CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 1. Tổng quan vấn đề nghiên cứu 1. Nghiên cứu về học tập qua HĐTN trên thế giới Trên thế giới kĩ năng tính toán được nhiều nước phát triển đặc biệt quan tâm. Nhiều nhà khoa học, nhà giáo dục dùng công nghiên cứu về vấn đề này và đã tìm ra phương pháp tốt nhất giúp học sinh có thể chiếm lĩnh kiến thức một cách đầy đủ, chắc chắn nhất.
Chương trình môn Toán cấp tiểu học của nhiều nước rất chú trọng việc dạy số tự nhiên. Bởi số tự nhiên có từ lâu đời và nó gắn liền cuộc sống con người thông qua trực quan, sự vật hiện tượng trong thực tế. Có thể nói tư tưởng giáo dục qua trải nghiệm đã manh nha xuất hiện từ thời cổ đại và dần dần được phát triển bởi các nhà giáo dục trên thế giới, được nhiều nước có nền giáo dục tiên tiến trên thế giới coi như triết lí giáo dục của quốc gia. Các nhà giáo dục dựa trên quan điểm triết học về giáo dục của mình đã nghiên cứu về vai trò của trải nghiệm đối với giáo dục ở những góc độ khác nhau: “Quan điểm về phương pháp giáo dục coi trong thực hành, vận dụng” Khổng Tử ) 551- 479 TCN; “Quan điểm về dạy học phải đảm bảo mối liên hệ với đời sống, giáo dục thông qua trò chơi, hoạt động ngoài lớp, ngoài thiên nhiên” của J.A Cô - men - xki; Học thuyết giáo dục Mác - Ănghen và Lê - nin về: “Giáo dục kĩ thuật tổng hợp và giáo dục kết hợp với lao động sản xuất” trên cơ sở phát triển đề cương về giáo dục kĩ thuật tổng hợp của Crupxcaia.
Nhà triết học Hy Lạp - Xôcrát (470 - 399 TCN) ở phương Tây. Năm 1946, nhà sáng lập tâm lí học Mĩ Zadek Kurt Lewin (1890 - 1947) cho rằng việc học tập đạt kết quả tối đa khi có một sự xung đột căng thẳng biện chứng giữa kinh nghiệm cá nhân với việc phân tích giải quyết nhiệm vụ học tập. Lewin đã khẳng định kinh nghiệm chủ quan của cá nhân là một thành phần quan trọng của học tập qua hoạt động trải nghiệm. Quan điểm học qua trải nghiệm chỉ trở thành tư tưởng giáo dục chính thống và phát triển thành học thuyết khi gắn liền với các nhà tâm lí học, giáo 7 dục hoc như: John Dewey, Kurt Lewin, Jean Piaget, Lev Vygotsky, David Kolb, Wiliam James, Carl Jung, Paulo Freire, Carl Rogers và các nhà giáo dục hiện đại sau này… Có thể nhắc tới 3 mô hình học tập trải nghiệm cổ điển tiêu biểu nửa đầu thế kỉ 19: Mô hình học tập trải nghiệm của Kurt Lewin về nghiên cứu hành động và đào tạo trong phòng thí nghiệm, mô hình học từ kinh nghiệm của John Dewey, mô hình học tập và phát triển nhận thức của Jean Piaget.
Đây được coi như cơ sở khoa học nền tảng của việc phát triển lí thuyết học tập trải nghiệm của D. Kolb sau này [2]. Chính vì vậy năm 1984, trên cơ sở những nghiên cứu của Dewey, Lewin, Piaget, LevVygotsky và các nhà nghiên cứu khác về kinh nghiệm và học tập dựa vào kinh nghiệm, David Kolb (1939), nhà giáo dục Hoa Kì đã nghiên cứu cho sản xuất một công trình về học tập qua trải nghiệm: Trải nghiệm học tập: Kinh nghiệm là nguồn học tập và phát triển. David Kolb đã chính thức giới lý thuyết học tập qua hoạt động trải nghiệm, cung cấp một mô hình học tập qua hoạt động trải nghiệm để ứng dụng trong trường học, tổ chức kinh tế và hầu như bất cứ nơi nào con người được tập hợp với nhau.
