MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài “Tình yêu và hôn nhân là lẽ sống của con người, nó cũng cần như cơm ăn, nước uống, áo mặc, nhà ở…” (Nguyễn Đình Xuân, 1993, tr. Quan điểm trên cho thấy hôn nhân mang tính quy luật tự nhiên của con người. Trai lớn lấy vợ, gái lớn lấy chồng vốn là điều mà hầu như ai cũng phải trải qua.
Vì thế, hôn nhân được xem là sự kiện trọng đại đánh dấu sự trưởng thành, độc lập của một cá nhân. Bên cạnh đó, luật hôn nhân gia đình nêu rõ “hôn nhân là quan hệ giữa vợ và chồng sau khi kết hôn”, công báo/số 681 + 682/ ngày 16-7-2014, Luật Hôn Nhân Gia Đình. Cho nên, hôn nhân còn được biết đến như “một hiện tượng xã hội, trong đó, hai người khác giới được xã hội thừa nhận sống chung với nhau, gắn bó với nhau, có trách nhiệm với nhau và cùng có trách nhiệm trước xã hội” (Bùi Ngọc Oánh, 2006, tr. Như vậy, hôn nhân vừa mang tính chất cá nhân vừa mang tính cộng đồng, xã hội.
Cụ thể hơn, Bác Hồ kính yêu đã nói “Nhiều gia đình mới cộng lại thành xã hội. Xã hội tốt thì gia đình càng tốt, gia đình tốt thì xã hội mới tốt. Hạt nhân của xã hội chính là gia đình” (Nguyễn Minh Hòa, 1998, tr. Hôn nhân quan trọng là vậy, nhưng hôn nhân tốt đẹp hay không lại phụ thuộc rất nhiều vào định hướng giá trị hôn nhân của từng cá nhân.
Nghĩa là nó phụ thuộc vào việc cá nhân đó có những ý nghĩ, những nhận thức, thái độ đối với hôn nhân như thế nào, từ đó dẫn đến các hành vi định hình nên tình trạng hôn nhân của họ trong đời sống. Hay nói cách khác đó chính là khuynh hướng lựa chọn, hướng đến các giá trị trong hôn nhân và thực hiện nó của từng cá nhân. Ngày nay có các hiện trạng hôn nhân đáng kể của giới trẻ như “Bố/ mẹ đơn thân”, xu hướng kết hôn muộn, hoặc chọn lối sống độc thân. Hay thực trạng “sống thử”, quan hệ trước hôn nhân, tự do tình dục, dễ dàng ly hôn… dẫn theo nhiều hệ lụy không hay cho xã hội, như theo cục thống kê, số vụ ly hôn đã xét xử phân theo địa phương và phân theo cấp xét xử: ở TP.125 vụ, tăng hơn 531 vụ so với năm 2013 là 1.
Theo số liệu từ bệnh viện Từ Dũ, năm 2016 có 27.154 ca phá thai. Sáu tháng đầu năm 2017 là 14.159 ca trong đó phá thai ở trẻ vị thành niên hơn 1000 ca. Đây là một thực trạng rất đau lòng và như một tiếng chuông cảnh tỉnh cho toàn xã hội. Đã đến lúc cần phải tìm hiểu về mối quan hệ giữa 2 giới trẻ và định hướng giá trị hôn nhân của họ ngày nay diễn ra như thê nào.
Đặc biệt là đối với các nam nữ thanh niên sinh viên, họ là những nhân tố tiêu biểu cho thế hệ trẻ hiện nay. Định hướng giá trị hôn nhân của sinh viên là rất quan trọng, bởi vì ngoài nhiệm vụ học tập để trau dồi, phát triển bản thân thì việc chuẩn bị để “Bắt đầu cuộc sống gia đình, học sống với đối tác hôn nhân” (Grace J.Craig, Don Baucum, 2004, tr.617) là nhiệm vụ chính yếu thứ hai của lứa tuổi này. Như vậy, việc chuẩn bị cho đời sống hôn nhân cũng là một trong những nhiệm vụ quan trọng và căn cốt của lứa tuổi thanh niên sinh viên. Nghiên cứu về định hướng giá trị hôn nhân của sinh viên chính là tìm hiểu cơ sở tâm lý (nhận thức, thái độ, hành vi) mà sinh viên dựa vào đó để hiện thực hóa cuộc sống hôn nhân sau này của họ.
