MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài Chăm sóc sức khỏe, nhất là sức khỏe cho trẻ em luôn là một trong những ưu tiên hàng đầu của mọi quốc gia, xã hội càng phát triển, nhu cầu về CSSK càng đòi hỏi được đáp ứng với chất lượng dịch vụ cao. Tại các nước phát triển trên thế giới, sự có mặt của CTXH trong CSSK tại các bệnh viện đã có từ lâu và trở thành một hoạt động chuyên nghiệp, các nhân viên CTXH trong bệnh viện đã đóng góp những vai trò nhất định trong việc giảm bớt gánh nặng áp lực công việc cho đội ngũ nhân viên y tế cũng như hỗ trợ, tư vấn cho các bệnh nhân và người nhà bệnh nhân, làm việc với các nhóm xã hội yếu thế trong bệnh viện như trẻ em, vị thành niên, phụ nữ và người cao tuổi …(Trương Nguyễn Xuân Quỳnh và Phạm Thị Thu, 2016). Cùng với sự phát triển chung của đất nước thì trong những năm gần đây ngành y tế nước ta cũng đã có những bước phát triển vượt bậc, công tác CSSK cho nhân dân, đặc biệt cho trẻ em, bệnh nhân nhi được thực hiện tốt hơn (Thông tấn xã Việt Nam, 2016).
Theo số liệu thống kê của Tổng cục Thống kê (2019), Dân số trẻ em là 24.733 em (chiếm 25,75% trên tổng dân số), trong đó trẻ em nam là 12.365 em (chiếm 52% trên tổng dân số trẻ em), trẻ em nữ là 11. Tỷ lệ trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt trên tổng dân số trẻ em có xu hướng giảm, đến cuối năm 2020 còn khoảng 7% (năm 2019 là 7,16%) (Báo cáo Sở LĐTBXH các tỉnh, thành phố năm 2020.) Năm 2020 và giai đoạn 2016-2020, việc bảo đảm thực hiện quyền trẻ em theo đường lối của Đảng, pháp luật, chính sách của Nhà nước và các chuẩn mực quốc tế đạt được nhiều kết quả quan trọng. Trẻ em dưới 6 tuổi, trẻ em thuộc các hộ nghèo, cận nghèo, trẻ em bị nhiễm HIV/AIDS, trẻ em dân tộc thiểu số tại địa bàn đặc biệt khó khăn được cấp hoặc hỗ trợ một phần kinh phí để mua thẻ bảo hiểm y tế, được khám, chữa bệnh và chăm sóc sức khỏe. Tỷ lệ trẻ em dưới 5 tuổi suy dinh dưỡng thể nhẹ cân (cân nặng theo tuổi) giảm còn 12,3% năm 2019 (năm 2018 là 13,2%).
Các chỉ tiêu cơ bản về 1 chăm sóc sức khỏe bà mẹ, trẻ em phản ánh khả năng tiếp cận của người dân đối với dịch vụ chăm sóc sức khoẻ đều đạt độ bao phủ phổ cập và duy trì chất lượng dịch vụ. Tỷ suất tử vong trẻ em dưới 1 tuổi trên 1.000 trẻ đẻ sống giảm từ 14,3 năm 2018 xuống 14,0 năm 2019. Tỷ suất tử vong trẻ em dưới 5 tuổi trên 1.000 trẻ đẻ sống giảm từ 21,4 năm 2018 xuống 21,0 năm 2019 (Báo cáo của Bộ Y tế, 2019). Hiện nay các thống kê chính thức cho số cán bộ y tế làm việc trong lĩnh vực chăm sóc sức khỏe nhi khoa chưa đầy đủ.
Theo các báo cáo khu vực phía Bắc, 327 bệnh viện từ tuyến huyện trở lên có khoảng 1.788 bác sĩ làm việc trong lĩnh vực nhi khoa, bình quân cứ 10.000 trẻ thì chỉ có 2 bác sĩ chăm sóc. Tỷ lệ này ở điều dưỡng là 3,2 điều dưỡng/10. Số liệu tại TP Hồ Chí Minh hiện có 1.452 bác sĩ (656 bác sĩ đa khoa) phục vụ chăm sóc sức khỏe trẻ em, tỷ lệ 9,6 bác sĩ/10. Tỷ lệ điều dưỡng nhi là 9,5/10.
