Tổng quan luận án
Vấn đề di cư lao động tại Việt Nam trong những năm gần đây ghi nhận hiện tượng "nữ hóa" rõ nét, phản ánh qua kết quả Điều tra di cư nội địa quốc gia năm 2015 khi tỷ lệ di cư của nữ giới đạt 17,7%, cao hơn so với nam giới (16,8%) (Tổng cục Thống kê, UNFPA, 2016). Tỉnh Bình Dương là trung tâm công nghiệp lớn với lực lượng lao động tăng nhanh, trong đó lao động nữ chiếm đa số; tính đến tháng 3/2021, địa phương có 794.397 lao động nữ (chiếm 55%). Quá trình tăng nhanh lao động nhập cư tạo ra nhiều áp lực đối với hệ thống an sinh xã hội, đặc biệt là công tác chăm sóc sức khỏe sinh sản (CSSKSS) cho nữ công nhân nhập cư (NCNNC). Nhóm đối tượng này đối diện với nhiều rủi ro như thiếu hụt thông tin, hiểu biết hạn chế về các biện pháp tránh thai, quan hệ tình dục không an toàn, mang thai ngoài ý muốn, phá thai không an toàn và mắc các bệnh nhiễm khuẩn đường sinh sản. Dù địa phương đã triển khai một số đề án và chương trình truyền thông (như Đề án "Đoàn kết, tập hợp thanh niên công nhân và lao động trẻ tỉnh Bình Dương giai đoạn 2016 – 2020", các mô hình của ActionAid, Marie Stopes), hiệu quả thực tế còn hạn chế do rào cản về thời gian làm việc căng thẳng, tâm lý sợ giảm thu nhập, lo ngại tính bảo mật thông tin và sự thiếu vắng các dịch vụ công tác xã hội (CTXH) chuyên nghiệp. Vì vậy, việc nghiên cứu thực trạng và ứng dụng phương pháp CTXH trong CSSKSS đối với NCNNC tại Bình Dương là một yêu cầu cấp thiết.
Mục tiêu nghiên cứu
Nghiên cứu nhằm tìm hiểu, đánh giá và phân tích thực trạng CSSKSS cho NCNNC trên địa bàn tỉnh Bình Dương cùng các yếu tố ảnh hưởng; tiến hành thực nghiệm tác động của phương pháp CTXH cá nhân trong hỗ trợ NCNNC đang gặp vấn đề về sức khỏe sinh sản (SKSS), từ đó đề xuất các khuyến nghị và giải pháp phù hợp nhằm nâng cao hiệu quả hỗ trợ CSSKSS đối với NCNNC.
Nhiệm vụ nghiên cứu
- Làm rõ cơ sở lý luận về nội hàm, ngoại diên của các khái niệm then chốt (NCNNC, CSSKSS, CTXH trong CSSKSS, hoạt động CTXH trong CSSKSS đối với NCNNC); vận dụng lý thuyết hỗ trợ xã hội, lý thuyết hệ thống sinh thái và lý thuyết nhận thức – hành vi; chỉ ra các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động CTXH trong CSSKSS.
- Mô tả và đánh giá thực trạng CSSKSS và hoạt động CTXH trong CSSKSS đối với NCNNC tại địa bàn khảo sát.
- Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động CTXH trong CSSKSS của NCNNC (đặc điểm người nhận hỗ trợ, đặc điểm người hỗ trợ, đặc điểm mạng lưới xã hội).
- Vận dụng phương pháp CTXH cá nhân trong hỗ trợ CSSKSS đối với NCNNC thông qua một trường hợp thực nghiệm cụ thể.
- Đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả các hoạt động CTXH trong CSSKSS đối với NCNNC tại cộng đồng.
Câu hỏi nghiên cứu
- Thực trạng CSSKSS của NCNNC và các hoạt động CTXH trong CSSKSS đối với NCNNC tại địa bàn tỉnh Bình Dương đang diễn ra hiện nay như thế nào?
- Những yếu tố nào ảnh hưởng đến việc triển khai các hoạt động CTXH trong CSSKSS đối với NCNNC tại địa bàn tỉnh Bình Dương hiện nay?
- Việc vận dụng phương pháp CTXH cá nhân trong giải quyết các vấn đề liên quan SKSS của NCNNC hiện nay như thế nào?
- Để nâng cao chất lượng của các hoạt động CTXH trong CSSKSS đối với NCNNC tại cộng đồng hiện nay cần có những giải pháp nào?
Giả thuyết nghiên cứu
- NCNNC còn hạn chế trong nhận thức và hành vi CSSKSS liên quan đến các lĩnh vực kế hoạch hóa gia đình, quan hệ tình dục trước hôn nhân, phá thai an toàn, các bệnh nhiễm khuẩn đường sinh sản; chưa quan tâm đúng mức do khó khăn kinh tế và không gian sống; người thân và bạn bè là nguồn trợ giúp chủ yếu.
