Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÍ LUẬN CHUNG VỀ ĐỊA DANH VÀ TÁC GIA TỐ HỮU 1. Khái niệm Mỗi điểm địa lý khác nhau được con người gọi bằng một tên riêng. Đó là tên địa lý hay còn gọi là địa danh. Theo nghĩa chiết tự “địa” nghĩa là đất, “danh” có nghĩa là tên, “địa danh” có nghĩa là tên đất.
Là một thành tố ngôn ngữ, khái niệm địa danh có sự mở rộng về nội hàm ý nghĩa. Chính vì vậy, các nhà khoa học đã đưa ra nhiều quan điểm khác nhau về địa danh. Trước tiên, địa danh là thuật ngữ có nguồn gốc từ tiếng Hy Lạp Toponima hay Toponoma được dịch là "tên gọi vị trí". Ngành khoa học nghiên cứu về địa danh được gọi là: địa danh học.
Ngành địa danh học phát triển sớm ở các nước phương Tây từ cuối thế kỉ XIX với nhiều công trình khoa học. Trong đó ta phải kể đến nhà nghiên cứu A. Trong cuốn Địa danh là gì, A.Supêranskaia đã khái niệm: “Những địa điểm, mục tiêu địa lí đó là những vật thể tự nhiên hay nhân tạo với sự định vị xác định trên bề mặt trái đất, từ những vật thể lớn nhất (các lục địa và đại dương) cho đến những vật thể nhỏ nhất (những ngôi nhà, vườn cây đứng riêng rẽ) đều có tên gọi. Khác với những vật thể thông thường, những mục tiêu địa lí có hai loại tên: Tên chung để xếp chúng vào hệ thống cả khái niệm nào đó (núi, sông, thành phố, làng mạc) và tên riêng biệt của từng vật thể” [1, tr.13]… "Địa danh học - đó là một chuyên ngành của ngành ngôn ngữ học, nghiên cứu về lịch sử hình thành, thay đổi và chức năng của các tên gọi địa lí.
Thành tố lịch sử trong địa danh học là bắt buộc" [1, tr. Khái niệm của A.Supêranskaia hướng tới khẳng định địa danh là tên gọi của các yếu tố khác nhau bao gồm cả yếu tố tự nhiên và nhân tạo. Trong đó, nhà nghiên cứu chủ yếu nhấn mạnh là tên của các yếu tố địa lí tự nhiên. Đồng thời, Supêranskaia cũng đã chỉ ra để gọi 9 c tên của địa danh bao gồm cả tên chung (ví dụ như: sông là địa danh để phân biệt với biển, hồ, ao…) và tên riêng (như: sông Hồng để phân biệt với sông Cửu Long, sông Hoàng Hà…).
Kert đã định nghĩa: “Địa danh là tên gọi được đặt cho các đối tượng địa lí ra đời trong một khu vực có con người sinh sống, được tạo ra bởi một cộng đồng dân cư, một tộc người. Chúng là phần không thể thiếu được trong cuộc sống hàng ngày và các hoạt động chính trị, xã hội ở nơi đó” [3, tr. Như vậy, tác giả chú ý đến mối quan hệ gắn bó mật thiết giữa địa danh và con người. Ở Việt Nam, vấn đề địa danh cũng được các nhà nghiên cứu chú ý với nhiều công trình và định nghĩa.
Trước tiên, trong các cuốn từ điển, địa danh được giải thích một cách dễ hiểu và ngắn gọn: Từ điển Hán Việt - Đào Duy Anh, định nghĩa: "Địa danh là tên gọi các miền đất" [2, tr.220], Từ điển Tiếng Việt - Hoàng Phê chủ biên, định nghĩa: "Địa danh là tên đất, tên địa phương" [62, tr. Dựa trên hướng nghiên cứu về địa lý, tác giả Nguyễn Văn Âu định nghĩa: “Địa danh là tên đất, gồm tên sông, núi, làng mạc…hay là tên các địa phương, các dân tộc” [6, tr. Tác giả Nguyễn Kiên Trường và Phạm Xuân Đạm định nghĩa địa danh dựa trên cơ sở ngôn ngữ học. Nguyễn Kiên Trường khẳng định: "Địa danh là tên riêng của các đối tượng địa lý tự nhiên và nhân văn có vị trí xác định trên bề mặt trái đất" [78, tr.
