Đặt vấn đề Môi trường là một trong những nhân tố quan trọng của trái đất.Ảnh hưởng trực tiếp tới sự sống của con người và các loài sinh vật. Xã hội ngày càng phát triển, đời sống của người dân được nâng cao nhưng đi ngược lại với đó là môi trường ngày càng bị suy thoái.Ô nhiễm môi trường luôn là chủ đề nóng trong những năm gần đây, đe dọa ảnh hưởng trực tiếp tới sự phát triển, tồn tại của kinh tế xã hội hay nguy hiểm hơn chính là ảnh hưởng trực tiếp tới chính bản thân con người chúng ta,những thế hệ hôm nay và ngày mai. Xã hội nâng cao, con người chú trọng tới vấn đề an sinh - dân sinh hơn.đặc biệt là nhu cầu khá chữa bệnh.Nhiều các bệnh viện được xây dựng hơn là vì đó. Tuy nhiên do hoạt động quản lý còn lỏng lẻo dẫn đến tình trạng ô nhiễm do rác thải y tế chiếm một tỷ trọng khá trong xã hội hiện nay.
Trên cả nước hiện nay có 70% số bệnh viện chưa có biện pháp xử lý nước thải. Tuy chỉ chiếm một lượng nhỏ so với nước thải công nghiệp và nước thải sinh hoạt nhưng nước thải y tế và bệnh phẩm lại có nguy cơ gây ô nhiễm môi trường và dịch bệnh cao hơn, ảnh hưởng tới sức khỏa của mọi người nếu không xử lý đúng. Ngoài ra các chất kháng sinh và sát trùng xuất hiện trong dòng thải sẽ tiêu diệt nhiều vi khuẩn có lợi tồn tại trong nước Bệnh viện Đa khoa huyện Yên Bình là một bệnh viện tuyến huyện phục vụ nhu cầu khám chữa bệnh của nhân dân trong huyện và các khu vực lân cận. Trải qua một thời gian dài hoạt động, bệnh viện đã được xây dựng khang trang với nhiều trang thiết bị hiện đại và tăng số giường bệnh nhằm điều trị tốt nhất cho người bệnh.
Hằng năm số lượng bệnh nhân thăm khám và điều trị khá đông, hệ quả tất yếu làm lượng chất thải bệnh viện tăng. Việc kiểm soát chất lượng còn khá lỏng lẻo. Xuất phát từ tình hình thực tế, được sự đồng ý n 2 của khoa Quản lý Tài nguyên em tiến hành thực hiện đề tài: “Đánh giá hiện trạng xử lý nước thải y tế tại Bệnh viện Đa khoa huyện Yên Bình, tỉnh Yên Bái”. Mục tiêu đề tài 1.
Mục tiêu tổng quát Đánh giá hiện trạng chất lượng nước thải của bệnh viện Đa khoa Huyện Yên Bình 1. Mục tiêu cụ thể - Nghiên cứu sơ lược bệnh viện Đa khoa huyện Yên Bình - Đánh giá chất lượng nước thải tại bệnh viện Đa khoa huyện Yên Bình - Đề xuất biện pháp khắc phục hạn chế các tác hại đối với môi trường 1. Yêu cầu - Thông tin và số liệu thu thập phải trung thực,khách quan và chính xác. - Các mẫu nghiên cứu phải đảm bảo tính khoa học, đại diện cho khu vực nghiên cứu.
- Đánh giá đầy đủ và chính xác chất lượng nước thải bệnh viện. - Những kiến nghị đưa ra phải phù hợp với thực tế. Ý nghĩa của đề tài - So sánh đối chiếu các số liệu với tiêu chuẩn Việt Nam từ đó rút ra kết luận chính xác về mức độ xử lý nước thải của bệnh viện Đa khoa huyện Yên Bình. - Vận dụng kiến thức đã được học tập trong nhà trường và rút ra kinh nghiêm cho bản thân trong thực tiễn.