- Các hoạt động CTXH trong CSSKSS đối với NCNNC tại Bình Dương triển khai thiếu đồng nhất, đặc biệt hoạt động cung cấp kỹ năng, cung cấp thông tin về quyền và hỗ trợ tâm lý chưa phổ biến.
- Những đặc điểm nhân khẩu của NCNNC (hôn nhân, học vấn, thời gian cư trú) và mạng lưới xã hội (người thân, bạn bè, mạng xã hội) có ảnh hưởng đến việc triển khai các hoạt động CTXH trong CSSKSS đối với NCNNC ở cộng đồng.
- Việc vận dụng phương pháp CTXH cá nhân tạo nên những thay đổi tích cực của NCNNC trong giải quyết các vấn đề liên quan CSSKSS.
Đối tượng, khách thể và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Các hoạt động CTXH trong CSSKSS đối với NCNNC.
- Khách thể nghiên cứu: NCNNC đang sinh sống tại cộng đồng (các khu nhà trọ) và làm việc tại các công ty, nhà máy thuộc khu công nghiệp, trong độ tuổi từ 18 đến 49, có thời gian tạm trú từ 6 tháng trở lên tại địa bàn nghiên cứu. Đội ngũ thực hiện hoạt động hỗ trợ được xác định là nhân viên xã hội bán chuyên nghiệp (cán bộ Đề án thanh niên công nhân, cán bộ Đoàn Thanh niên, cán bộ Hội Phụ nữ).
- Phạm vi không gian: Phường Bình Chuẩn (thành phố Thuận An) và phường Mỹ Phước (thị xã Bến Cát), tỉnh Bình Dương.
- Phạm vi thời gian: Đề tài triển khai từ tháng 10/2018; thời gian khảo sát thực địa từ tháng 3/2021 đến tháng 7/2021; thời gian thực nghiệm phương pháp CTXH cá nhân từ tháng 7/2022 đến tháng 9/2022.
- Phạm vi nội dung: Tập trung vào 2 nhóm hoạt động CTXH chính gồm hoạt động phòng ngừa (cung cấp kiến thức, cung cấp kỹ năng, cung cấp thông tin về quyền, cung cấp thông tin về luật) và hoạt động can thiệp (hỗ trợ tâm lý, kết nối dịch vụ CSSKSS). Do ảnh hưởng của dịch bệnh và giới hạn nguồn lực, phần thực nghiệm can thiệp được tiến hành trên 01 trường hợp NCNNC điển hình.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Các hướng nghiên cứu quốc tế
Tổng quan tài liệu quốc tế chỉ ra rằng nữ lao động di cư và NCNNC là nhóm dân số chịu nhiều rủi ro về SKSS:
- Thực trạng và hành vi SKSS: Ip, Wan‐Yim và cộng sự (2011) tại Quảng Đông (Trung Quốc) chỉ ra hiểu biết về tránh thai của nữ công nhân di cư ở mức thấp và tồn tại nhiều quan niệm sai lệch. Zheng và cộng sự (2001) khảo sát tại 5 thành phố của Trung Quốc nhận thấy phần lớn NCNNC trẻ chưa lập gia đình không sử dụng biện pháp tránh thai khi quan hệ tình dục trước hôn nhân và chỉ tìm hiểu sau khi mang thai ngoài ý muốn hoặc phá thai. Lu và cộng sự (2012) tại Quảng Châu ghi nhận tỷ lệ không dùng bao cao su thường xuyên cao và nhiều trường hợp có triệu chứng nhiễm khuẩn đường sinh sản không đi khám. Puri (2004, 2006) tại Nepal chỉ ra công nhân trẻ nhập cư có xu hướng quan hệ tình dục cởi mở hơn nhưng thiếu kỹ năng phòng tránh nguy cơ lây nhiễm HIV/AIDS. Nishigaya (2002) tại Cambodia phản ánh thực trạng nữ công nhân may mặc tham gia hành vi tình dục nguy cơ do áp lực kinh tế. Báo cáo của UNFPA (2014) tại Cambodia cho biết 75% nữ công nhân may tìm đến dịch vụ phá thai tư nhân và nhận thức dấu hiệu nguy hiểm thai kỳ dưới 2%. Wu Rulian (2011) tại Thâm Quyến cho thấy 46% phụ nữ mang thai ngoài ý muốn tự phá thai tại nhà hoặc phòng khám nhỏ. Peng, Y. và cộng sự (2010) tại Bắc Kinh nhấn mạnh 94% lao động di cư không có bảo hiểm y tế và làm việc trên 12 giờ mỗi ngày, tạo rào cản tiếp cận y tế công. Read, F. (2021) tại Phnom Penh chỉ rõ nhu cầu về các biện pháp tránh thai hiện đại chưa được đáp ứng.