Còn Phạm Xuân Đạm đưa ra định nghĩa về địa danh và địa danh học như sau: "Địa danh là lớp từ ngữ đặc biệt được định ra để đánh dấu vị trí, xác lập tên gọi các đối tượng địa lý tự nhiên và nhân văn. Địa danh học là một ngành của ngôn ngữ học nghiên cứu hệ thống địa danh về các mặt: nguồn gốc, cấu trúc, ý nghĩa, sự chuyển hoá, biến đổi, các phương thức định danh [15, tr. Như vậy, cả hai tác giả đều thống nhất khẳng định địa danh không chỉ là tên riêng của các yếu tố tự nhiên mà còn là tên của các yếu tố địa lý nhân tạo. 10 c Định nghĩa địa danh của Lê Trung Hoa có nét gần với các định nghĩa của tác giả Supêranskaia: “Địa danh là những từ ngữ được dùng làm tên riêng của các địa hình thiên nhiên, các đơn vị hành chính, các vùng lãnh thổ và các công trình xây dựng thiên về không gian hai chiều.
Trước địa danh ta có thể thấy một danh từ chỉ tiểu loại của địa danh đó: sông Hương, huyện Mộ Đức (Quảng Ngãi), vùng Ba Vì, thành phố Cần Thơ, đường Nguyễn Du…” [32, tr. Như vậy, tác giả Lê Trung Hoa đã chú ý tới cấu tạo ngữ pháp của địa danh. Trong các cách định nghĩa về địa danh, chúng tôi đặc biệt chú ý tới định nghĩa của Từ điển Bách khoa: “Địa danh là tên gọi các lãnh thổ, các điểm quần cư (làng, xã, huyện, tỉnh, thành phố), các điểm kinh tế (vùng nông thôn, khu công nghiệp), các quốc gia, các châu lục, các núi, các đèo, cao nguyên, thung lũng, đồng bằng, châu thổ, sông, hồ, vũng, vịnh, biển, eo biển, đại dương có tọa độ địa lý nhất định được ghi trên bản đồ. Địa danh có thể phản ánh quá trình hình thành, đặc điểm của các yếu tố tự nhiên và lịch sử với những nét đặc sắc về kinh tế, xã hội của các lãnh thổ” [61, tr.
Tác giả đã liệt kê khá chi tiết các hình thức của địa danh. Đồng thời chỉ ra địa danh là một hiện tượng ngôn ngữ, phản ánh đời sống kinh tế, văn hóa, lịch sử của con người. Như vậy, cho đến nay chưa có một định nghĩa thống nhất về địa danh, mỗi nhà nghiên cứu đưa ra một cách định nghĩa riêng dựa hướng tiếp cận của mình. Chúng ta có thể hiểu: Địa danh là một thuật ngữ nhằm chỉ tên của các đối tượng tự nhiên và nhân tạo.
Địa danh không chỉ là yếu tố địa lý mà còn là yếu tố ngôn ngữ, được hình thành dựa trên quy tắc ngôn ngữ về các mặt: ngữ âm, từ vựng, ngữ pháp, ngữ nghĩa, được sử dụng trong ngôn ngữ nói, viết của cộng đồng. Địa danh gắn liền với đời sống xã hội, với tâm lí cộng đồng, với lịch sử, văn hóa, văn học của vùng miền, đất nước, dân tộc. Phân loại Do chưa có sự thống nhất về phạm vi nội dung khái niệm địa danh nên mỗi tác giả có cách phân loại địa danh khác nhau. Gorbanerskij đã phân địa danh thành 4 loại: phương danh (tên các địa phương), sơn danh (tên núi, đồi, gò…), thủy danh (tên các dòng sông, ao, vũng…) và phố danh (tên các đối tượng trong thành phố).
