Chương 1: Những vấn đề lý luận về hoạt động công tác xã hội cho bệnh nhân đái tháo đường. Chương 2: Thực trạng hoạt động công tác xã hội cho bệnh nhân đái tháo đường từ thực tiễn tại Bệnh viện Nội tiết Trung ương. Chương 3: Đề xuất định hướng và giải pháp tăng cường cung cấp hạt động công tác xã hội đáp ứng nhu cầu bệnh nhân đái tháo đường từ thực tiễn bệnh viện nội tiết trung ương 13 Chƣơng 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ HOẠT ĐỘNG CÔNG TÁC XÃ HỘI ĐỐI VỚI BỆNH NHÂN ĐÁI THÁO ĐƢỜNG 1. Lý luận về đái tháo đƣờng và bệnh nhân đái tháo đƣờng 1.
Một số khái niệm cơ bản * Đái tháo đường Đái tháo đường là một bệnh mãn tính với biểu hiện lượng đường trong máu luôn cao hơn mức bình thường do cơ thể của người bệnh thiếu hụt hoặc đề kháng với insulin dẫn đến rối loạn chuyển hóa đường trong máu. [17] Đái tháo đường có 2 loại: [4] Tuýp 1: Người mắc bệnh đái tháo đường bị thiếu insulin do tuyến tụy không sản xuất insulin Tuýp 2: Người mắc bệnh đái tháo đường bị đề kháng với insulin nghĩa là vẫn có thẻ sản xuất insulin nhưng nó không đủ để chuyển hóa đường thành năng lượng. Khi mắc bệnh đái tháo đường cơ thể không chuyển hóa các chất bột đường từ thực phẩm ăn hàng ngày một cách hiệu quả để tạo ra năng lượng. Do đó gây ra hiện tượng lượng đường tích tụ tăng dần trong máu.
Lượng đường trong máu thường xuyên ở mức cao là tăng nguy cơ các bệnh tim mạch, gây ra tồn thương ở các cơ quan chức năng khác như mắt, thận, thần kinh và các bệnh lý nghiêm trọng khác. Như vậy có thể thấy, bệnh đái tháo đường khá phổ biến và còn được gọi là (kẻ giết người thầm lặng) vì bệnh tiến triển từ từ nhưng để lại hậu quả rất nghiêm trọng như đột quỵ, mù lòa, nhồi máu cơ tim, suy thận, tổn thương bàn chân, đáy mắt, loét chân có thể dẫn đến cắt cụt chi và gây tử vong. 14 Phần lớn, bệnh nhân đái tháo đường (nhất là bệnh nhân ở các nước đang phát triển và kém phát triển) thì không biết mình mắc bệnh, họ chỉ thực sự nghi mình bị bệnh khi có những dấu hiệu bệnh lý khá rõ nét và đi xét nghiệm máu. Đây là thực trạng đáng báo động, bởi nếu không phát hiện và điều trị can thiệp sớm, người mắc đái tháo đường nhanh chóng bị chuyển biến suy đa chức năng như thận, mắt, tim, bị biến chứng, hoại tử, và dẫn tới tử vong.
* Khái niệm bệnh nhân Khái niệm bệnh nhân đồng nghĩa với người bệnh theo luật khám bênh, chữa bệnh. Người bệnh là người sử dụng dịch vụ khám bệnh, chữa bệnh. Bệnh nhân khi đến khám bệnh và chữa bệnh tại bệnh viện sẽ được bác sĩ thực hiện các quy trình khám bệnh, chẩn đoán bệnh, điều trị bệnh, chỉ định phương pháp điều trị phù hợp theo quy định và đã được công nhận giúp điều trị, chăm sóc, phục hồi chức năng…[5] * Khái niệm bệnh nhân đái tháo đường Qua nghiên cứu một số tài liệu, thì khái niệm về bệnh nhân đái tháo đường được cho là: Bệnh nhân đái tháo đường là người sử dụng dịch vụ khám bệnh, chữa bệnh được chẩn đoán bệnh đái tháo đường, giảm sút sức khỏe thể chất, sức khỏe tinh thần, tâm lý xáo trộn hoang mang mệt mỏi, sức khỏe xã hội (các mối quan hệ) bệnh nhân đái tháo đường họ thuộc nhóm đối tượng yếu thế, phải phụ thuộc vào bệnh viện và các nhân viên y tế, cần được trợ giúp các hoạt động công tác xã hội. Một số đặc điểm tâm lý và nhu cầu của bệnh nhân đái tháo đường * Một số đặc điểm tâm lý của bệnh nhân đái tháo đường Bệnh nhân đái tháo đường chất trên vai gánh nặng bệnh tật, chăm sóc, điều trị, cộng với quan niệm trong cộng đồng là đái tháo đường là nhận án tử hình trong thầm lặng, các nhà nghiên cứu cho thấy bệnh nhân đái tháo đường có tâm lý chán nản, bất cần, lo lắng, buồn phiền, căng thẳng, mặc cảm mất tự 15 ti, ngại giao tiếp, khủng hoảng, bị kích động có nguy cơ rơi vào trầm cảm, bất cần dẫn đến hoang mang mất tự tin trong cuộc sống.