- Hoạt động CTXH và can thiệp: Snow, R. (2015) và Zhang, K. (2007) nhấn mạnh sự thiếu hụt thông tin về quyền SKSS (gồm quyền thông tin, tiếp cận, riêng tư, bảo mật, tôn trọng). Alzate, M. (2009) khẳng định vai trò của thực hành CTXH trong thúc đẩy quyền sinh sản và tình dục cho nhóm yếu thế. Srinivasan, S. (2012), Hartmann, M. và cộng sự (2016), cùng tài liệu của WHO (2011) đề xuất can thiệp nâng cao nhận thức luật lao động, bình đẳng giới và pháp luật về phá thai an toàn. Blyth, Eric (2008) và Bell, Melissa L. (2007) nhấn mạnh việc cung cấp kiến thức kế hoạch hóa gia đình và giáo dục SKSS. Bandyopadhyay, M. (2002) và Cai, Y. cùng cộng sự (2013) (theo mô hình IMB) chỉ ra sự cần thiết của việc trang bị kỹ năng thương lượng tình dục an toàn và kỹ năng từ chối. Về can thiệp tâm lý, WHO và Key Centre for Women's Health in Society (2009), Auslander, G. (2016), Wong, D. (2008), và Chib, A. cùng cộng sự (2013) phân tích gánh nặng căng thẳng tâm lý và xác định 5 khía cạnh hỗ trợ cảm xúc. Về kết nối dịch vụ, Zhou, Y. và cộng sự (2019), Loganathan, T. (2020) cùng tổng quan của Rachel L. Wright, Melissa Bird & Caren J. Frost (2015) xác nhận việc kết nối dịch vụ CSSKSS là trọng tâm can thiệp nhưng các công trình CTXH chuyên biệt cho NCNNC còn rất ít.
Các hướng nghiên cứu tại Việt Nam
- Thực trạng SKSS và rào cản: Trần Thị Đức Hạnh, Lê Thị Kim Ánh và Bùi Thị Thu Hà (2016) ghi nhận 27,8% NCNNC chưa kết hôn tại các khu công nghiệp không sử dụng biện pháp tránh thai trong 6 tháng. Lê Thị Kim Ánh và cộng sự (2012) tại KCN Sài Đồng (Hà Nội) chỉ ra 25,4% phụ nữ có triệu chứng nhiễm khuẩn đường sinh sản nhưng chỉ đi khám khi có dấu hiệu nặng. Đặng Nguyên Anh (2006, 2009) ghi nhận 76% nữ di cư tự chữa bệnh qua hiệu thuốc tư nhân hoặc đông y. Vũ Thị Hoàng Lan (2012) phân tích rào cản do niềm tin "cân bằng âm dương" và điểm lại các dự án can thiệp của ActionAid, Marie Stopes (2004–2008) tại TP.HCM và Bình Dương. Nguyễn Thị Hồng Xoan (2010) nêu tâm lý e ngại thuốc BHYT giá rẻ không hiệu quả. Trương Huyền Anh (2009) và ActionAid (2011) chỉ ra thời gian làm việc kéo dài (9,6 đến 14 giờ/ngày) và tình trạng cư trú bấp bênh gây cản trở tiếp cận y tế. Đoàn Minh Lộc, Võ Minh Dũng và cộng sự (2007), UNFPA (2006, 2008, 2012, 2016), Nguyễn Thị Vân Anh và Nguyễn Hồng Phương (2011), Nguyen, D. và cộng sự (2022), Trần Xuân Bách và cộng sự (2019) đều khẳng định khoảng trống nhận thức về HIV/STIs, rào cản chi phí và sự kỳ thị xã hội.
- Hoạt động trợ giúp và CTXH: Bùi Thị Xuân Mai (2010) xác định vai trò CTXH trong nâng cao năng lực và kết nối nguồn lực. Lê Thị Thu Ngân (2014) áp dụng CTXH nhóm cho NCNNC tại KCN Bắc Thăng Long (Hà Nội). Phạm Thị Thu Hà (2016) nghiên cứu dịch vụ CSSKSS cho NCNNC tại KCN Samsung (Bắc Ninh), nhấn mạnh truyền thông, tham vấn và vận động nguồn lực. Đào Văn Dũng (2012) nhấn mạnh hỗ trợ tâm lý trong chăm sóc sức khỏe. Nguyễn Thị Mai Hương (2016) đề xuất mô hình CTXH nhóm "cùng tương trợ" tại Hà Nội. Hoàng Thiên Trang (2017) và Nguyễn Văn Cùng (2019) đề xuất các can thiệp nâng cao nhận thức, tham vấn tâm lý và cung cấp dịch vụ y tế tại chỗ cho lao động di cư. Ngoài ra, Phan Thị Kim Liên (2015) nêu gánh nặng "vai trò kép", Nguyễn Quang Huy (2015) phân tích vị thế nghề nghiệp, và Phạm Quỳnh Phương cùng cộng sự (2021) xem xét sự hội nhập xã hội của công nhân di cư.
