy sản. Ban Hải sản phường cùng lực lượng Bộ đội Biên phòng tăng cường tuần tra, xử lý triệt để các hành vi dùng xung điện, lưới mắt nhỏ tận diệt; đồng thời khoanh vùng bảo vệ toàn bộ 216,63 ha rừng phòng hộ ven biển, bảo đảm giữ vững trữ lượng khai thác hải sản bền vững ở ngưỡng 1.000 tấn tự nhiên mỗi năm.

Thứ tư, nâng cao chất lượng thiết chế văn hóa cơ sở và số hóa di sản truyền thống. Phòng Văn hóa - Thông tin thành phố Móng Cái cần đầu tư hoàn thiện trang thiết bị cho 100% nhà văn hóa các khu phố, số hóa tư liệu lịch sử cách mạng và hồ sơ lễ hội đình Trà Cổ, phấn đấu duy trì tỷ lệ gia đình văn hóa đạt trên 95% và tỷ lệ khu phố văn hóa đạt 100% đến năm 2025.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nhóm 1: Cơ quan quản lý nhà nước và cấp ủy chính quyền địa phương. Lãnh đạo thành phố Móng Cái và tỉnh Quảng Ninh có thể sử dụng số liệu thực chứng 20 năm của luận văn làm căn cứ hoạch định chiến lược kinh tế biển, quy hoạch không gian bờ biển dài 17 km và xây dựng chính sách an sinh vùng biên mậu.

Nhóm 2: Các nhà nghiên cứu, giảng viên và học viên cao học chuyên ngành Lịch sử, Văn hóa học, Địa lý kinh tế. Công trình cung cấp nguồn sử liệu địa phương phong phú, phương pháp điền dã chuẩn mực và mô hình phân tích chuyển đổi sinh kế của 5.370 cư dân miền duyên hải.

Nhóm 3: Các doanh nghiệp lữ hành, nhà đầu tư dịch vụ du lịch nghỉ dưỡng. Luận văn cung cấp bức tranh chi tiết về thị hiếu du khách, tiềm năng 44 cơ sở lưu trú và hệ sinh thái tài nguyên biển để thiết kế các sản phẩm du lịch sinh thái, du lịch biên giới đặc sắc.

Nhóm 4: Giáo viên và sinh viên ngành Sư phạm Lịch sử, Địa lý. Đề tài là tài liệu tham khảo giá trị phục vụ biên soạn giáo trình giáo dục địa phương tỉnh Quảng Ninh, bồi đắp tình yêu quê hương và ý thức bảo vệ 7,5 km đường biên giới biển cho thế hệ trẻ.

Câu hỏi thường gặp

Yếu tố nào đóng vai trò đòn bẩy quyết định sự chuyển biến kinh tế Trà Cổ giai đoạn 1998 - 2018? Sự kiện thành lập phường năm 1998 gắn liền với chiến lược đầu tư đồng bộ gần 40 tỷ đồng nâng cấp hạ tầng giai đoạn 2001 - 2003 là cú hích then chốt. Việc định hướng du lịch - dịch vụ và ngư nghiệp làm trụ cột đã giải phóng sức sản xuất của người dân.

Nguồn gốc dân cư tạo nên nét đặc thù văn hóa gì cho Trà Cổ? Cư dân Trà Cổ có nguồn gốc từ 12 gia đình đánh cá Đồ Sơn đến khai hoang lập làng từ thế kỷ XV. Điều này tạo nên nét văn hóa độc đáo khi các thực hành tín ngưỡng thờ 6 vị Thành hoàng và hội thi Ông Voi mang đậm chất nông nghiệp đồng bằng nhưng hòa quyện trong không gian sinh tồn miền biển cả.

Sản lượng khai thác thủy sản của địa phương tăng trưởng ra sao trong 20 năm? Ngành khai thác đạt mức tăng trưởng kỷ lục từ 378 tấn năm 1998 lên 3.251 tấn năm 2018, tương đương mức tăng hơn 8,6 lần. Số hộ ngư dân theo nghề tăng từ 62 lên 613 hộ, khẳng định vai trò nguồn thu nhập chủ đạo của kinh tế biển.

Trà Cổ đang đối mặt với những thách thức môi trường và sinh kế nào? Địa phương đang chịu áp lực lớn từ việc 65% phương tiện đánh bắt có quy mô nhỏ hoạt động ven bờ làm suy giảm nguồn lợi thủy sản, nguy cơ ô nhiễm môi trường từ nước thải du lịch và tác động của biến đổi khí hậu gây xâm nhập mặn nguồn nước ngọt.

Luận văn đóng góp gì cho nhiệm vụ bảo vệ an ninh chủ quyền quốc gia? Nghiên cứu khẳng định mỗi ngư dân Trà Cổ bám biển là một cột mốc sống khẳng định chủ quyền trên 7,5 km biên giới biển. Việc phát triển đời sống kinh tế và củng cố khối đoàn kết toàn dân tạo nên thế trận an ninh nhân dân vững chắc tại địa bàn xung yếu Đông Bắc.

Kết luận

  • Tái hiện toàn diện, chân thực diễn trình 20 năm phát triển kinh tế - văn hóa của phường Trà Cổ từ năm 1998 đến năm 2018.
  • Khẳng định tính đúng đắn của chiến lược chuyển dịch cơ cấu kinh tế lấy du lịch - dịch vụ và khai thác thủy sản làm mũi nhọn, đưa sản lượng đạt 3.251 tấn năm 2018.
  • Làm sâu sắc thêm các giá trị văn hóa vật chất, văn hóa tinh thần và ý thức cội nguồn người Trà Cổ - tổ Đồ Sơn của 5.370 cư dân miền biển.
  • Đề xuất 4 nhóm giải pháp mang tính khả thi cao nhằm giải quyết hài hòa giữa tăng trưởng kinh tế biển với bảo tồn tài nguyên và chủ quyền 7,5 km biên giới biển.
  • Đóng góp hệ thống tư liệu lịch sử, kinh tế, xã hội chuẩn xác, phục vụ công tác giảng dạy lịch sử địa phương và hoạch định chính sách giai đoạn 2020 - 2030.

Công trình là nguồn tài liệu khoa học quý báu, các nhà quản lý, nhà nghiên cứu và bạn đọc quan tâm có thể khai thác sâu toàn văn luận văn để ứng dụng vào công tác bảo tồn di sản và phát triển kinh tế biển đảo bền vững.