MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Khoai tây là cây lương thực, thực phẩm ngắn ngày, có giá trị dinh dưỡng cao, có khả năng trồng trọt được ở nhiều vùng tại Việt Nam. Trong những năm gần đây khoai tây đã được đưa vào trồng khá phổ biến tại các vùng trung du và miền núi phía Bắc nhằm tận dụng ưu thế về đất đai, khí hậu, tạo thêm công ăn việc làm và thu nhập cho bà con nông dân, đa dạng hóa cây trồng, góp phần đảm bảo an ninh lương thực tại chỗ cho miền núi. Tuy nhiên, việc phát triển diện tích trồng khoai tây ở miền núi nói chung còn nhiều hạn chế về giống, kỹ thuật trồng trọt… chính vì vậy mà trong những năm qua việc phát triển sản xuất khoai tây còn chưa tương xứng với tiềm năng sẵn có, năng suất và sản lượng còn thấp.
Đại Từ là huyện trọng điểm sản xuất nông nghiệp của tỉnh Thái Nguyên với trên 80% dân số sống vào nghề sản xuất nông lâm nghiệp. Trong những năm qua huyện tập trung lãnh đạo, chỉ đạo và định hướng cho nông dân chuyển đổi cơ cấu giống cây trồng vụ đông để tăng thu nhập trên một đơn vị diện tích đất trồng trọt góp phần cải thiện đời sống. Mặc dù vậy, việc chuyển dịch cơ cấu giống, cơ cấu cây trồng chủ yếu vẫn tập trung vào một số giống cây trồng chính ngô, khoai lang, chè… một số cây lương thực ngắn ngày khác chưa được quan tâm đầu tư đúng mức như cây khoai tây chủ yếu trồng manh mún nên cho hiệu quả kinh tế không cao. Xã Bản Ngoại là một xã nằm ở phía Bắc huyện Đại Từ cách trung tâm huyện 5km.
Trong những năm qua kinh tế xã Bản Ngoại đã đạt những kết quả đáng khích lệ, kinh tế duy trì mức tăng trưởng khá; kết cấu hạ tầng kinh tế xã hội có những bước phát triển. Các lĩnh vực văn hoá - xã hội; chất lượng giáo dục; công tác chăm sóc sức khoẻ cho nhân dân; quốc phòng an ninh; đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân ngày càng được cải thiện và nâng cao. Tuy nhiên bên cạnh đó còn nhiều mặt hạn chế tồn tại đó là: Chưa khai thác và phát huy hết tiềm năng lợi thế của xã; đời sống vật chất tình thần của nhân dân còn gặp nhiều khó khăn; sản xuất nông nghiệp vẫn còn manh mún nhỏ lẻ chưa n 2 hình thành được các vùng sản xuất hàng hoá tập trung; chuyển dịch cơ cấu kinh tế còn chậm; công tác quy hoạch chưa được quan tâm. Với địa hình chủ yếu là đồi núi thấp bao quanh và các dãy núi có độ dốc trung bình và nhỏ, bị chia cắt bởi nhiều hệ thống sông suối và khe rạch.
Độ dốc không lớn và xen kẽ là những cánh đồng tương đối bằng phẳng, đất đai phù hợp với nhiều loại cây trồng phát triển trong đó có cây khoai tây đặc biệt là giống khoai tây Marabel vụ đông, đã có nhiều điển hình đạt năng suất 25 - 30 tấn/ha. Sản phẩm thu hoạch dễ tiêu thụ và dễ thương mại hóa. Mặt khác rất phù hợp với công thức luân canh truyền thống với 2 vụ lúa xuân và vụ lúa mùa. Cây khoai tây nếu được đầu tư sẽ mang lại lượng hàng hóa lớn, có giá trị xuất khẩu làm nguyên liệu cho công nghiệp chế biến, góp phần xóa đói giảm nghèo và vươn lên làm giàu.