Một số bệnh nhân rất lo lắng vào quá trình chữa trị, gây nên những vấn đề về mối quan hệ giữa bệnh nhân với người thân trong gia đình, bệnh nhân với đội ngũ y, bác sỹ và cơ sở khám bệnh, chữa bệnh, điều trị bệnh cho bệnh nhân đái tháo đường. Theo mô hình tâm lý 5 giai đoạn của Kubler-Ross (1970) được giảng dạy trong nhiều tài liệu y khoa về tâm lý người bệnh nặng, bệnh nan y mãn tính, trong đó có bệnh đái tháo đường thì người bệnh thường rơi vào các giai đoạn tâm lý như: [9] - Ở giai đoạn 1 của diễn biến tâm lý, đa phần bệnh nhân cảm thấy không chấp nhận và muốn chối bỏ sự thật về bệnh tật; - Ở giai đoạn 2, bệnh nhân có trạng thái giận dữ, phẫn nộ khi đối diện với thực trạng bệnh tật của mình, nhất là đối với bệnh nhân nữ; - Ở giai đoạn 3, tin tưởng vào quá trình điều trị; hy vọng/mong muốn khỏi bệnh - Ở giai đoạn 4, giai đoạn trầm cảm (im lặng, khóc, đau buồn), bệnh nhân, trong đó bệnh nhân nữ thường thể hiện rõ nét hơn - Ở giai đoạn 5, khi đã có thời gian đối diện với bệnh tật, bệnh nhân chấp nhận tình trạng bệnh lý của mình, sẵn sàng sống chung với bệnh và chấp nhận các tình huống xấu nhất có thể xảy ra, trong đó những người đơn thân, nhóm có tình trạng hôn nhân khác, người mắc bệnh lý kèm theo đái tháo đường biến chứng có tỉ lệ cao nhóm không mắc bệnh kèm theo. Bệnh nhân cả nam và nữ đều có trạng thái tâm lý sốc; căng thẳng, giận dữ và trầm cảm ở tất cả các giai đoạn bệnh tật, nhưng tỉ lệ nữ, người có độ tuổi trẻ đang dở dang với công việc, sự nghiệp, người mới điều trị lần đầu tại bệnh viện, người đơn thân, người mắc bệnh kèm theo đái tháo đường, người có nghề 16 nghiệp nội trợ có tỉ lệ tâm lý đáng quan tâm cao hơn các nhóm. Điều đó có thể thấy như các nghiên cứu về đặc điểm tâm lý của bệnh nhân đái tháo đường tại Việt Nam và thế giới, bệnh nhân đái tháo đường tại BVNT trong nghiên cứu này có tỉ lệ gặp các vấn đề tâm lý đáng chú ý khác nhau.