Khoảng trống luận án lựa chọn giải quyết
Các nghiên cứu ở Việt Nam phần lớn tiếp cận vấn đề SKSS dưới góc độ y tế công cộng hoặc xã hội học mô tả; các hoạt động hỗ trợ mang tính dự án ngắn hạn, chưa được hệ thống hóa theo khung lý thuyết và phương pháp thực hành CTXH. Chưa có công trình nào đánh giá toàn diện các hoạt động CTXH trong CSSKSS (cả phòng ngừa và can thiệp) đối với NCNNC tại địa bàn công nghiệp hóa nhanh như Bình Dương, đồng thời thực nghiệm áp dụng phương pháp CTXH cá nhân có lượng giá tiến trình cụ thể. Luận án lựa chọn giải quyết khoảng trống này nhằm cung cấp cơ sở lý luận và bằng chứng thực tiễn cho thực hành CTXH chuyên nghiệp.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Cơ sở lý thuyết và khung phân tích
Luận án xây dựng khung phân tích dựa trên sự kết hợp của ba hệ thống lý thuyết chuyên ngành:
- Lý thuyết hỗ trợ xã hội (Social Support Theory): Được sử dụng làm cơ sở để phân tích cấu trúc mạng lưới xã hội và các dạng hỗ trợ (thông tin, cảm xúc, vật chất/dịch vụ) mà NCNNC nhận được từ các nguồn chính thức (cán bộ Đề án, tổ chức đoàn thể, cán bộ y tế) và phi chính thức (người thân, bạn bè cùng giới, mạng xã hội).
- Lý thuyết hệ thống sinh thái (Ecological Systems Theory): Xem xét NCNNC trong mối tương tác đa chiều giữa các tầng bậc môi trường: vi mô (đặc điểm cá nhân, nhận thức, khu nhà trọ), trung gian (mối quan hệ với đồng nghiệp, bạn bè, quản lý doanh nghiệp), ngoại hệ (các dịch vụ y tế, mạng lưới đoàn thể tại địa phương) và vĩ mô (hệ thống chính sách, pháp luật về bảo hiểm y tế, lao động, dân số).
- Lý thuyết nhận thức – hành vi (Cognitive Behavioral Theory): Đóng vai trò định hướng cho tiến trình can thiệp CTXH cá nhân, tập trung nhận diện và điều chỉnh các nhận thức sai lệch về SKSS, từ đó củng cố niềm tin và thúc đẩy các hành vi chăm sóc sức khỏe tích cực.
| Khái niệm và Lý thuyết |
Nội dung vận dụng trong luận án |
| Nữ công nhân nhập cư (NCNNC) |
Lao động nữ từ các tỉnh khác chuyển đến Bình Dương, chưa có hộ khẩu thường trú, tạm trú từ 6 tháng trở lên, độ tuổi 18–49, làm việc tại các nhà máy/khu công nghiệp. |
| Hoạt động CTXH phòng ngừa |
Cung cấp kiến thức CSSKSS, cung cấp kỹ năng liên quan đến SKSS, cung cấp thông tin về quyền và cung cấp thông tin về luật liên quan CSSKSS. |
| Hoạt động CTXH can thiệp |
Hỗ trợ tâm lý (lắng nghe, giải tỏa căng thẳng) và kết nối dịch vụ CSSKSS (chuyển gửi, hỗ trợ tiếp cận cơ sở y tế chuyên môn). |
| Lý thuyết hỗ trợ xã hội |
Đánh giá các nguồn lực hỗ trợ chính thức và phi chính thức tác động đến hành vi SKSS. |
| Lý thuyết hệ thống sinh thái |
Phân tích rào cản và sự tương tác giữa cá nhân NCNNC với gia đình, nhà máy, khu trọ và chính sách. |
| Lý thuyết nhận thức – hành vi |
Định hướng can thiệp thay đổi nhận thức sai và xây dựng hành vi SKSS an toàn trong CTXH cá nhân. |
Phương pháp nghiên cứu
Luận án sử dụng phương pháp nghiên cứu kết hợp (định lượng, định tính và thực nghiệm CTXH):
- Nghiên cứu lý luận: Tổng quan, phân tích và tổng hợp các văn bản pháp luật, chính sách dân số, tài liệu học thuật trong và ngoài nước.
