Luận văn thạc sĩ đời sống kinh tế văn hóa của cư dân phường trà cổ thành phố móng cái tỉnh quảng ninh 19982018

Luận văn thạc sĩ kinh tế nghiên cứu đời sống kinh tế văn hóa của cư dân phường trà cổ thành phố móng cái tỉnh quảng ninh 19982018, khảo sát thực trạng, phân tích nguyên nhân, đề

Trường đại học

Đại học Thái Nguyên

Chuyên ngành

Lịch sử Việt Nam

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận văn thạc sĩ

2019

121
1
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Đời sống kinh tế

Luận văn tập trung phân tích đời sống kinh tế của cư dân phường Trà Cổ từ năm 1998 đến 2018. Trong giai đoạn này, kinh tế địa phương chuyển từ nền tảng ngư nghiệp truyền thống sang đa dạng hóa với sự phát triển mạnh mẽ của du lịch - dịch vụ. Ngư nghiệp vẫn là ngành kinh tế chủ lực, với hoạt động khai thác và nuôi trồng thủy hải sản. Tuy nhiên, du lịch đã trở thành ngành kinh tế mũi nhọn, thu hút lượng lớn khách du lịch trong và ngoài nước. Nông nghiệp cũng có sự chuyển biến, từ sản xuất tự cung tự cấp sang hướng thương mại hóa. Những thay đổi này phản ánh sự thích ứng của cư dân với xu thế phát triển kinh tế hiện đại.

1.1 Kinh tế ngư nghiệp

Ngư nghiệp là ngành kinh tế truyền thống của phường Trà Cổ. Luận văn chỉ ra rằng, từ năm 1998 đến 2018, hoạt động khai thác thủy hải sản đã có sự chuyển biến mạnh mẽ. Các ngư cụ được cải tiến, phương tiện đánh bắt hiện đại hơn, giúp tăng năng suất và sản lượng. Tuy nhiên, việc khai thác quá mức đã dẫn đến cạn kiệt nguồn lợi thủy sản. Nuôi trồng thủy sản cũng phát triển, đặc biệt là nuôi tôm, cá, mang lại nguồn thu nhập ổn định cho người dân.

1.2 Kinh tế du lịch dịch vụ

Du lịch trở thành ngành kinh tế mũi nhọn của phường Trà Cổ trong giai đoạn 1998-2018. Với vị trí địa lý thuận lợi, cảnh quan thiên nhiên đẹp, và di sản văn hóa phong phú, Trà Cổ thu hút lượng lớn khách du lịch. Các dịch vụ lưu trú, ăn uống, và giải trí phát triển mạnh, tạo việc làm và tăng thu nhập cho người dân. Tuy nhiên, sự phát triển nhanh chóng cũng đặt ra thách thức về bảo tồn môi trường và văn hóa truyền thống.

II. Văn hóa cư dân

Luận văn khảo sát sâu về văn hóa cư dân phường Trà Cổ, tập trung vào các phong tục, tập quán, tín ngưỡng, và lễ hội truyền thống. Trong giai đoạn 1998-2018, văn hóa địa phương có sự giao thoa giữa truyền thống và hiện đại. Các lễ hội như lễ hội đình Trà Cổ, lễ hội cá Ông vẫn được duy trì, phản ánh đời sống tâm linh phong phú của cư dân. Tuy nhiên, sự ảnh hưởng của văn hóa ngoại lai và quá trình đô thị hóa đã làm thay đổi một số nét văn hóa truyền thống.

2.1 Phong tục và tập quán

Các phong tục, tập quán của cư dân phường Trà Cổ được bảo tồn và phát huy trong giai đoạn 1998-2018. Những nghi lễ liên quan đến biển, như lễ cúng cá Ông, lễ xuất hành đầu năm, vẫn được tổ chức đều đặn. Tuy nhiên, sự thay đổi trong lối sống và sự ảnh hưởng của văn hóa hiện đại đã làm giảm sự tham gia của thế hệ trẻ vào các hoạt động truyền thống.

2.2 Tín ngưỡng và tôn giáo

Tín ngưỡng và tôn giáo là một phần không thể thiếu trong đời sống văn hóa của cư dân phường Trà Cổ. Các tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên, thờ Thành Hoàng làng, và thờ cá Ông được duy trì và phát triển. Các nghi lễ tôn giáo không chỉ thể hiện đời sống tâm linh mà còn gắn kết cộng đồng, tạo nên bản sắc văn hóa độc đáo của địa phương.