* Nhu cầu của bệnh nhân đái tháo đường trong khám bệnh, chữa bệnh Trong nghiên cứu của tác giả Nguyễn Hà My (2016) thì khi mắc bệnh nặng, mãn tính thì bênh nhân có nhu cầu: [16] (i) Nhu cầu hỗ trợ tâm lý: Giảm bớt lo sợ về sự suy giảm sức khỏe, giảm bớt nỗi lo chống chọi với bệnh tật, giảm bớt nỗi lo về gánh nặng tài chính và những hậu quả xấu có thể xảy ra (cái chết) đối với bệnh nhân đái tháo đường. (ii) Nhu cầu về thông tin y tế: Nhu cầu cung cấp thông tin về mục đích xét nghiệm, can thiệp, cần biết lợi ích, nguy cơ của mỗi phương pháp điều trị, nhu cần thông báo về mức độ thuyên giảm của bệnh hay những thông tin về sự cải thiện tình trạng sức khỏe hoặc nguy cơ, mức độ đe dọa của bệnh. (iii) Nhu cầu về dịch vụ chăm sóc của người bệnh: Bệnh nhân cần sự động viên, khích lệ của các bác sĩ, cần sự chăm sóc của điều dưỡng và người thân trong gia đình, bệnh nhân cần được tôn trọng bí mật thông tin từ nhân viên y tế. (iv) Nhu cầu hỗ trợ thể chất, sinh hoạt hàng ngày: Bệnh nhân cần hỗ trợ về mặt vận động, đi lại, hỗ trợ hướng dẫn để tự chăm sóc, những hoạt động tinh thần khác… (v) Nhu cầu giao tiếp, duy trì quan hệ xã hội: Cần được tôn trọng, cần hỗ trợ để tự tin hơn trong giao tiếp, có niềm tin trong điều trị bệnh, cư xử như một người bình thường trước khi bị bệnh, Trong nghiên cứu này, nhu cầu cung cấp hoạt động công tác xã hội của bệnh nhân đái tháo đường được căn cứ theo thông tư hướng dẫn của Bộ y tế về nhiệm vụ công tác xã hội trong bệnh viện, và bổ sung dựa trên thực tiễn hoạt 17 động nghề công tác xã hội trong bệnh viện tại Việt Nam và trên thế giới, được chi tiết hóa ở 3 nhóm nhu cầu mà bệnh nhân cần: (1) nhu cầu cung cấp thông tin, tư vấn khám, chữa bệnh gồm 2 nội dung: Hoạt động tư vấn, tư vấn thông tin chung về khám bênh, chữa bệnh, dịch vụ tư vấn thông tin điều trị bệnh, (2) Nhu cầu cung cấp dịch vụ hỗ trợ tâm lý, xã hội (3)Nhu cầu cung cấp dịch vụ kết nối nguồn lực và hỗ trợ từ thiện.
Chi tiết nội dung các hoạt động được giải thích rõ hơn trong nội dung lý luận về cung cấp hoạt động công tác xã hội cho bệnh nhân đái tháo đường dưới đây. Lý luận về hoạt động công tác xã hội đối với bệnh nhân đái tháo đường 1. Một số khái niệm * Khái niệm hoạt động công tác xã hội Theo đề án phát triển nghề công tác xã hội giai đoạn 2010 – 2020 tại Quyết định số 32/2010/QĐ –TTG do Thủ tướng phê duyệt, CTXH được định nghĩa như sau: CTXH mang tính chuyên môn, được thực hiện theo các nguyên tắc và phương pháp riêng nhằm hỗ trợ các cá nhân, gia đình, nhóm xã hội và cộng đồng dân cư trong việc giải quyết các vấn đề của họ. Qua đó, CTXH theo đuổi mục tiêu vì hạnh phúc cho con người và tiến bộ xã hội.
[11] Theo tác giả Bùi Xuân Mai (2013): Hoạt động công tác xã hội có thể coi là một loại hình hoạt động xã hội được cung cấp, điều phối bởi các nhân viên công tác xã hội. Việc cung cấp các hoạt động công tác xã hội không thể tách rời với các hoạt động y tế, hoạt động giáo dục, hoạt động truyền thông và các dịch vụ khác. Chính vì vậy, nhân viên công tác xã hội phải có sự kết nối chặt chẽ với các hoạt động xã hội khác trong quá trình thực hiện hoạt động công tác xã hội.[11] Từ luận quan niệm về hoạt động CTXH trong Đề án 32 của Chính phủ và quan niệm của tác giả Bùi Thị Xuân Mai thì chúng tôi cho rằng: hoạt 18 động công tác xã hội có thể coi là một loại hình hoạt động xã hội được cung cấp, điều phối bởi các nhân viên công tác xã hội nhằm hỗ trợ các cá nhân, gia đình, nhóm xã hội và cộng đồng dân cư trong việc giải quyết các vấn đề của họ.