- Nghiên cứu định lượng: Sử dụng bảng hỏi cấu trúc để khảo sát mẫu NCNNC tại cộng đồng nhằm thu thập dữ liệu về nhân khẩu học, thực trạng nhận thức, hành vi SKSS, mức độ tiếp nhận các hoạt động hỗ trợ và các yếu tố ảnh hưởng.
- Nghiên cứu định tính: Thực hiện phỏng vấn sâu và thảo luận nhóm với NCNNC, cán bộ quản lý đề án thanh niên công nhân, cán bộ công đoàn, Hội Phụ nữ và cán bộ y tế để làm rõ các rào cản tâm lý, điều kiện sống và nhu cầu hỗ trợ.
- Phương pháp thực nghiệm CTXH cá nhân: Áp dụng tiến trình can thiệp 6 bước trên 01 trường hợp NCNNC gặp vấn đề SKSS phức tạp tại Bình Dương (từ tháng 7/2022 đến tháng 9/2022) gồm: (1) Tiếp nhận thân chủ; (2) Thu thập thông tin; (3) Chẩn đoán vấn đề, phân tích nguyên nhân và xác định vấn đề ưu tiên; (4) Lập kế hoạch can thiệp; (5) Triển khai kế hoạch; (6) Đánh giá và lượng giá kết quả can thiệp.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU
Chương 1 hệ thống hóa các tài liệu khoa học trong nước và quốc tế liên quan đến thực trạng SKSS của nữ lao động di cư và các can thiệp trợ giúp xã hội. Tác giả phân tích các chủ đề trọng tâm: thực trạng sử dụng biện pháp tránh thai, tỷ lệ quan hệ tình dục trước hôn nhân, nguy cơ mang thai ngoài ý muốn, nạo phá thai và nhiễm khuẩn đường sinh sản/STIs/HIV. Phân tích các rào cản tiếp cận dịch vụ y tế xuất phát từ học vấn, thời gian làm việc kéo dài, điều kiện cư trú tạm bợ, thiếu hụt bảo hiểm y tế và sự kỳ thị xã hội. Chương này xác định các khoảng trống lý luận và thực tiễn tại Việt Nam, từ đó xác lập tính cấp thiết của việc nghiên cứu toàn diện hoạt động CTXH trong CSSKSS đối với NCNNC tại Bình Dương.
Chương 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CÔNG TÁC XÃ HỘI TRONG CHĂM SÓC SỨC KHỎE SINH SẢN ĐỐI VỚI NỮ CÔNG NHÂN NHẬP CƯ VÀ PHƯƠNG PHÁP LUẬN NGHIÊN CỨU
Chương 2 làm rõ hệ thống khái niệm công cụ: công nhân, nữ công nhân, nhập cư, NCNNC; phân tích đặc điểm tâm lý (lối sống khép kín, tâm thế khách tạm, chịu thương chịu khó, mặc cảm vị thế xã hội) và đặc điểm lao động (làm việc theo ca, tăng ca, gánh nặng vai trò kép). Tác giả xác lập nội hàm các hoạt động CTXH trong CSSKSS chia thành hai mảng: phòng ngừa (cung cấp kiến thức, kỹ năng, thông tin quyền và luật) và can thiệp (hỗ trợ tâm lý, kết nối dịch vụ). Đồng thời, chương này luận giải việc ứng dụng lý thuyết hỗ trợ xã hội, hệ thống sinh thái, nhận thức – hành vi; phân tích khung pháp lý, chính sách hiện hành tại Việt Nam; trình bày phương pháp luận, quy trình nghiên cứu thực tiễn và tiến trình 6 bước của phương pháp thực nghiệm CTXH cá nhân.
Chương 3: THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG CÔNG TÁC XÃ HỘI TRONG CHĂM SÓC SỨC KHỎE SINH SẢN ĐỐI VỚI NỮ CÔNG NHÂN NHẬP CƯ VÀ CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG
Chương 3 trình bày các kết quả khảo sát thực địa tại phường Bình Chuẩn (Thuận An) và phường Mỹ Phước (Bến Cát). Kết quả phản ánh:
- Thực trạng SKSS của NCNNC: Nhận thức về các biện pháp tránh thai, dấu hiệu nhiễm khuẩn đường sinh sản và tác hại của phá thai còn hạn chế; tồn tại tỷ lệ tự điều trị bệnh phụ khoa bằng cách mua thuốc ngoài hiệu thuốc tư nhân hoặc sử dụng đông y; không gian sống tại các khu nhà trọ chật hẹp, thiếu tiện nghi ảnh hưởng trực tiếp đến vệ sinh sinh sản; mạng lưới hỗ trợ khi gặp sự cố SKSS chủ yếu dựa vào nguồn phi chính thức (người thân, bạn bè cùng giới).
