Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Cơ sở khoa học của đề tài. Khái quát chung về nước thải bệnh viện. Khái niệm về nước thải.
Theo Nghị định 38/2015/NĐ-CP về quản lý chất thải và phế liệu (Có hiệu lực từ ngày 15/06/2015), theo đó: Nước thải là nước đã bị thay đổi đặc điểm, tính chất được thải ra từ sản xuất, kinh doanh, dịch vụ, sinh hoạt hoặc hoạt động khác. Nước thải có thể có nguồn gốc từ hoạt động của các hộ gia đình, công nghiệp, thương mại, nông nghiệp, nước chảy tràn bề mặt, nước mưa bão, dòng vào cống ngầm hoặc nước thấm qua. Thông thường nước thải được phân loại theo nguồn gốc phát sinh ra chúng: - Nước thải sinh hoạt: là nước thải từ các khu dân cư, khu vực hoạt động thương mại, khu vực công sở, trường học và các cơ sở tương tự khác. - Nước thải công nghiệp (hay còn gọi là nước thải sản xuất): là nước thải từ các nhà máy đang hoạt động hoặc trong đó nước thải công nghiệp là chủ yếu.
- Nước thấm qua: là lượng nước thấm vào hệ thống ống bằng nhiều cách khác nhau, qua các khớp nối, các ống có khuyết tật hoặc thành hố ga hay hố xí. - Nước thải tự nhiên: nước mưa được xem như nước thải tự nhiên ở những thành phố hiện đại, chúng được thu gom theo hệ thống,. Khái niệm về nước thải y tế. Nước thải y tế là nước thải phát sinh từ các cơ sở y tế, bao gồm: cơ sở khám bệnh, chữa bệnh; cơ sở y tế dự phòng; cơ sở nghiên cứu, đào tạo y, dược; cơ sở sản xuất thuốc.
Trong nước thải y tế, ngoài những yếu tố ô nhiễm thông thường như chất hữu cơ, dầu mỡ động, thực vật, còn có những chất bẩn khoáng và chất hữu cơ đặc thù, các vi khuẩn gây bệnh, chế phẩm thuốc, chất khử trùng, các dung môi hóa học, dư lượng thuốc kháng sinh và có thể có các đồng vị phóng xạ được sử dụng trong quá trình chẩn đoán và điều trị bệnh. 4 Do đó nước thải y tế cần được thu gom và xử lý đảm bảo theo các quy định hiện hành. Trong nước thải y tế ngoài ra còn có các chất khử trùng, các phế phẩm thuốc, dư lượng thuốc kháng sinh, các dung môi hóa học, các đồng vị phóng xạ được sử dụng trong quá trình chẩn đoán và điều trị bệnh,. Nguồn gốc phát sinh, thành phần và tính chất của nước thải bệnh viện.
Nguồn gốc phát sinh nước thải bệnh viện. Trong quá trình khám chữa bệnh hoạt động khám chữa bệnh tại bệnh viện hầu hết các khâu sử dụng nước đều phát sinh nước thải. Do mục đích của từng bộ phận khác nhau nên tính chất nước thải phát sinh cũng khác nhau. Nước thải bệnh viện phát sinh từ các nguồn sau: - Từ quá trình sinh hoạt của bệnh nhân, người nhà bệnh nhân, cán bộ công nhân viên của bệnh viện.
- Nước thải từ các phòng phẫu thuật, xét nghiệm, phòng thí nghiệm, nhà vệ sinh, nhà bếp,. - Tẩy khuẩn, lau chùi dụng cụ y tế, pha chế thuốc. - Các mẫu bệnh phẩm, rửa vết thương bệnh nhân, nước rửa phim,. - Nước thải là nước mưa chảy tràn trên toàn bộ bề mặt khuôn viên bệnh viện, từ các mái nhà,.
Nguồn phát sinh nước mưa chảy tràn. Nước mưa chảy tràn trên toàn bộ diện tích bệnh viện được thu vào hố ga rồi chảy thẳng vào hệ thống thoát nước chung của khu vực. Chất lượng của nước thải này phụ thuộc vào độ sạch của khí quyển và mặt bằng rửa trôi của khu vực bệnh viện. Nếu đường xá, bến bãi được bê tông hóa và được dọn dẹp sạch sẽ, không có rác tích tụ thì lượng nước mưa chảy tràn trên khu vực này sẽ có mức độ ô nhiễm thấp.