Đối với Kolb: “Học tập là quá trình mà trong đó kiến thức được tạo ra thông qua việc chuyển đổi kinh nghiệm”. Kinh nghiệm rời Quan sát và phân rạc. tích Hình thành khái Thử áp dụng khái niệm trừu tượng niệm vào tình hóa khái quát huống mới.1: Các bước của học tâp trải nghiệm của David Kolb 8 Từ năm 1984 đến nay, từ mô hình học tập qua hoạt động trải nghiệm của David Kolb cùng một số tác giả khác đã có nhiều công trình nghiên cứu có liên quan đến học tập qua hoạt động trải nghiệm, tập trung vào các lĩnh vực khác nhau: kinh tế, giáo dục, văn hóa…Trong lĩnh vực giáo dục và đào tạo, có thể kể đến các công trình nghiên cứu sau: - Phong cách học tập và không gian học: Tăng cường học tập qua hoạt động trải nghiệm trong giáo dục đại học (2015 ) của Kolb, KY, Kolb, DA. - Học cách học từ kinh nghiệm là con đường để suốt đời học tập và phát triển của Passarelli, A, Kolb, DA.
- “Học qua làm, học bắt đầu từ làm”của J.Deway: Quan điểm về dạy học qua trải nghiệm là trẻ em phải học tập trong chính cuộc sống xã hội. Ông đề cao phương pháp dạy học trải nghiệm, ông nhấn mạnh: sự phát triển thể chất của trẻ sẽ đi trước về giác quan, theo đó trẻ hành động trước khi có nhận thức đầy đủ về hành động đó, trẻ thường hành động khi chưa có kinh nghiệm. Do đó, trong thực tế của trẻ có thể chưa đầy đủ hoặc hành động hấp tấp, nhưng điều đó đã cho trẻ thêm trải nghiệm về cuộc sống. Vì vậy để phát triển trí tuệ cho học sinh, phương pháp dạy học phải bằng trải nghiệm và thông qua trải nghiệm, nghĩa là để cho trẻ được trực tiếp tham gia vào hoạt động.
Năm 1995, Conrad và Hedin đã phỏng vấn 4000 học sinh trong 33 chương trình học tập trải nghiệm khác nhau và rút ra được kết luận là sự học qua trải nghiệm đã đem lại kết quả tích cực đối với sự phát triển tâm lí của người học. Năm 1996, Hiệp hội Giáo dục trải nghiệm của Canada đã tổng kết và đưa ra một số tiêu chí để đảm bảo tổ chức hoạt động trải nghiệm có hiệu quả. Các tác giả đã trình bày lý thuyết về học tập qua hoạt động trải nghiệm. Theo đó kiến thức được tạo ra từ kinh nghiệm thông qua một chu kì học tập: Hành động -> phản ánh kinh nghiệm -> trừu tượng hóa khái niệm-> thử 9 nghiệm, vận dụng.
Qua đó, cung cấp một cái nhìn tổng quan về phương thức học tập cũng như các không gian diễn ra quá trình tổ chức học tập. Trong chu trình học tập qua HĐTN, các giai đoạn được liên kết thành một không gian kinh nghiệm để tạo ra một chu kì học tập xoắn ốc nhằm thu nhận được kiến thức mới và phát triển học tập suốt đời. Nhìn chung, “Học tập trải nghiệm” là một lí thuyết học tập được thế giới rất coi trọng bởi nó đề cao việc hình thành năng lực của con người thông qua những trải nghiệm thực tiễn, điều đó hoàn toàn phù hợp với các quy luật về tâm lí trong việc hình thành phát triển nhân cách cho học sinh. Tình hình nghiên cứu ở Việt Nam Chương trình môn Toán Tiểu học năm 1981 và năm 2000 đến nay đã làm rõ cơ sở lí luận toán học và phương pháp dạy học nội dung số học và các phép tính với số tự nhiên rất rõ.
Thời lượng trong chương trình Toán cấp Tiểu học dành cho học số và phép tính khá nhiều. Nội dung dạy học số tự nhiên được mở rộng và sắp xếp phù hợp với khả năng tiếp nhận của học sinh. Mặc dù có sự thay đổi nhưng còn mang tính hàn lâm. Học sinh tiếp nhận tri thức còn mang tính một chiều, chưa phát huy hết năng lực, vốn kinh nghiệm sẵn có của học sinh.