III. Phát triển đô thị và chính sách

Luận văn đề cập đến quá trình phát triển đô thị và các chính sách phát triển tại phường Trà Cổ trong giai đoạn 1998-2018. Sự phát triển kinh tế và du lịch đã thúc đẩy quá trình đô thị hóa, với việc xây dựng cơ sở hạ tầng hiện đại. Tuy nhiên, sự phát triển nhanh chóng cũng đặt ra thách thức về quản lý môi trường và bảo tồn di sản văn hóa. Các chính sách phát triển của chính quyền địa phương đã góp phần thúc đẩy kinh tế, nhưng cần có sự cân bằng giữa phát triển và bảo tồn.

3.1 Quá trình đô thị hóa

Quá trình đô thị hóa tại phường Trà Cổ diễn ra mạnh mẽ từ năm 1998 đến 2018. Các công trình cơ sở hạ tầng như đường xá, cầu cảng, và khu du lịch được xây dựng, tạo điều kiện thuận lợi cho phát triển kinh tế. Tuy nhiên, sự mở rộng đô thị cũng dẫn đến những tác động tiêu cực như ô nhiễm môi trường và thu hẹp không gian sinh hoạt truyền thống của người dân.

3.2 Chính sách phát triển

Các chính sách phát triển của chính quyền địa phương đã góp phần thúc đẩy kinh tế và văn hóa tại phường Trà Cổ. Chính sách khuyến khích đầu tư vào du lịch và ngư nghiệp đã mang lại hiệu quả tích cực. Tuy nhiên, cần có sự điều chỉnh để đảm bảo phát triển bền vững, bảo tồn di sản văn hóa và môi trường tự nhiên.

13/02/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 KHÁI QUÁT VỀ PHƯỜNG TRÀ CỔ THÀNH PHỐ MÓNG CÁI, TỈNH QUẢNG NINH 1. Vị trí địa lý và lịch sử hình thành Phường Trà Cổ là điểm cực Đông Bắc của Tổ quốc (mũi Gót hay mũi Sa Vĩ), là nơi đặt nét vẽ đầu tiên về đất liền trên bản đồ Việt Nam. Phía Bắc của phường Trà Cổ giáp phường Hải Hòa; phía Nam giáp biển Đông; phía Tây giáp phường Bình Ngọc; phía Đông giáp Cộng hòa nhân dân Trung Hoa, phân định biên giới Việt Nam - Trung Quốc bằng cột mốc 1377, 1378. Đây là một phường biên giới, có đường biên giới biển giáp với Trung Quốc dài 7,5km.

Vị trí của phường khoảng 21°25’ Bắc, 108°00’ Đông. Phường nằm về phía Đông Nam của thành phố Móng Cái, cách trung tâm thành phố 8km, cách Hà Nội 334km, từ Hạ Long ra Trà Cổ khoảng 132 km. Mặc dù có một phần không gian địa lý tự nhiên gắn với “đất liền” nhưng nhìn một cách tổng quan, Trà Cổ là một bán đảo mà bao quanh là bờ biển dài, được bồi tụ do sóng và dòng biển ven bờ tạo nên, có nước thủy triều lên xuống. Trước kia từ Móng Cái ra Trà Cổ phải vượt qua một đầm lầy như một eo biển nhỏ, tục gọi là sông Trà Cổ nên địa thế khu vực gần như một hải đảo.

Một con đê được đắp nối Trà Cổ vào đất liền và quãng đầm cũ ngăn cách Trà Cổ và Móng Cái đã bị lấp dần vào thế kỷ 20. Hình thế của Trà Cổ là một dải đất dài chạy theo hướng đông bắc - tây nam. Mặt đông nam nhìn ra Vịnh Bắc Bộ, hướng tây bắc trông vào đất liền. Góc đông bắc nhìn sang Trung Quốc là mũi Gót.