- Thực trạng triển khai các hoạt động CTXH: Các hoạt động hỗ trợ được cung cấp bởi đội ngũ bán chuyên trách (cán bộ đoàn thể, đề án thanh niên công nhân); hoạt động cung cấp kiến thức và thông tin luật được triển khai nhiều hơn, trong khi hoạt động trang bị kỹ năng đàm phán an toàn tình dục, thông tin về quyền SKSS và hỗ trợ tâm lý chuyên sâu còn rất hạn chế và thiếu đồng bộ.
- Các yếu tố ảnh hưởng: Kiểm định thống kê khẳng định trình độ học vấn, tình trạng hôn nhân, thời gian cư trú, thời gian làm việc và mức thu nhập có mối liên hệ ý nghĩa với mức độ tiếp nhận các hoạt động hỗ trợ. Đặc điểm mạng lưới xã hội (sự hỗ trợ của bạn bè cùng giới, cán bộ y tế, mạng xã hội) đóng vai trò tác động quan trọng. Về phía người hỗ trợ, NCNNC mong đợi người trợ giúp phải có kiến thức chuyên môn về SKSS, có kỹ năng giữ bí mật thông tin riêng tư, thấu hiểu nhu cầu của công nhân và ưu tiên người cùng giới tính.
Chương 4: ỨNG DỤNG PHƯƠNG PHÁP CÔNG TÁC XÃ HỘI CÁ NHÂN TRONG CHĂM SÓC SỨC KHỎE SINH SẢN ĐỐI VỚI NỮ CÔNG NHÂN NHẬP CƯ TẠI BÌNH DƯƠNG
Chương 4 mô tả tiến trình thực nghiệm can thiệp CTXH cá nhân trên 01 trường hợp NCNNC đang gặp khủng hoảng về SKSS tại Bình Dương trong bối cảnh sau đại dịch COVID-19. Tác giả vận dụng đầy đủ 6 giai đoạn can thiệp:
- Tiếp nhận thân chủ: Thiết lập mối quan hệ tin cậy, tôn trọng và bảo mật.
- Thu thập thông tin: Tìm hiểu hoàn cảnh gia đình, điều kiện kinh tế, tiền sử SKSS và các rào cản tâm lý xã hội.
- Chẩn đoán vấn đề, phân tích nguyên nhân và xác định vấn đề ưu tiên: Xác định các nhận thức sai lệch, sang chấn tâm lý và sự thiếu hụt nguồn lực tiếp cận dịch vụ y tế chuyên khoa.
- Lập kế hoạch can thiệp: Cùng thân chủ xây dựng mục tiêu ngắn hạn và dài hạn, lựa chọn các kỹ thuật can thiệp nhận thức – hành vi và xác định các dịch vụ y tế cần kết nối.
- Triển khai kế hoạch: Tiến hành tham vấn tâm lý, trang bị kiến thức và kỹ năng tự chăm sóc, kết nối thân chủ đến cơ sở y tế uy tín để thăm khám và điều trị an toàn.
- Đánh giá việc ứng dụng: Lượng giá sự thay đổi tích cực về trạng thái tâm lý, mức độ nâng cao nhận thức, sự chuyển biến hành vi và khả năng tự chủ giải quyết vấn đề của thân chủ, khẳng định tính khả thi và hiệu quả của phương pháp CTXH cá nhân.
Kết quả và những đóng góp mới
Đóng góp mới về mặt lý luận
- Bổ sung và làm sáng tỏ hệ thống lý luận về CTXH trong CSSKSS đối với NCNNC tại Việt Nam, xác định rõ cấu trúc hai nhóm hoạt động cơ bản: hoạt động phòng ngừa (cung cấp kiến thức, kỹ năng, thông tin quyền, thông tin luật) và hoạt động can thiệp (hỗ trợ tâm lý, kết nối dịch vụ).
- Xác lập và chuẩn hóa các nguyên tắc thực hành CTXH chuyên biệt khi can thiệp các vấn đề SKSS cho NCNNC, bao gồm: nguyên tắc giữ bí mật tuyệt đối đối với thông tin nhạy cảm; nguyên tắc cá biệt hóa theo từng hoàn cảnh và nhu cầu cụ thể; nguyên tắc tôn trọng quyền tự quyết và thúc đẩy sự tham gia chủ động của thân chủ.
- Khẳng định tính khả thi của việc kết hợp lý thuyết hỗ trợ xã hội, hệ thống sinh thái và nhận thức – hành vi trong việc định khung và thực thi các can thiệp CTXH đối với nhóm lao động nhập cư.