Xã Bản Ngoại huyện Đại Từ là một trong những địa phương còn gặp nhiều khó khăn về kinh tế, đời sống nhân dân xã Bản Ngoại vẫn chủ yếu dựa vào sản xuất nông nghiệp. Thực hiện chủ trương chuyển đổi cơ cấu cây trồng vụ đông nhằm đưa các loại cây trồng mới có giá trị kinh tế cao vào sản xuất năm 2011 Đảng ủy, UBND xã Bản Ngoại đã phối hợp với Phòng nông nghiệp huyện Đại Từ triển khai mô hình trồng khoai tây vụ đông nhằm tăng thu nhập cho nông dân góp phần xóa đói giảm nghèo. Bước đầu triển khai mô hình do khoai tây là có thời gian sinh trưởng ngắn (90 ngày), ưu thế về mùa vụ, ít cạnh tranh với các cây trồng khác trong vụ đông, dễ trồng, dễ chăm sóc, tốn ít công lao động mà lại cho hiệu quả kinh tế cao nên được đông đảo các hộ dân trong xã đăng ký tham gia. Mô hình đã có tác động mạnh tới nhận thức của người nông dân trong xã về việc chuyển đổi cơ cấu cây trồng, luân canh tăng vụ trong sản xuất nông nghiệp, làm thay đổi phương thức sản xuất cũ ở địa phương tư tưởng sản xuất manh mún nhỏ lẻ sang sản xuất tập trung, có quy hoạch, sản phẩm trở thành hàng hóa đem lại thu nhập cải thiện đời sống cho người dân đồng thời khi tham gia mô hình người dân trong xã đã từng bước áp dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất nông nghiệp nói chung và kỹ thuật trồng khoai tây vụ đông nói riêng nhằm tăng vụ, tăng năng suất cây trồng, tăng thu nhập trên đơn vị diện tích cho hộ gia đình và tạo ra sản phẩm hàng hoá có giá trị kinh tế cao, góp phần xoá đói giảm nghèo tại địa phương.
n 3 Tuy nhiên, cho đến nay chưa có nghiên cứu nào để đánh giá hiệu quả, khả năng mở rộng diện tích cũng như giải pháp để nâng cao hiệu quả và tính bền vững của loại cây trồng mới này trên địa bàn huyện Đại Từ. Câu hỏi được đặt ra là: Ảnh hưởng của điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội xã Bản Ngoại đến việc thực hiện mô hình như thế nào? Thực trạng sản xuất, tiêu thụ, sử dụng khoai tây Marabel tại địa phương ra sao? Hiệu quả mà mô hình đem lại là gì? Mô hình có bền vững không? Giải pháp nào để nâng cao hiệu quả và tính bền vững cho mô hình tại địa phương trong thời gian tới? Xuất phát từ yêu cầu đó và từ thực tế của địa bàn nghiên cứu, tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Đánh giá hiệu quả và tính bền vững của mô hình khoai tây tại xã Bản Ngoại - huyện Đại Từ - tỉnh Thái Nguyên”. Mục tiêu của đề tài 1. Mục tiêu chung - Đánh giá được hiệu quả và tính bền vững của mô hình khoai tây.
Trên cơ sở đó đề xuất những giải pháp để nâng cao hiệu quả và tính bền vững cho mô hình trên. Mục tiêu cụ thể - Đánh giá được ảnh hưởng của điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội đến việc thực hiện mô hình. - Đánh giá được thực trạng sản xuất, tiêu thụ, sử dụng khoai tây Marabel tại địa phương. - Đánh giá được hiệu quả và tính bền vững của mô hình.
- Đánh giá những thuận lợi và khó khăn khi trồng cây khoai tây - Đề xuất được các giải pháp nâng cao hiệu quả và tính bền vững của mô hình. Ý nghĩa của đề tài 1. Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu khoa học - Củng cố kiến thức từ cơ sở đến chuyên ngành đã học trong trường, ứng dụng kiến thức đó vào thực tiễn. - Giúp sinh viên tiếp xúc với thực tế để nâng cao năng lực, bổ sung, tích lũy kiến thức, kinh nghiệm để hoàn thiện bản thân, ngoài ra sinh viên còn có cơ hội vận dụng những kiến thức hiểu biết của mình vào thực tế.