Ngoài 4 loại trên, A.Supêranskaia liệt kê thêm 3 loại nữa là: viên danh, lộ danh (tên các đường phố), đạo danh (tên các đường giao thông trên đất, dưới đất, trên nước, trên không…). Như vậy, nhà nghiên cứu Nga đã phân loại dựa trên các đối tượng chủ yếu của địa danh. Ở Việt Nam, hầu hết các tác giả nghiên cứu địa danh theo phương diện địa lý, văn hóa, ngôn ngữ… nên cũng phân loại địa danh dưa theo các tiêu chí đó. Tiêu biểu là cách phân chia của Lê Trung Hoa.
Trong cuốn Nguyên tắc và phương pháp nghiên cứu địa danh [31, tr.24 - 27] và Địa danh học Việt Nam [32, tr.15 - 16], tác giả đã phân chia địa danh dựa trên hai tiêu chí. Theo nguồn gốc đối tượng, địa danh được chia thành hai loại: địa danh chỉ đối tượng tự nhiên (hay còn gọi là địa danh chỉ địa hình) và địa danh chỉ đối tượng nhân tạo (địa danh về các công trình xây dựng thiên về không gian hai chiều, địa danh hành chính và địa danh vùng không có ranh giới rõ ràng). Theo tiêu chí ngữ nguyên, địa danh được chia thành bốn loại: địa danh thuần Việt, địa danh Hán Việt, địa danh bằng các ngôn ngữ dân tộc thiểu số (Chăm, Khmer, Ba Na, Ê Đê, Gia Rai, Tày, Thái, Mường…) và địa danh ngoại ngữ (chủ yếu là địa danh nguồn gốc Pháp, ngoài ra còn có Inđônêxia, Malayxia). Khá gần gũi với cách phân loại địa danh của Lê Trung Hoa là cách phân loại của tác giả Nguyễn Kiên Trường.
Đồng thời, Nguyễn Kiên Trường chú ý tới cả mặt chức năng, tính đồng đại - lịch đại của yếu tố địa danh. Theo loại hình, tác giả phân thành hai loại: nhóm địa danh chỉ đối tượng tự nhiên và nhóm địa danh chỉ đối tượng địa lý nhân văn (bao gồm hai loại nhỏ: nhóm địa danh cư trú - hành chính và các địa danh gắn với hoạt động của con người, do con người tạo nên; nhóm địa danh đường phố và chỉ các công trình xây dựng). Theo tiêu chí nguồn gốc ngữ nguyên, địa danh chia thành: nguồn gốc Hán Việt; 12 c nguồn gốc thuần Việt; nguồn gốc từ tiếng Pháp; nguồn gốc là phương ngữ Quảng Đông; nguồn gốc khác như Tày, Thái, Việt, Mường…; nguồn gốc hỗn hợp; không rõ nguồn gốc. Theo tiêu chí chức năng giao tiếp, địa danh chia thành: biệt xưng, tự xưng, giản xưng, tục xưng.
Theo hệ quy chiếu đồng đại - lịch đại, địa danh chia thành: địa danh cổ, cũ, địa danh hiện nay [78, tr. Như vậy, hầu hết các nhà nghiên cứu đều chú ý đến yếu tố địa lý, ngôn ngữ của địa danh. Trong công trình Địa danh trong thơ Tố Hữu, chúng tôi nghiên cứu địa danh dưới góc độ văn học, văn hóa, lịch sử; đối tượng địa danh được lựa chọn nghiên cứu là những địa danh xuất hiện trong sáng tác thi ca của tác gia Tố Hữu. Chính vì vậy, chúng tôi không phân loại địa danh theo tên địa lí (tên vùng, tên sông, tên núi, là tên gọi các đối tượng địa hình khác nhau, tên nơi cư trú, tên hành chính…) và ngôn ngữ mà phân loại địa danh trên cơ sở nội dung phản ánh đời sống sản xuất, chính trị, văn hóa, tinh thần, phong tục, tập quán, lịch sử.
Dựa vào những cơ sở trên, chúng tôi phân chia địa danh thành bốn loại: Địa danh phản ánh đặc điểm địa hình; Địa danh phản ánh hoạt động sản xuất vật chất; Địa danh phản ánh văn hóa tinh thần; Địa danh phản ánh sự kiện, nhân vật lịch sử. Địa danh phản ánh đặc điểm địa hình Dựa vào đặc điểm đặc trưng của địa hình, con người cấp cho chúng tên gọi riêng.