PHẦN MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài Xã hội càng phát triển thì càng cần đến các dịch vụ của công tác xã hội. Sự có mặt của nhân viên CTXH trong công tác CSSK tại cộng đồng là một cách để mở rộng mạng lưới CSSK đến người dân ở mọi nơi, mọi lúc, nhằm khuyến khích họ tích cực tham gia giải quyết các vấn đề sức khỏe bằng chính khả năng của mình bằng các phương pháp phù hợp (Châu, 2016). Dịch vụ công tác xã hội tại bệnh viện lại càng cần thiết và là yếu tố cần được đẩy mạnh nhất để đáp ứng nhu cầu của người dân.
Sự hỗ trợ của nhân viên CTXH đã làm tăng sự hài lòng của người bệnh và người nhà khi đến điều trị tại bệnh viện. Đối với việc thực hiện các chính sách liên quan đến pháp luật về y tế cơ sở, y tế dự phòng, kết quả giám sát cho thấy đến năm 2022, mạng lưới dịch vụ chăm sóc sức khỏe ở cấp cơ sở đã mở rộng trên toàn quốc. Cụ thể, các trung tâm y tế đã được thành lập ở tất cả các huyện, trạm y tế đã được thành lập ở 99,6% xã, phường, thị trấn, trạm y tế có bác sĩ làm việc trong 92,4% trường hợp, nhân viên y tế đã được triển khai tại 71% thôn, xóm. Nghề công tác xã hội ở Việt Nam đã được chính thức công nhận từ năm 2010, sau khi ban hành Quyết định số 32/2010/QĐ-TTg ngày 25 tháng 3 năm đó.
Gần đây, Quyết định số 112/2021/QĐ-TTg được ban hành nhằm tạo điều kiện cho sự phát triển của nghề dạy nghề từ năm 2021 đến năm 2030. Từ sau đề án 32, vai trò của nghề CTXH trong lĩnh vực y tế đã được khẳng định thể hiện qua việc ban hành Quyết định số 2514/QĐ-BYT ngày 15 tháng 7 năm 2011 của Bộ trưởng Bộ Y tế về phê duyệt Đề án “Phát triển các ngành nghề công tác xã hội trong ngành y tế 2011-2020". Thông qua việc thực hiện chương trình này, Bộ Y tế đã thiết lập các kế hoạch cụ thể để hướng dẫn sự phát triển của công tác xã hội, với mục tiêu cuối cùng là có 60% bệnh viện cấp tỉnh, 30% bệnh viện huyện, và 40% các xã, tường, thị trấn tham gia vào các hoạt động công tác xã hội vào cuối năm 2020. Ngoài ra, Bộ Y tế đã tạo ra khuôn khổ pháp lý cho nghề giáo dục xã hội và xã hội trong ngành y tế, theo quy định tại Thông 2 tư số 43/TT-BYT ngày 25/11/2015.
Theo Thông tư, trách nhiệm của các nhân viên công tác xã hội trong môi trường bệnh viện là cung cấp hỗ trợ và hướng dẫn để giải quyết các vấn đề xã hội có thể phát sinh cho cả bệnh nhân và gia đình của họ trong suốt quá trình điều trị y tế tại bệnh viện. Dịch vụ công tác xã hội trong bệnh viện đã mang lại lợi ích quan trọng cho bệnh nhân và bệnh viện. Đối với bệnh nhân, dịch vụ này cung cấp hỗ trợ tâm lý và xã hội, giúp giảm căng thẳng, lo lắng và đối phó với tình trạng bệnh. Nhân viên công tác xã hội cũng hỗ trợ bệnh nhân tìm kiếm các nguồn lực hỗ trợ ngoại vi và đại diện cho họ trong việc bảo vệ quyền lợi và điều phối dịch vụ chăm sóc sức khỏe.