Từ đó có thể dự đoán được “làn sóng” hôn nhân trong xã hội tương lai và có những tác động đúng đắn để kịp thời điều chỉnh, cải thiện chất lượng hôn nhân của giới trẻ, cũng như hạn chế tất cả những hệ lụy từ thực trạng trong hôn nhân trong xã hội hiện nay. Đây chính là việc làm hết sức cấp thiết trong giai đoạn này của xã hội. Vì nó góp phần cho việc cải thiện chất lượng cuộc sống của mỗi cá nhân, nó đóng góp cho sự khỏe mạnh của từng gia đình, từng tế bào của xã hội. Hay nói cách khác, nó góp phần cho sự phát triển lành mạnh của nước nhà, cải thiện chất lượng cuộc sống của mỗi công dân.
Những đề tài định hướng giá trị về tình yêu, hôn nhân, gia đình đã được nhiều tác giả trước đây tiến hành nghiên cứu trên nhiều đối tượng khác nhau, như: nữ giảng viên đại học, các vợ chồng trẻ ở nông thôn, thanh thiếu niên, sinh viên,… nhưng vẫn còn bị hạn chế bởi khu vực “giới hạn nghiên cứu” ở tỉnh, địa phương, hoặc chỉ dừng lại ở “tình yêu” chứ chưa đi sâu vào đời sống hôn nhân của sinh viên tại TP. Những thực trạng trên đã thúc đẩy người viết chọn nghiên cứu về “Định hướng giá trị hôn nhân của sinh viên ở một số trường đại học tại TP.HCM” cho đề tài luận văn thạc sĩ của mình. Vì, nó vừa mang tính cấp thiết của đời sống xã hội, nó vừa đáp ứng được nhu cầu mở rộng nghiên cứu định hướng giá trị hôn nhân của khách thể là sinh viên hiện nay tại TP. Mục đích nghiên cứu Tìm hiểu thực trạng định hướng giá trị hôn nhân của sinh viên ở một số trường 3 đại học tại TP.HCM nhằm làm rõ xu hướng lựa chọn các giá trị hôn nhân của sinh viên thông qua các yếu tố tâm lý cơ bản là: nhận thức, thái độ, hành vi.
Và những yếu tố ảnh hưởng đến nó. Trên cơ sở đó đề xuất một số biện pháp nhằm tác động đúng đắn đến định hướng giá trị hôn nhân của sinh viên. Đối tượng và khách thể nghiên cứu 3. Đối tượng nghiên cứu Định hướng giá trị hôn nhân của sinh viên ở một số trường đại học tại TP.
Khách thể nghiên cứu Sinh viên ở một số trường đại học tại TP. Giới hạn phạm vi nghiên cứu 4. Giới hạn về nội dung nghiên cứu Đề tài chỉ tập trung nghiên cứu định hướng giá trị hôn nhân theo hướng tiếp cận tâm lý học giá trị. Thông qua các chỉ báo về nhận thức, thái độ, hành vi đối với các giá trị đạo đức, giá trị kinh tế, giá trị pháp luật trong hôn nhân, được cụ thể hóa từ những khía cạnh chính yếu của hôn nhân như tình yêu vợ chồng, các chức năng gia đình, luật hôn nhân gia đình.
Giới hạn về khách thể Sinh viên (sv) năm thứ nhất và sv năm cuối tại 6 trường đại học: ĐH. Quốc Tế Hồng Bàng, ĐH. KHXH&Nhân Văn, ĐH Công Nghiệp TP. Kinh tế - Luật.
Nhiệm vụ nghiên cứu 5. Hệ thống hóa cơ sở lý luận về định hướng giá trị hôn nhân của sinh viên. Khảo sát thực trạng định hướng giá trị hôn nhân của sinh viên ở một số trường đại học tại TP.HCM và một số yếu tố ảnh hưởng đến định hướng giá trị hôn nhân của sinh viên. Đưa ra một số biện pháp nhằm tác động đúng đắn đến định hướng giá trị hôn nhân của sinh viên ở một số trường đại học tại TP.