Đóng góp mới về mặt thực tiễn
- Khắc họa bức tranh thực trạng CSSKSS và hoạt động trợ giúp xã hội tại các khu công nghiệp trọng điểm của Bình Dương; chỉ ra các khoảng trống lớn về kỹ năng tình dục an toàn, thông tin quyền và can thiệp tâm lý.
- Xác định cụ thể các yếu tố nhân khẩu học (học vấn, hôn nhân, thời gian cư trú) và đặc tính của người trợ giúp (chuyên môn SKSS, thấu hiểu, giữ bí mật, cùng giới tính) có ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng tiếp nhận hoạt động hỗ trợ của NCNNC.
- Minh chứng bằng thực nghiệm tiến trình 6 bước của phương pháp CTXH cá nhân, cung cấp mô hình can thiệp mẫu có thể áp dụng cho các cơ sở trợ giúp xã hội và tổ chức đoàn thể tại địa bàn công nghiệp.
Khuyến nghị và giải pháp đề xuất
- Đối với chính sách và pháp luật: Hoàn thiện khung chính sách an sinh xã hội và CSSKSS đặc thù cho lao động di cư; mở rộng quyền tiếp cận BHYT linh hoạt không phụ thuộc vào nơi cư trú; xây dựng quy định pháp lý công nhận vị trí việc làm của nhân viên xã hội trong doanh nghiệp và khu công nghiệp.
- Đối với chính quyền địa phương và các tổ chức đoàn thể: Đổi mới nội dung và phương thức truyền thông SKSS phù hợp với khung giờ làm việc của công nhân; tổ chức các chương trình trang bị kỹ năng đàm phán an toàn tình dục; nâng cao năng lực chuyên môn và kỹ năng CTXH cho đội ngũ cán bộ bán chuyên trách (cán bộ Đề án thanh niên công nhân, Đoàn Thanh niên, Hội Phụ nữ).
- Đối với doanh nghiệp và cơ sở y tế: Tăng cường phối hợp giữa y tế địa phương và doanh nghiệp để tổ chức khám phụ khoa lưu động ngoài giờ làm việc; thiết lập mạng lưới kết nối dịch vụ y tế thân thiện, chi phí hợp lý và bảo đảm tính riêng tư cho nữ công nhân.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Hạn chế của nghiên cứu
- Do tác động của đại dịch COVID-19, thời gian và nguồn lực triển khai có những giới hạn nhất định, do đó phần thực nghiệm can thiệp bằng phương pháp CTXH cá nhân chỉ thực hiện được trên 01 trường hợp NCNNC cụ thể.
- Địa bàn khảo sát định lượng tập trung tại 02 phường công nghiệp của tỉnh Bình Dương (Bình Chuẩn và Mỹ Phước), đội ngũ hỗ trợ thực địa chủ yếu là nhân viên xã hội bán chuyên nghiệp, chưa phản ánh được toàn diện mô hình CTXH chuyên nghiệp ở phạm vi rộng lớn hơn.
Hướng nghiên cứu tiếp theo
- Mở rộng phạm vi khảo sát và thực nghiệm can thiệp trên quy mô mẫu lớn hơn tại nhiều tỉnh, thành phố công nghiệp khác nhau trong cả nước.
- Triển khai ứng dụng và đánh giá hiệu quả của các phương pháp CTXH khác như CTXH nhóm (các câu lạc bộ đồng đẳng tại khu nhà trọ) và phát triển cộng đồng (xây dựng môi trường nhà trọ an toàn, thân thiện với SKSS).
- Đi sâu nghiên cứu đánh giá tác động dài hạn của các chính sách BHYT và dịch vụ y tế lưu động đối với hành vi chăm sóc sức khỏe của lao động nhập cư.
Giá trị tham khảo
Luận án là tài liệu tham khảo có giá trị chuyên môn đối với nhiều nhóm đối tượng:
- Giảng viên, nghiên cứu sinh và học viên ngành Công tác xã hội, Xã hội học, Giới và Phát triển: Có thể khai thác khung lý thuyết tích hợp (hỗ trợ xã hội, hệ thống sinh thái, nhận thức – hành vi), quy trình thao tác hóa khái niệm hoạt động CTXH trong CSSKSS và quy trình thực nghiệm can thiệp cá nhân 6 bước được trình bày chi tiết trong Chương 2 và Chương 4.
- Cán bộ quản lý an sinh xã hội, Liên đoàn Lao động và Hội Liên hiệp Phụ nữ: Tham khảo các số liệu thực chứng và phân tích yếu tố ảnh hưởng trong Chương 3 để thiết kế các chương trình truyền thông, tư vấn tâm lý và cung cấp dịch vụ y tế phù hợp với đặc thù giờ giấc, tâm lý của lao động nữ nhập cư.