Đối với bệnh viện, dịch vụ này cải thiện chất lượng chăm sóc và đáp ứng nhu cầu đa dạng của bệnh nhân. Nó cung cấp sự hỗ trợ tâm lý và xã hội, từ đó tăng cường trải nghiệm bệnh nhân và đánh giá chất lượng chăm sóc. Theo kết quả khảo sát do Trường Đại học Y tế Công cộng và Vụ tổ chức Cán bộ thuộc Bộ Y tế phối hợp thực hiện. Một cuộc khảo sát khác được tiến hành vào năm 2019 trên 500 bệnh viện trong cả nước: 100% các bệnh viện ở tuyến trung ương đều đã thành lập Phòng hoặc Tổ công tác xã hội, tuyến tỉnh là 96,14% và tuyến huyện là 88,65%.
Kết quả của các cuộc khảo sát này đã cho thấy những nỗ lực đáng kể của ngành y tế trong những năm gần đây hướng tới việc thành lập Phòng/tổ CTXH, cũng như sự phát triển không ngừng của công tác xã hội trong các bệnh viện. Chính những điều trên đã chứng minh sự khẳng định ngày càng tăng về vai trò và giá trị của công tác xã hội trong lĩnh vực y tế. Bệnh viện Trưng Vương, được công nhận là một trong những bệnh viện hạng nhất tại Thành phố Hồ Chí Minh, đã thành lập phòng Công tác xã hội với các vai trò nói trên. Giữa những phức tạp của đợt bùng phát covid-19, bệnh viện đã trải qua một sự chuyển đổi chức năng sang một trong những bệnh viện điều trị covid-19 tuyến đầu.
Phòng công tác xã hội của bệnh viện đóng một vai trò quan trọng trong quá trình chuyển đổi và đứng bên cạnh tiền tuyến chống lại dịch bệnh trong các 3 bệnh viện, không thể bỏ qua những đóng góp đáng kể của phòng công tác xã hội. Từ sau đại dịch Covid-19 lắng xuống, các bệnh viện hoạt động bình thường trở lại, thì phòng CTXH bệnh viện lại chưa nhận được sự hỗ trợ và quan tâm để hoàn thành các vai trò và nhiệm vụ. Đặc biệt khi mà ngành còn tương đối non trẻ gặp nhiều khó khăn trong bước đầu phát triển như hiện nay. Cụ thể trong y tế, nhiệm vụ cung cấp dịch vụ hỗ trợ người bệnh khám, chữa bệnh của phòng CTXH bệnh viện triển khai đang những khó khăn làm hiệu quả chưa được như kì vọng để tiếp tực phát triển.
Vì vậy, cần có thêm những sản phẩm khoa học làm rõ hơn về CTXH trong y tế để có cái nhìn đúng đắn hơn và yếu tố nào đang đóng vai trò quan trọng trong hiệu quả hoạt động này. Từ đó, có những giải pháp và nguồn lực phù hợp để tối ưu và phát triển. Mặc dù có nhiều công trình nghiên cứu đã phản ánh các vấn đề liên quan đến CTXH trong lĩnh vực y tế nhưng vẫn chưa có công trình nghiên cứu về dịch vụ công tác xã hội trong hỗ trợ người bệnh tại bệnh viên Trưng Vương, cụ thể ở ba dịch vụ: dịch vụ truyền thông, dịch vụ kết nối nguồn lực, dịch vụ tư vấn. Và tại bệnh viện Trưng Vương hiện nay chưa có công trình nghiên cứu về vấn đề này.
Chính vì vậy, tác giả đã thực hiện nghiên cứu với đề tài “Dịch vụ công tác xã hội trong hỗ trợ bệnh nhân tại Bệnh viện Trưng Vương Thành phố Hồ Chí Minh” để có được cái nhìn sâu sắc về các hoạt động công tác xã hội hỗ trợ bệnh nhân tại bệnh viện. Nghiên cứu nhằm chỉ ra thực trạng của các dịch vụ công tác xã hội trong hỗ trợ bệnh nhân, xác định các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng cung cấp dịch vụ công tác xã hội và đề xuất các biện pháp để nâng cao chất lượng dịch vụ công tác xã hội. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài 2. Tình hình nghiên cứu trên thế giới 4 Từ nghiên cứu về CTXH trong bệnh viện tại Mỹ đã triển khai khoa dịch vụ xã hội, đây là nơi triển khai các hoạt động CTXH, khoa có đội ngũ nhân viên CTXH được đào tạo bài bản về CTXH chuyên nghành y tế với trình độ cử nhân, thạc sĩ và hiện có khoảng 500.000 nhân viên CTXH, trong đó 54,4% ở độ tuổi từ 45 trở lên và nữ chiếm 90,2%.