Giả thuyết nghiên cứu 6. Đa số sinh viên tại TP.HCM đều có định hướng giá trị hôn nhân đúng đắn. Các sinh viên biết chọn lọc hài hòa giữa các giá trị đạo đức, kinh tế và chính trị- pháp luật, nhưng giá trị đạo đức vẫn được ưu tiên quan tâm hơn các giá trị khác. Có sự khác biệt trong nhận thức, thái độ, hành vi về các giá trị hôn nhân của sinh viên theo trường, nhóm ngành tự nhiên và xã hội, giới tính và năm học.
Có nhiều yếu tố ảnh hưởng đến định hướng giá trị hôn nhân của sinh viên, trong đó yếu tố bên trong (yếu tố cá nhân) ảnh hưởng mạnh nhất. Phương pháp nghiên cứu 7. Phương pháp nghiên cứu lý luận Mục đích: Tập hợp, thu thập, phân tích và tổng hợp tài liệu có liên quan đến định hướng giá trị hôn nhân của sinh viên ở một số trường đại học tại TP. Cách tiến hành: Thu thập các tài liệu, học thuyết, bài viết, công trình nghiên cứu trong và ngoài nước có liên quan đến giá trị, định hướng giá trị trong tình yêu, hôn nhân, gia đình sau đó phân tích, tổng hợp, khái quát hóa nhằm xây dựng cơ sở lý luận cho đề tài.
Phương pháp nghiên cứu thực tiễn 7.1 Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi: Mục đích: Thu thập ý kiến về định hướng giá trị hôn nhân của sinh viên ở một số trường đại học tại TP. Cách tiến hành: Phát phiếu thăm dò, sau đó phân tích đánh giá và hoàn thiện thành bảng hỏi để khảo sát trên diện rộng.2 Phương pháp phỏng vấn Mục đích: Tăng thêm độ tin cậy và những điểm cần được làm rõ hơn bằng bảng hỏi. Cách tiến hành: Phỏng vấn vài cá nhân có tham gia khảo sát bằng bảng hỏi.3 Phương pháp thống kê toán học. Mục đích: Xử lý số liệu thu thập được để phục vụ cho việc chứng minh giả thuyết và biện luận kết quả nghiên cứu.
Cách thực hiện: Sử dụng phần mềm thống kê SPSS nhằm xử lí số liệu thu thập được. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ ĐỊNH HƯỚNG GIÁ TRỊ HÔN NHÂN CỦA SINH VIÊN 1. Sơ lược lịch sử nghiên cứu vấn đề Những vấn đề liên quan đến giá trị, định hướng giá trị, hôn nhân và định hướng giá trị hôn nhân ở nước ngoài và Việt Nam 1. Trên thế giới Thuật ngữ giá trị đã được C.
Mác nhắc đến như sau: “loài người đã có quan niệm về giá trị từ 5.000 năm trước, từ khi có trao đổi thực phẩm, hàng mỹ nghệ thủ công, khoáng sản…” (Phạm Minh Hạc, 2015, tr. Thật vậy, giá trị được con người biết đến từ khi có sự nhìn nhận đơn sơ nhất về giá trị của các nhu yếu phẩm, cho đến nửa sau thế kỷ XIX giá trị được nhìn nhận như một ngành học chuyên biệt và phát triển mạnh từ đấy. Đỉnh điểm là đầu thế kỷ XX thì giá trị học được nâng lên thành một ngành khoa học độc lập, được nghiên cứu nghiêm túc hẳn hoi. Nói như vậy để thấy rằng, sự nghiên cứu về giá trị luôn phát triển song hành cùng chiều dài lịch sử loài người và nó cũng cho thấy tính đa dạng, phức tạp và phong phú của thuật ngữ “giá trị”.
Đặt nền móng cho sự hình thành của khoa học về giá trị thì phải nhắc đến những tên tuổi nổi bậc như: F.