n 3 Phần 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2. Cơ sở khoa học của đề tài 2. Cơ sở pháp lý - Luật bảo vệ môi trường 2014 được Quốc hội nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam khóa VIII kì họp thứ 7 thông qua ngày 23/6/2014 và có hiệu lực từ ngày 1/1/2015 - Quyết định của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt chiến lược quốc gia về tài nguyên nước đến năm 2020 (số 81/2006/QĐ- Ttg) - Quyết định số 43/2007/ QĐ- BYT ngày 30/11/2007 về việc ban hành quy chế quản lý chất thải y tế. - Quyết định số 16/2008/QĐ- BTNMT ngày 31/12/2008 của Bộ Tài nguyên và Môi trường về việc ban hành Quy chuẩn kĩ thuật quốc gia về môi trường.
- QCVN 28:2010/BTNMT của Bộ Tài nguyên và Môi trường về quy chuẩn kĩ thuật quốc gia nước thải y tế. - QCVN 08:2008/BTNMT của Bộ tài nguyên môi trường về quy chuẩn kĩ thuật quốc gia về chất lượng nước mặt. - Thông tư 31/2013/TT-BYT ngày 15/10/2013 của Bộ y tế về Quy định về quan trắc tác động môi trường từ hoạt động khám bệnh, chữa bệnh của bệnh viện. - Thông tư 58/2015/TTLT- BYT-BTNMT ngày 31/12/2105 thông tư liên tịch về quản lý chất thải y tế.
- Thông tư liên tịch số 48/2014/TTLT- BYT-BTNMT ngày 22/12/2014 về việc hướng dẫn phối hợp thực hiện quản lí nhà nước về bảo vệ môi trường đối với cơ sở y tế. n 4 - Thông tư số 31/2013/TT-BYT qquy định về việc quan trắc chất lượng môi trường từ hoạt động khám, chữa bệnh của bệnh viện. Khái niệm về môi trường và ô nhiễm môi trường * Khái niệm môi trƣờng - Theo điều 3 luật bảo vệ môi trường của Việt Nam: Môi trường là hệ thống các yếu tố vật chất tự nhiên và nhân tạo có tác động đối với sự tồn tại và phát triển của con người và sinh vật.[6] Một định nghĩa khác: Môi trường là tập hợp tất cả các yếu tố tự nhiên và xã hội bao quanh con người, ảnh hưởng đến con người và tác động đến các hoạt động sản xuất của con người: như không khí, nước, độ ẩm, sinh vật, xã hội loài người và các thể chế. *Khái niệm ô nhiễm môi trƣờng.
Trong Luật bảo vệ môi trường Việt Nam nêu rõ: Ô nhiễm môi trường là sự biến đổi của các thành phần môi trường không phù hợp với quy chuẩn kỹ thuật môi trường và tiêu chuẩn môi trường gây ảnh hưởng xấu đến con người và sinh vật. *Khái niệm về ô nhiễm môi trƣờng nƣớc Ô nhiễm nước là sự thay đổi theo chiều xấu đi các tính chất vật lý - hoá học - sinh học của nước, với sự xuất hiện các chất lạ ở thể lỏng, rắn làm cho nguồn nước trở nên độc hại với con người và sinh vật. Làm giảm độ đa dạng sinh vật trong nước. Xét về tốc độ lan truyền và quy mô ảnh hưởng thì ô nhiễm nước là vấn đề đáng lo ngại hơn ô nhiễm đất.
Nước bị ô nhiễm là do sự phủ dưỡng xảy ra chủ yếu ở các khu vực nước ngọt và các vùng ven biển, vùng biển khép kín. Do lượng muối khoáng và hàm lượng các chất hữu cơ quá dư thừa làm cho các quần thể sinh vật trong nước không thể đồng hoá được. Kết quả làm cho hàm lượng ôxy trong n 5 nước giảm đột ngột, các khí CO2, CH4, H2S tăng lên gây suy thoái thủy vực. Ở các đại dương thì nguyên nhân chính gây ô nhiễm đó là các sự cố tràn dầu.