- Các tổ chức phi chính phủ và cơ sở cung cấp dịch vụ y tế: Sử dụng các khuyến nghị về mô hình kết nối dịch vụ y tế thân thiện và bảo mật thông tin để nâng cao chất lượng dịch vụ chăm sóc sức khỏe cộng đồng tại các khu công nghiệp.
Câu hỏi thường gặp
1. Luận án phân chia hoạt động công tác xã hội trong CSSKSS cho NCNNC thành những nhóm cụ thể nào?
Luận án phân loại thành 2 nhóm hoạt động chính:
- Nhóm hoạt động phòng ngừa: Gồm 4 hoạt động là cung cấp kiến thức CSSKSS, cung cấp kỹ năng liên quan đến CSSKSS (kỹ năng từ chối tình dục nguy cơ, kỹ năng đàm phán an toàn tình dục, sử dụng bao cao su), cung cấp thông tin về quyền liên quan CSSKSS và cung cấp thông tin về luật liên quan CSSKSS.
- Nhóm hoạt động can thiệp: Gồm 2 hoạt động là hỗ trợ tâm lý (lắng nghe, giải tỏa căng thẳng, tạo sự đồng cảm) và kết nối dịch vụ CSSKSS (chuyển gửi và hỗ trợ tiếp cận các cơ sở y tế chuyên môn an toàn).
2. Những rào cản chính nào khiến NCNNC tại Bình Dương gặp khó khăn trong việc tiếp cận dịch vụ CSSKSS?
Các rào cản được xác định gồm:
- Thời gian làm việc kéo dài và tăng ca liên tục khiến công nhân không có thời gian đi khám trong giờ hành chính của các cơ sở y tế công.
- Thu nhập hạn chế cùng tâm lý tiết kiệm gửi tiền về quê khiến họ e ngại chi phí khám chữa bệnh cao.
- Thiếu hụt thông tin về quyền lợi BHYT và nơi cung cấp dịch vụ uy tín.
- Rào cản tâm lý sợ bị kỳ thị, sợ lộ thông tin cá nhân và cảm giác mặc cảm về thân phận "khách tạm" tại nơi cư trú.
3. Tiến trình thực nghiệm phương pháp CTXH cá nhân trong luận án được tiến hành qua các bước nào?
Tiến trình thực nghiệm được triển khai đầy đủ qua 6 bước: (1) Tiếp nhận thân chủ; (2) Thu thập thông tin; (3) Chẩn đoán vấn đề, phân tích nguyên nhân và xác định vấn đề ưu tiên; (4) Lập kế hoạch can thiệp; (5) Triển khai kế hoạch can thiệp (tham vấn nhận thức – hành vi, hỗ trợ tâm lý, kết nối dịch vụ khám chữa bệnh); (6) Đánh giá và lượng giá kết quả can thiệp.
4. Những đặc điểm nào của nhân viên xã hội được NCNNC mong đợi nhất khi hỗ trợ CSSKSS?
Khảo sát chỉ ra 4 đặc điểm then chốt mà NCNNC mong đợi ở người hỗ trợ:
- Có kiến thức chuyên môn và hiểu biết vững về SKSS.
- Có khả năng giữ bí mật thông tin riêng tư và tôn trọng đời sống cá nhân của công nhân.
- Thấu hiểu được nhu cầu, hoàn cảnh và tâm lý của lao động nhập cư.
- Ưu tiên người hỗ trợ là người cùng giới tính (nữ giới) để tạo sự thuận tiện và cởi mở trong chia sẻ các vấn đề nhạy cảm.
Kết luận
Luận án của tác giả Lê Thị Phương Hải đã phân tích thực trạng CSSKSS và đánh giá hệ thống các hoạt động CTXH đối với NCNNC tại tỉnh Bình Dương dựa trên khung lý thuyết hỗ trợ xã hội, hệ thống sinh thái và nhận thức – hành vi. Kết quả nghiên cứu khẳng định NCNNC là nhóm yếu thế chịu nhiều rủi ro về SKSS và việc triển khai các can thiệp CTXH (bao gồm cả phòng ngừa và can thiệp) có vai trò then chốt trong việc nâng cao năng lực tự chăm sóc của công nhân. Thông qua thực nghiệm phương pháp CTXH cá nhân, công trình đã chứng minh tính hiệu quả của tiến trình can thiệp chuyên nghiệp trong việc hỗ trợ giải quyết khủng hoảng SKSS cho thân chủ. Các kết quả nghiên cứu và khuyến nghị của luận án cung cấp cơ sở thực chứng có giá trị cho việc điều chỉnh chính sách an sinh xã hội, hoàn thiện dịch vụ y tế và phát triển thực hành CTXH chuyên nghiệp tại các khu công nghiệp ở Việt Nam.