Góc tây nam là mũi Ngọc hướng về đảo Vĩnh Thực. Như vậy, Trà Cổ là một bán đảo nằm ở vị trí tiền tiêu, có vị trí chiến lược đặc biệt quan trọng trong phát triển kinh tế, văn hóa, đảm bảo an ninh quốc phòng. Về an ninh: Đây là một điểm chốt quan trọng, không thể đánh chiếm, thuận lợi trong việc kiểm soát diễn biến trên nhiều hướng: Trên biển khơi, trên các đảo và cả phần lục địa ven biển. Trà Cổ hợp thành một vòng cung thoải quay phần lõm về phía biển khơi đã hình thành nên một lá chắn lớn cho đất liền.

Đồng thời, do nằm ở vị trí cửa khẩu trên biển, kiểm soát một vùng biển rộng lớn nên vai trò của Trà Cổ càng được tăng cường. Nằm ở vị trí “cửa ngõ” trong giao lưu kinh tế với đất liền và với nhiều khu kinh tế lớn mạnh của Trung Quốc, Trà Cổ lại được bao bọc bởi một vùng biển rộng lớn, nằm ngay cạnh ngư trường lớn Đông Bắc với nguồn lợi hải sản phong phú. Chính những điều 12 kiện đó đã tạo điều kiện thuận lợi cho phát triển kinh tế biển đồng thời cũng là điều kiện cho phát triển các ngành kinh tế truyền thống như nông nghiệp, lâm nghiệp. Trà Cổ cũng có mối liên hệ mật thiết với các điểm, tuyến du lịch trong đất liền do có đặc điểm và chế độ hải văn thích hợp để phát triển nhiều loại hình du lịch biển.

Nằm trong khu vực rìa của Biển Đông, Trà Cổ có điều kiện thuận lợi trong giao lưu kinh tế với các nước trên thế giới, đặc biệt là khu vực châu Á - Thái Bình Dương, khu vực phát triển kinh tế năng động của thế giới. Vì vậy, Trà Cổ có vị trí quan trọng trong trung chuyển hàng hóa. Với vị trí địa lý, vị thế và tiềm năng như trên, chắc chắn Trà Cổ sẽ có những đóng góp tích cực, hiệu quả cho phát triển chung của tỉnh Quảng Ninh. Tuy nhiên, trong những năm qua, kinh tế biển của Phường mặc dù đã có những kết quả khả quan nhưng nhìn chung quy mô phát triển còn chưa tương xứng với tiềm năng vốn có.

Những cư dân đặt chân đến vùng đất Trà Cổ “khai sơn lập thạch” vốn có gốc gác từ Đồ Sơn. Chính vì vậy, người Trà Cổ qua bao đời nay vẫn lưu truyền câu ca “Người Trà Cổ - Tổ Đồ Sơn” để con cháu luôn nhớ về nguồn cội gốc gác xa xưa của mình. Theo truyền thuyết của nhân dân địa phương, vào thế kỷ XV, cuộc chiến tranh Trịnh-Mạc đã khiến nhân dân vùng Đông Bắc, nhất là quê hương của nhà Mạc ở Nghi Dương, Kiến Thuỵ (Hải Phòng) điêu đứng, nhiều gia đình phải tha hương tìm vùng đất mới sinh sống. Trong số đó có 12 gia đình dân chài quê ở Đồ Sơn đã lên thuyền đi về phía đông bắc.

Trong một lần sóng to gió lớn, 12 gia đình đã trôi dạt vào một bán đảo hoang vu chỉ có sú vẹt. Sau khi đặt chân lên đảo, 6 gia đình khi nhìn thấy cảnh nơi đây hoang vu và buồn chán nói rằng: “Ở đây ăn bổng lộc gì Lộc sung thì chát, lộc si thì già” [2; tr.9] Và thế là 6 gia đình tìm cách trở về với quê hương cũ, 6 gia đình còn lại nhìn thấy phong cảnh hữu tình, tiềm năng đầy hứa hẹn của vùng đất mới, có thể sống bằng nghề đánh bắt nên đã ở lại sinh sống và lập làng. Họ nói rằng: “Ở đây vui thú non tiên, Tháng ngày ngày lọc nước lấy tiền nuôi nhau” [2; tr.9] Các gia đình cùng nhau khai phá vùng đất mới, ngày ngày vừa đánh cá vừa khai hoang, sau một thời gian họ đã tạo lập được một làng nhỏ. Trải qua thời gian, ngôi làng 13 dần trù phú, con cháu đông đúc.