Ngược lại nếu là sân đất, không được vệ sinh 5 thường xuyên thì nước thải qua lớp bề mặt bị nhiễm bẩn cao, đặc biệt là lượng nước mưa rơi xuống đầu tiên. Nước thải từ hoạt động khám và điều trị bệnh. Khám và điều trị bệnh là những hoạt động diễn ra hàng ngày tại bệnh viện. Nước thải phát sinh từ hoạt động này thường chứa các chất hữu cơ hòa tan, các cặn lơ lửng, các vi trùng gây bệnh… một số bệnh viện còn có cả chất phóng xạ.
Quá trình súc rửa các dụng cụ y khoa thải ra các phế phẩm thuốc, các chất sát trùng, dung môi hóa học. Máu mủ, các mầm bệnh được thải ra trong quá trình phẫu thuật là nguồn lây lan các dịch bệnh. Nước thải phát sinh từ các khoa trong bệnh viện: - Khoa giải phẫu : nước thải chứa các mô, tạng tế bào. - Điều trị khối u : nước thải chứa hóa chất và chất phóng xạ.
- Khoa phụ sản : nước thải chứa máu và các tạp chất khác. - Khoa X- Quang : nước rửa phim. - Khoa xét nghiệm : xét nghiệm huyết học, sinh hóa chứa chất dịch sinh học (nước tiểu, dịch sinh học, hóa chất), xét nghiệm vi sinh (vi khuẩn, virus, ký sinh trùng, hóa chất, nấm, chất dịch học). - Khoa răng- hàm-mặt: nước thải có khả năng phát tán thủy ngân.
Nước thải từ sinh hoạt của bệnh viện. Nước thải sinh hoạt chiếm gần 80% lượng nước được cấp cho sinh hoạt. Nước thải sinh hoạt trong bệnh viện sinh ra từ 3 nguồn khác nhau: thứ nhất là nước thải sinh hoạt của cán bộ, nhân viên, bệnh nhân và người nhà bệnh nhân; thứ hai là nước thải từ giặt giũ quần áo, chăn ga, màn… cho bệnh nhân; thứ ba là nước thải từ nhà bếp, khu căng-tin bệnh viện. Đặc điểm của nước thải sinh hoạt là chứa nhiều các chất hữu cơ dễ phân hủy sinh học, các thành phần vô cơ, vi sinh vật và vi trùng gây bệnh rất nguy hiểm.
Nước từ quá trình giặt giũ, lau chùi, vệ sinh chứa nhiều các chất tẩy rửa, các hợp chất chứa clo có nguồn gốc từ chất khử trùng được sử dụng. Ngoài ra cũng chứa một lượng lớn 6 vi trùng gây bệnh trong quần áo của bệnh nhân. Nước thải từ nhà bếp, căng- tin chứa nhiều dầu mỡ, các chất hữu cơ dễ phân hủy sinh học từ thực phẩm. Lượng nước thải phụ thuộc vào số cán bộ công nhân viên trong bệnh viện cũng như số lượng bệnh nhân và người nhà tới chăm sóc bệnh nhân.1: Lượng nước thải các bệnh viện Quy mô bệnh viện Lượng nước dùng Lượng nước thải STT (giường bệnh) (lit/người/ngày) (m3/ngày) 1 <100 700 70 2 200 – 300 700 100 - 200 3 300 – 500 600 200 - 300 4 500 – 700 600 300 - 450 5 > 700 600 > 500 Bệnh viện kết hợp với 6 1000 - nghiên cứu & đào tạo (Nguồn: Công nghệ xử lý nước thải bệnh viện, NXB Khoa học và kỹ thuật, Hà Nội-2004) Đặc biệt nguy hiểm khi nước thải bị nhiễm các vi khuẩn gây bệnh có thể dẫn đến dịch bệnh cho người và động vật qua nguồn nước, qua các loại rau được tưới bằng nước thải.