Trong những năm trở lại đây, nhu cầu khám chữa bệnh với chất lượng dịch vụ cao ngày càng lớn, nên lượng bệnh nhân đổ dồn về các bệnh viện chuyên khoa tuyến trên ngày một tăng. Nhu cầu của người bệnh đa dạng trong khi khả năng đáp ứng của hệ thống y tế còn hạn chế gây nên những bức xúc, căng thẳng trong mối quan hệ giữa người bệnh, người nhà người bệnh với nhân viên y tế, với cơ sở y tế. Ngoài ra, hoạt động CTXH trong hệ thống bệnh viện tại Việt Nam là một lĩnh vực còn khá mới, công tác y tế còn gặp khó khăn trong hoạt động hỗ trợ, tham vấn tâm lý, chăm sóc giảm nhẹ, hòa nhập cộng đồng cho bệnh nhân sau khi xuất viện. Hoạt động hỗ trợ, tham vấn tâm lý là một hoạt động rất cần thiết giúp người bệnh không chỉ được đáp ứng về nhu cầu CSSK thể chất mà còn được thỏa mãn nhu cầu về tinh thần, điều này gián tiếp tạo nên thành công trong quá trình điều trị bệnh.
Bên cạnh đó, hoạt động hướng dẫn, hỗ trợ bệnh nhân hòa nhập cộng đồng sau khi xuất viện cũng chưa được hệ thống y tế nước ta quan tâm sâu sắc. Vì những lý do trên, học viên chọn nghiên cứu “Hoạt động công tác xã hội tại Bệnh viện Nhi đồng Đồng Nai” làm đề tài luận văn thạc sĩ của mình. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài 2. Tình hình nghiên cứu ở nước ngoài Trên thế giới việc nghiên cứu, tổ chức mô hình CTXH trong bệnh viện đã có từ lâu đời và các công trình nghiên cứu về hoạt động CTXH trong bệnh viện cũng đã có và nó giúp cho việc thực hành nghề CTXH trong bệnh viện ngày càng phát triển.
CTXH lần đầu tiên được nghiên cứu triển khai trong các Bệnh viện vào năm 1905 tại Boston, Mỹ. Đến nay, hầu hết các bệnh viện ở Mỹ đều có phòng Công tác xã hội và đã trở thành một trong những điều kiện bắt buộc để các bệnh viện được công nhận là hội viên của Hội các bệnh viện (Joan, 2016). Đầu thế kỷ XIX, dạng công tác xã hội sơ khai được thực hiện bởi các nhà truyền giáo và các tình nguyện viên (ở Mỹ). Những tình nguyện viên thường xuyên được tuyển chọn và được phân công giúp đỡ những người nghèo đói, ốm yếu, bệnh tật, trẻ em mồ côi, người già không nơi nương tựa,.Năm 1877, “Tổ chức từ thiện xã hội” được thành lập ở Mỹ đã chú ý tới việc tổ chức các tình nguyện viên.
Cũng từ đó các tình nguyện viên của những năm 1880-1890 đã trở thành những nhân viên công tác xã hội. Từ những ngày đầu tiên của lịch sử ra đời ngành CTXH trong bệnh viện đến nay đã trải qua hơn một thế kỷ, CTXH trong bệnh viện đã ngày càng chứng tỏ là một nghề không thể thiếu trong bệnh viện các nước phát triển, ở châu Âu, châu Mỹ, châu Úc,. Nhân viên CTXH tham gia vào các hoạt động trong bệnh viện như là một lực lượng, một đội ngũ không thể thiếu được, bên cạnh đội ngũ y bác sĩ và điều dưỡng của bệnh viện. Thậm chí, theo kết quả của một cuộc khảo sát quốc gia về chứng chỉ hành nghề của NV CTXH tại Mỹ thì bệnh viện là môi trường làm việc thông dụng nhất của người làm nghề CTXH (Whitaker, Weismiller, Clark & Wilson, 2006).