Năm 2006, học tập qua hoạt động trải nghiệm được đề cập ở Việt Nam trong tài liệu “Học mà chơi - Chơi mà học: Hướng dẫn các hoạt động GDMT trải nghiệm” do dự án GDMT Hà Nội và trung tâm Con người và Thiên nhiên biên soạn[12]. Năm 2011, lần đầu tiên môn học “Giáo dục trải nghiệm” được giảng dạy cho sinh viên thuộc chương trình đào tạo Cử nhân khoa học ngành quản lí, liên kết giữa khoa Quốc tế - Đại học Quốc gia Hà Nội với Đại học Keuka, Mĩ. Nội dung và mục tiêu của môn học là giúp sinh viên gần gũi hơn với cuộc sống, với xã hội và có thêm được những trải nghiệm thực tế, những điều mà các em có thể chưa nắm bắt được khi học qua sách vở tại trường đại học. 10 Những năm gần đây ngành giáo dục Việt Nam hội nhập cùng thế giới, đổi mới chương trình sách giáo khoa, hình thức, phương pháp dạy học theo hướng “Tích cực hóa người học” lấy “ Học sinh làm trung tâm” của quá trình giáo dục.
Do vậy người học sinh cần tự giác, tích cực, độc lập chiếm lĩnh tri thức bằng những hoạt động trải nghiệm cá nhân trong môn học. Một số quan niệm có liên quan 1. Quan niệm về hoạt động trải nghiệm Đối với mỗi nhà nghiên cứu, mỗi kĩnh vực thì quan điểm về hoạt động trải nghiệm khác nhau. Hoạt động trải nghiệm được hiểu bao gồm HĐ chính khóa và HĐ ngoại khóa.
Ở Hàn Quốc, hoạt động thực tiễn tiến hành song song với HĐ trong chương trình GD được gọi là HĐ đặc biệt, hoạt động ngoại khóa sáng tạo…Nhưng đến năm 2009 thống nhất được gọi là HĐ trải nghiệm sáng tạo. Hoạt động trải nghiệm ở nước Anh: Một trong những trung tâm trải nghiệm được nhiều học sinh tham gia là Trung tâm “Chân trời rộng mở”- thành lập năm 2004. Trung tâm tổ chức hàng loạt các HĐ ngoài trời cho tất cả các lứa tuổi học đường, từ tổ chức trải nghiệm thiên nhiên cho học sinh tiểu học đến các HĐ phiêu lưu, mạo hiểm cho học sinh các cấp trên. Nhiều hoạt động liên kết với các chủ đề của chương trình dạy học và phù hợp với đối tượng học sinh.
Ở Việt Nam: Thuật ngữ : “HĐTN sáng tạo” mới xuất hiên vài năm khi chúng ta triển khai thực hiện đổi mới căn bản, toàn diện GD& ĐT nói chung và đổi mới căn bản, toàn diện với GD phổ thông nói riêng theo Quyết định số 404/QĐ-TTg ngày 27/3/2015 của thủ tướng Chính phủ, thực hiện Nghị quyết số 29-NQ/TW ngày 04/11/2013 Hội nghị lần thứ tám Ban chấp hành Trung ương khóa XI. Theo Tiến sĩ Vũ Đình chuẩn, tính chất của HĐTN thể hiện ngay ở tên gọi. Thứ nhất, các HĐTN phải thông qua thực hành, thông qua làm, 11 thông qua hành động dựa trên kinh nghiệm của mỗi cá nhân. Thứ hai, đòi hỏi học sinh phải có sáng kiến, đáp ứng yêu cầu sáng tạo và nuôi dưỡng tính sáng tạo.
Các HĐ này cũng đề cao tinh thần nhân văn, làm cho việc giáo dục ở nhà trường trở nên hấp dẫn và thú vị hơn. Trải nghiệm dưới góc nhìn sư phạm được hiểu: Trải nghiệm trong đào tạo là một hệ thống kiến thức và kĩ năng có được trong quá trình giáo dục và đào tạo chính quy.