Nước thải từ các công trình phụ trợ khác Là nước thải từ các công trình phụ trợ như từ khu rửa xe, máy phát điện dự phòng, ga ra ô tô. Những nguồn nước thải bệnh viện này là một trong những nhân tố cơ bản có khả năng lan truyền vào nước thải những tác nhân truyền nhiễm qua đường tiêu hóa và làm ô nhiễm môi trường. Thành phần và tính chất nước thải bệnh viện. Thành phần Các thành phần có trong nước thải bệnh viện bao gồm: 7 - Các chất rắn trong nước thải bệnh viện như (TS, TSS và TDS): Thành phần vật lý cơ bản trong nước thải y tế gồm có: tổng chất rắn (TS); tổng chất rắn lơ lửng (TSS); tổng chất rắn hòa tan (TDS).
Chất rắn hòa tan có kích thước hạt 10-8 - 10-6 mm, không lắng được. Chất rắn lơ lửng có kích thước hạt từ 10-3 - 1 mm và lắng được. Ngoài ra trong nước thải còn có hạt keo (kích thước hạt từ 10-5 - 10-4 mm) khó lắng. - Các chỉ tiêu hữu cơ của nước thải bệnh viện gồm có: nhu cầu oxy sinh hóa (BOD) và nhu cầu oxy hóa học (COD).
+ BOD5 gián tiếp chỉ ra mức độ ô nhiễm do các chất có khả năng bị oxy hoá sinh học, mà đặc biệt là các chất hữu cơ. + COD là chỉ tiêu để đánh giá mức độ ô nhiễm nước thải kể cả chất hữu cơ dễ phân huỷ và khó phân huỷ sinh học. Đối với nước thải, hàm lượng ô nhiễm hữu cơ được xác định gián tiếp thông qua chỉ số COD. - Các chất dinh dưỡng trong nước thải bệnh viện (các chỉ tiêu nitơ và phospho): Trong nước thải bệnh viện cũng chứa các nguyên tố dinh dưỡng gồm Nitơ và Phốt pho.
Các nguyên tố dinh dưỡng này cần thiết cho sự phát triển của vi sinh vật và thực vật. Trong nước, nitơ tồn tại dưới dạng nitơ hữu cơ, nitơ amôn, nitơ nitrit và nitơ nitrat. Nitơ gây ra hiện tượng phú dưỡng và độc hại đối với nguồn nước sử dụng ăn uống. Phốt pho trong nước thường tồn tại dưới dạng orthophotphat (PO43-, HPO42-, H2PO4-, H3PO4) hay polyphotphat [Na3(PO3)6] và phốt phát hữu cơ.
Phốt pho là nguyên nhân chính gây ra sự bùng nổ tảo ở một số nguồn nước mặt, gây ra hiện tượng tái nhiễm bẩn và nước có màu, mùi khó chịu. - Chất khử trùng và một số chất độc hại khác: Do đặc thù hoạt động của bệnh viện nên các hóa chất khử trùng đã được sử dụng khá nhiều, các chất này chủ yếu là các hợp chất của clo (cloramin B, clorua vôi,.) sẽ đi vào nguồn nước thải và làm giảm hiệu quả xử lý của các công trình xử lý nước thải sử dụng phương pháp sinh học. Ngoài ra, một số 8 kim loại nặng như Pb (chì), Hg (Thủy ngân), Cd (Cadimi) hay các hợp chất AOX phát sinh trong việc chụp X- quang cũng như tại các phòng xét nghiệm của bệnh viện trong quá trình thu gom, phân loại không triệt để sẽ đi vào hệ thống nước thải có nguy cơ gây ra ô nhiễm nguồn nước tiếp nhận. - Các vi sinh vật gây bệnh trong nước thải bệnh viện: Nước thải y tế có thể chứa các vi sinh vật gây bệnh như: Samonella typhi gây bệnh thương hàn, Samonella paratyphi gây bệnh phó thương hàn, Shigella sp.
Gây bệnh lỵ, Vibrio cholerae gây bệnh tả. Ngoài ra trong nước thải y tế còn chứa các vi sinh vật gây nhiễm bẩn nguồn nước từ phân như sau: + Coliforms và Fecal coliforms. [2] - Theo số liệu thống kê của trung tâm Quan trắc và Bảo vệ môi trường Thanh Hoá năm 2016 thì thành phần ô nhiễm chính trong nước thải bệnh viện bao gồm: Bảng 1.