Họ đã lập lên một làng mới nhưng họ không quên hướng về quê hương cũ nên đã lấy tên làng Trà Phương và Cổ Trai ở Đồ Sơn (Hải Phòng) ghép thành tên làng “Trà Cổ” để đặt cho làng mới của mình, với ý nghĩa luôn nhớ về quê hương Đồ Sơn. Cuối thời hậu Lê, xóm làng ấy đã phát triển thành một vùng quê với một tổ chức xã hội ổn định. Như nhiều làng quê khác trên đất nước Việt Nam, ngôi đình làng đã được nhân dân góp công, góp của xây dựng lên, đó chính là đình Trà Cổ. Theo lời kể của nhân dân địa phương thì sau khi xây dựng, các cụ tiên công ở đây đã về quê cũ tại Đồ Sơn xin chân hương để rước các vị thành hoàng ở đó là Khổng Lộ, Giác Hải, Nhân Minh, Huyền Quốc, Quảng Trạch.

Đồng thời tôn hai vị thần là Ngọc Sơn (Thần Núi) và Bạch Điểm Tước (Thần Chim) lên làm thành hoàng của làng. Về sau, từ ngôi làng nhỏ đã mở rộng thêm các thôn Đông Thịnh, Tràng Lộ, Tràng Sa, Sa Vĩ, Ngọc Sơn và Bình La [34; tr. Từ khi lập làng đến nay, Trà Cổ đã trải qua nhiều lần sáp nhập, chia tách với nhiều đơn vị hành chính khác nhau. Thời nhà Nguyễn trở về trước là vạn Trà Cổ thuộc tổng Hải Ninh, châu Vạn Ninh, trấn An Quảng.

Dưới thời Tự Đức là xã Trà cổ thuộc châu Vạn Ninh. Thời Đồng Khánh là xã Trà Cổ thuộc Tổng Ninh Hải, Châu Vạn Ninh [33; tr. Thời Thành Thái xã Trà Cổ thuộc châu Hà Cối, phủ Hải Ninh. Thời Duy Tân, năm 1910, xã Trà Cổ được chia thành hai xã: Trà Cổ ở phía bắc và Bình Ngọc ở phía nam, cả hai thuộc tổng Hải Ninh, châu Móng Cái.

Bình Ngọc gồm hai thôn Ngọc Sơn và Bình La. Trà Cổ bao gồm những thôn còn lại. Hòa bình lập lại, ngày 2/7/1964, Hội đồng Chính phủ đã ra Quyết định số 106/CP đổi thị xã Móng Cái thành thị trấn Móng Cái thuộc huyện Móng Cái. Lúc này, huyện Móng Cái bao gồm 21 xã và thị trấn là Trà Cổ, Bình Ngọc, Vạn Ninh, Vĩnh Trung, Vĩnh Thực, Cái Chiên, Xuân Hòa, Xuân Hải, Lục Lầm, Xuân Lan, Xuân Ninh, Vạn Xuân, Ninh Dương, Đoan Tinh, Quất Động, Quất Đoài, Thán Phún, Pò Hèn, Lục Phủ, Tràng Vinh và thị trấn Móng Cái.

Thực hiện Quyết định số 354 - QĐ/UBND ngày 30/8/1990 của UBND tỉnh Quảng Ninh về việc chuyển dân cư, chính quyền thị trấn Hải Ninh và các cơ quan thuộc huyện Hải Ninh từ nơi sơ tán về địa điểm cũ. Được sự đồng ý của huyện, 5 năm 1991- 1995 Trà Cổ đã đón nhận 524 hộ với 2800 khẩu ở nơi sơ tán về nơi ở cũ, thành lập lại 2 thôn Tràng Lộ và Tràng Vĩ [2; tr. 14 Tiếp đó, ngày 20/7/1998, Thủ tướng Chính phủ ra Nghị định số 52/1998/NĐ- CP tái lập thị xã Móng Cái (trên cơ sở toàn bộ diện tích và dân số của huyện Hải Ninh cũ) trực thuộc tỉnh, bao gồm 5 phường: Hòa Lạc, Trần Phú, Ka Long (trên cơ sở các khu của thị trấn Móng Cái cũ), Ninh Dương (từ xã Ninh Dương), Trà Cổ (từ xã Trà Cổ) và 11 xã: Quảng Nghĩa, Hải Tiến, Hải Đông, Hải Yên, Hải Hòa, Hải Xuân, Vạn Ninh, Hải Sơn, Bình Ngọc, Vĩnh Trung và Vĩnh Thực. Như thế, phường Trà Cổ đã được thành lập trên cơ sở 13,69 km² và 2.631 người của xã Trà Cổ.