Nghiên cứu cũng cho thấy các bệnh viện trên thế giới hiện nay đều phải giải quyết những vấn đề nghiêm trọng của bệnh nhân, khối lượng công việc của bệnh viện gia tăng, những công việc liên quan đến những thủ tục giấy tờ, danh 3 sách bệnh nhân chờ đợi được cung cấp dịch vụ ngày càng tăng (Whitaker, Weismiller, Clark & Wilson, 2006). Công tác xã hội đã trở thành một lĩnh vực ngày càng được các nhà hoạch định chính sách quan tâm và là một khái niệm quan trọng trong chăm sóc sức khỏe giúp tăng hiệu quả và giảm chi phí y tế (Eichler et al., Citation2009; Haun et al. Kiến thức về sức khỏe được Tổ chức Y tế Thế giới thừa nhận là một yếu tố quyết định quan trọng đối với sức khỏe và được gọi là "các yếu tố cá nhân và quan hệ ảnh hưởng đến khả năng của một người trong việc thu thập, hiểu và sử dụng thông tin về sức khỏe và các dịch vụ sức khỏe" (Batterham et al., Trích dẫn 2016). Công tác xã hội thấp có tác động đến tình trạng sức khỏe kém (Nutbeam, Citation2000; Sorensen et al., Citation2012) và có mối liên hệ với những bất lợi xã hội – chẳng hạn như trình độ học vấn và thu nhập thấp – và tình trạng nhập cư (Beauchamp et al., Citation2015; Bo và cộng sự, Citation2014; Paasche-Orlow & Wolf, Citation2007).
Sự phức tạp của các tổ chức y tế có thể ảnh hưởng đến cách các cá nhân truy cập và tham gia vào thông tin và chăm sóc sức khỏe. Sự tương tác này thúc đẩy trách nhiệm của các tổ chức chăm sóc sức khỏe trong việc cải thiện khả năng đáp ứng công tác xã hội của họ đối với nhu cầu công tác xã hội của từng cá nhân (Herndon et al. Tuy nhiên, để có thể đáp ứng nhu cầu công tác xã hội của từng cá nhân, cần phải tập trung mở rộng ra ngoài truyền thông sức khỏe và giáo dục sức khỏe, trong đó thừa nhận tầm quan trọng của các điều kiện xã hội, kinh tế và môi trường (Nutbeam, Citation2000; Sorensen et al., Citation2012) Trong hơn một thế kỷ, các nhân viên xã hội của bệnh viện thường tham gia vào các hoạt động kiến thức sức khỏe với bệnh nhân và gia đình (Findley, Citation2015; Liechty, Citation2011). Tuy nhiên, tài liệu về công tác xã hội hiếm khi sử dụng thuật ngữ công tác xã hội để mô tả công tác xã hội tại bệnh viện.
Công tác xã hội cũng không đóng góp nhiều cho nghiên cứu kiến thức về sức khỏe. Mối quan tâm về mối liên hệ giữa công tác xã hội thấp và những bất lợi xã hội sẽ chỉ ra 4 tiềm năng lớn cho sự liên kết hiệu quả giữa lý thuyết công tác xã hội và công tác xã hội (Liechty, Citation2011). Ví dụ, khuôn khổ con người trong môi trường hệ sinh thái (Hamilton, Citation1951), đặc trưng cho công tác xã hội, có thể cung cấp hiểu biết rộng hơn về các yếu tố ở các cấp độ khác nhau ảnh hưởng đến công tác xã hội của bệnh nhân và gia đình bằng cách tính đến sự phức tạp của sự tương tác giữa các cá nhân và môi trường của họ (Green & McDermott, Citation2010). Hơn nữa, việc kết hợp các lý thuyết và mô hình khác nhau với khuôn khổ con người trong môi trường có thể cho phép mở rộng hiểu biết về các cơ chế xã hội và con người phức tạp.
Một ví dụ có thể là cửa sổ chịu đựng của mô hình chấn thương tâm lý (Siegel, Citation1999), có thể được sử dụng để hiểu rõ hơn mức độ căng thẳng do các điều kiện xã hội và y tế gây ra có thể ảnh hưởng đến công tác xã hội của bệnh nhân và gia đình. Cửa sổ khoan dung được sử dụng để mô tả vùng kích thích, không gian mà một người có thể hoạt động hiệu quả nhất, ảnh hưởng đến khả năng tiếp nhận, xử lý và tích hợp thông tin một cách dễ dàng (Corrigan et al.