Ô nhiễm nước có nguyên nhân từ các loại chất thải và nước thải công nghiệp được thải ra lưu vực các con sông mà chưa qua xử lí đúng mức; các loại phân bón hoá học và thuốc trừ sâu ngấm vào nguồn nước ngầm và nước ao hồ; nước thải sinh hoạt được thải ra từ các khu dân cư ven sông. Ô nhiễm nước xảy ra khi nước bề mặt chảy qua rác thải sinh hoạt, nước rác công nghiệp, các chất ô nhiễm trên mặt đất, rồi thấm xuống nước ngầm. Khái niệm nước thải và phân loại nước thải. *Khái niệm về nƣớc thải - Theo TCVN 5980-1995 và ISO 6170/1-1980: nước thải là nước thải ra sau khi đã sử dụng hoặc được tạo ra trong một quá trình công nghệ và không còn giá trực trực tiếp đối với quá trình đó.
- Dựa vào nguồn gốc phát sinh, nước thải được chia ra làm các loại sau: + Nước thải sinh hoạt: là nước thải từ các khu dân cư, khu vực hoạt động thương mại, khu công sở, trường học và các khu vực tương tự. + Nước thải công nghiệp(hay còn gọi là nước thải sản xuất): là nước thải từ các nhà máy đang hoạt động hoặc trong đó nước thải công nghiệp chiếm thành phần chủ yếu. + Nước thấm qua: là nước thấm vào hệ thống ống bằng nhiều cách khác nhau, qua các khớp nối, lớp ống có khuyết tật,hoặc thành phần hố ga. + Nước thải tự nhiên: nước mưa được xem như nước thải tự nhiên ở những thành phố hiện đại, chúng được gom theo hệ thống riêng.
+ Nước thải đô thị: nước thải đô thị được coi là thuật ngữ chung chỉ chất lỏng ở hệ thống cống thoát của một thành phố, thị xã.Đó là hỗn hợp của các loại nước thải trên. Cơ sở thực tiễn 2. Nguy cơ nhiễm bệnh do ô nhiễm nước thải bệnh viện Nước thải bệnh viện bao gồm 02 nguồn: nước thải y tế và nước thải sinh hoạt. Nước thải y tế phát sinh từ các phòng khám, phòng phẫu thuật, phòng thí nghiệm, xét nghiệm và các khoa trong bệnh viện.
Nước thải này chứa nhiều vi khuẩn, mầm bệnh, máu, các hóa chất, dung môi trong dược phẩm…, từ phòng thanh trùng dụng cụ y khoa với nhiệt lượng cao, từ nhà giặt tẩy… Nước thải sinh hoạt sinh ra từ toilet, bể tự hoại, nước rửa tay, tắm giặt… của cán bộ công nhân viên bệnh viện, khu nội trú, người nuôi bệnh, người thăm bệnh, người đến khám bệnh. Nước thải sinh hoạt cũng phát sinh từ căn tin, bếp ăn tập thể… Nước thải bệnh viện ngoài các yếu tố ô nhiễm thông thường như chất hữu cơ, dầu mỡ động thực vật, vi khuẩn, còn có những chất bẩn khoáng và hữu cơ đặc thù như các phế phẩm thuốc, các chất khử trùng, các dung môi hóa học, dư lượng thuốc kháng sinh, các đồng vị phóng xạ được sử dụng trong quá trình chẩn đoán và điều trị bệnh. Điểm đặc thù của nước thải bệnh viện là sự lan truyền rất mạnh các vi khuẩn gây bệnh, đặc biệt nguy hiểm là nước thải từ những bệnh viện chuyên các bệnh truyền nhiễm cũng như khoa lây nhiễm của bệnh viện sôma. Những nguồn nước thải bệnh viện này là một trong những nhân tố cơ bản có khả năng lan truyền vào nước thải những tác nhân truyền nhiễm qua đường tiêu hóa và làm ô nhiễm môi trường.
Đặc biệt nguy hiểm khi nước thải bị nhiễm các vi khuẩn gây bệnh có thể dẫn đến dịch bệnh cho người và động vật qua nguồn nước, qua các loại rau được tưới bằng nước thải. Thành phần và tác hại của nước thải y tế đến môi trường.