Đến ngày 24/9/2008, Chính phủ ra Nghị định số 03/NĐ-CP về việc thành lập thành phố Móng Cái thuộc tỉnh Quảng Ninh, bao gồm 17 đơn vị hành chính, trong đó có 7 phường: Hòa Lạc, Trần Phú, Ka Long, Ninh Dương, Trà Cổ, Hải Yên, Hải Hòa và các xã Quảng Nghĩa, Hải Tiến, Hải Đông, Vạn Ninh, Hải Xuân, Vĩnh Thực, Vĩnh Trung, Bắc Sơn, Hài Sơn, Bình Ngọc. Trải qua 20 năm phát triển, với những thành tựu đạt được trên các lĩnh vực, ngày 19/9/2018, thành phố Móng Cái được công nhận là đô thị loại II. Trà Cổ thời điểm này là một trong 17 đơn vị hành chính trực thuộc thành phố Móng Cái. Điều kiện tự nhiên và tài nguyên thiên nhiên Địa hình của Trà Cổ thuộc dạng đồi núi thấp, bị chia cắt mạnh, sườn dốc, không đối xứng.

Đỉnh cao nhất cũng không vượt quá 200m. Do đặc điểm hình thành bán đảo nên dạng địa hình đồng bằng nguồn gốc lục địa ít. Trong khi đó các dạng đồng bằng nguồn gốc biển chưa phát triển. Các dạng địa hình tích tụ đã tạo nên những bãi tương đối bằng phẳng, được tạo thành bởi cát trung và thô, rất thuận lợi để phát triển hoạt động du lịch.

Một số quả đồi ăn lan ra sát mép biển, bị mài mòn mạnh mẽ, tạo ra những vách dốc đứng, có thể tận dụng để phát triển loại hình du lịch mạo hiểm kết hợp với nghỉ dưỡng trên bãi biển. Trà Cổ có diện tích đất tự nhiên là 1301,07 ha (chiếm 3% diện tích của thành phố Móng Cái), trong đó đất nông nghiệp 394,33ha (30,3%); đất phi nông nghiệp 501,18ha (38,52%); đất chưa sử dụng 405,06ha (31,18%) [2; tr.18 30 Đất nông nghiệp Đất phi nông nghiệp Đất chưa sử dụng Biểu đồ 1.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Luận văn thạc sĩ "Đời Sống Kinh Tế Văn Hóa Cư Dân Phường Trà Cổ, Móng Cái, Quảng Ninh (1998-2018)" cung cấp cái nhìn sâu sắc về sự phát triển kinh tế và văn hóa của cư dân tại phường Trà Cổ trong hai thập kỷ qua. Tác phẩm không chỉ phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến đời sống kinh tế mà còn khám phá các khía cạnh văn hóa đặc trưng của cộng đồng nơi đây. Độc giả sẽ tìm thấy những thông tin quý giá về sự thay đổi trong thói quen tiêu dùng, các hoạt động kinh tế chính, cũng như vai trò của văn hóa trong việc hình thành bản sắc cộng đồng.

Để mở rộng thêm kiến thức về các vấn đề liên quan đến kinh tế và quản lý, bạn có thể tham khảo các tài liệu như Luận văn tốt nghiệp một số vấn đề cơ bản về vốn và kế toán huy động vốn tại chi nhánh NHNN PTNN quận Tây Hồ, nơi cung cấp cái nhìn về quản lý vốn trong ngân hàng, hay Luận văn thạc sĩ kinh tế phát triển hoàn thiện công tác quản lý nhà nước về thương mại tại quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng, giúp bạn hiểu rõ hơn về quản lý thương mại trong bối cảnh phát triển kinh tế. Những tài liệu này sẽ giúp bạn có cái nhìn toàn diện hơn về các vấn đề kinh tế và văn hóa trong các khu vực khác nhau.