- Rèn luyện các kỹ năng thu thập, xử lý số liệu, viết báo cáo. n 4 - Là tài liệu tham khảo cho trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên, Khoa Kinh tế và Phát triển nông thôn và sinh viên các khóa tiếp theo. Ý nghĩa thực tiễn Kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ là một trong những tài liệu tham khảo quan trọng cho cán bộ Phòng nông nghiệp, cán bộ khuyến nông huyện Đại Từ, Đảng ủy, UBND xã Bản Ngoại trong việc xây dựng kế hoạch cho sự phát triển, nhân rộng mô hình tại địa phương trong thời gian tới và cung cấp tài liệu cho người dân đang và sẽ trồng khoai tây trong thời gian tới. n 5 PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2.
Cơ sở lý luận của đề tài 2. Một số khái niệm về đánh giá, hiệu quả, mô hình trình diễn, tính bền vững * Khái niệm đánh giá Đánh giá dự án là nhìn nhận và phân tích toàn bộ quá trình triển khai thực hiện dự án, các kết quả thực hiện cũng như hiệu quả thực tế đạt được của dự án trong mối quan hệ với nhiều yếu tố, so sánh với mục tiêu ban đầu. Đánh giá là so sánh những gì đã thực hiện bằng nguồn lực của thôn bản và những hỗ trợ từ bên ngoài với những gì thực sự đã đạt được. Đánh giá để khẳng định sự thành công hay thất bại của các hoạt động khuyến nông so với kế hoạch ban đầu.[3] - Các loại đánh giá: Đánh giá gồm nhiều dạng khác nhau tùy theo mục đích, chương trình, ở đây ta có thể xếp thành 3 loại chính sau: + Đánh giá tiền khả thi/khả thi: Đánh giá tiền khả thi là đánh giá tính khả thi của hoạt động hay dự án, để xem xét liệu hoạt động hay dự án có thể thực hiện được hay không trong điều kiện cụ thể nhất định.
Loại đánh giá này thường do tổ chức tài trợ thực hiện. Tổ chức tài trợ sẽ phân tích các khả năng thực hiện của dự án hay hoạt động để làm căn cứ cho phê duyệt xem dự án hay hoạt động đó có được đưa vào thực hiện hay không. Khi đánh giá phương án khả thi, người thực hiện cần được xem xét ở cả bốn khía cạnh chính là: Khả thi về mặt kỹ thuật, khả thi về mặt xã hội, khả thi về mặt kinh tế, khả thi về môi trường.[3] + Đánh giá thực hiện Đánh giá định kỳ: Là đánh giá từng giai đoạn thực hiện, có thể là đánh giá toàn bộ các công việc trong một giai đoạn, nhưng cũng có thể đánh giá từng công việc ở từng giai đoạn nhất định. Nhìn chung, đánh giá định kỳ thường áp dụng cho các dự án dài hạn.
Tùy theo dự án mà có thể định ra các khoảng thời gian để đánh giá định kỳ, có thể là ba tháng, đánh giá theo quý, sáu tháng hay một năm một lần. Mục đính của đánh giá định kỳ là nhằm tìm ra những điểm n 6 mạnh, yếu, những khó khăn, thuận lợi trong một thời kỳ nhất định để có những thay đổi hay điều chỉnh phù hợp cho những giai đoạn tiếp theo.[3] Đánh giá giữa kỳ: Để đánh giá các khía cạnh hoạt động như các hoạt động quản lý và thực hiện dự án, phạm vi mà mục tiêu đã hoàn thành. Đánh giá giữa kỳ sẽ tập trung vào các tác nhân chính xác cần thiết đối với dự án để đạt được một tác động nào đó.