Theo hội CTXH Mỹ, nhân viên CTXH ở Mỹ được trang bị kiến thức tốt để làm việc trong khu vực bệnh viện, bởi học hiểu những yếu tố thể chất, tinh thần và yếu tố môi trường quyết định sự khỏe mạnh của cá nhân và cộng đồng (Vũ Thị Minh Hạnh, 2013). Nghiên cứu tại Mỹ mở ra nhiều hướng mới cho mô hình CTXH trong bệnh viện, theo tác giả Kadushin và cộng sự (2009) vai trò giám sát của công tác xã hội trong bệnh viện là đặc biệt quan trọng và tác giả cho rằng mô hình CTXH trong bệnh viện cần có thêm hoạt động giám sát để mang lại hiệu suất cao hơn trong các cơ sở y tế. Zimmerman và Dabelko (2007) lại đưa ra mô hình hợp tác chăm sóc bệnh nhân, tác giả chỉ ra rằng những mô hình y tế truyền thống hoặc mô hình phân cấp tạo ra thứ bậc mà ở đó các Bác sỹ được coi trọng hơn không còn giá trị nữa mà thay đó là việc kết hợp chăm sóc bệnh nhân giữa nhân viên y tế với gia đình sẽ tạo ra sự thân thiện hơn cởi mở mở hơn và xóa bỏ ranh giới phân cấp giữa bác sĩ với bệnh nhân với mục đích tạo tâm lý thoải mái cho bệnh nhân. Heinonen và cộng sự (2001) “Social work and health restructuring in Canada and Finland” nghiên cứu đã chỉ ra rằng hệ thống chăm sóc sức khỏe ở Canada và Phần Lan hiện đang trong quá trình tái cấu trúc.
Trong một môi trường tái cấu trúc chăm sóc sức khỏe, họ cần phải sử dụng kho kiến thức, kỹ năng và mạng lưới cộng đồng của mình để đáp ứng. Đồng thời, nhân viên xã hội lưu ý rằng có một gói lợi ích dịch vụ xã hội và y tế gọn gàng hơn để hỗ trợ bệnh nhân và gia đình. Nhân viên xã hội đã cố gắng thích nghi và tìm kiếm những cơ hội mới để thực hành công tác xã hội trong môi trường thay đổi. Nghiên cứu có thể giúp chúng ta hiểu rõ hơn về một số tác động của tái 5 cấu trúc y tế đối với công tác xã hội và nhân viên xã hội trong bệnh viện và trung tâm y tế địa phương.
Một cách gián tiếp và trực tiếp, những thay đổi này cũng ảnh hưởng đến khách hàng trong hệ thống chăm sóc sức khỏe, những người có nhu cầu cao nht trong việc cung cấp các dịch vụ công tác xã hội. Nhân viên xã hội đã cố gắng thích nghi và tìm kiếm những cơ hội mới để thực hành công tác xã hội trong môi trường thay đổi. Michalski và cộng sự (2000) “The impact of hospital restructuring on social work services: a case study of a large, university-affiliated hospital in Canada” nghiên cứu điều tra tác động của tái cơ cấu tổ chức đối với thực hành công tác xã hội tại một bệnh viện lớn trực thuộc trường đại học. Trước tiên, bài viết xem xét các tài liệu liên quan về mô hình chăm sóc tập trung vào bệnh nhân và trình bày tổng quan về bối cảnh nghiên cứu.
Một số giả thuyết sau đó được trình bày đã thông báo cho quá trình nghiên cứu. Dữ liệu đo lường khối lượng công việc, phỏng vấn và bảng câu hỏi được phân tích để kiểm tra các giả thuyết này.