Luận văn thạc sĩ đánh giá công tác chuyển nhượng thừa kế tặng cho quyền sử dụng đất trên địa bàn thành phổ vinh tỉnh nghệ an giai đoạn 2014 2016

Bài viết đánh giá công tác chuyển nhượng, thừa kế, tặng cho quyền sử dụng đất tại thành phố Vinh, Nghệ An giai đoạn 2014-2016, phân tích hiệu quả và thách thức.

Chuyên ngành

Quản lý đất đai

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận văn thạc sĩ

2017

73
13
0

Phí lưu trữ

30 Point

Tóm tắt

I. Đánh giá công tác chuyển nhượng

Đánh giá công tác chuyển nhượng quyền sử dụng đất tại Thành phố Vinh, Nghệ An giai đoạn 2014-2016 cho thấy nhiều vấn đề đáng chú ý. Thực trạng chuyển nhượng đất đai phản ánh sự phát triển nhanh chóng của thị trường bất động sản, đặc biệt trong bối cảnh đô thị hóa mạnh mẽ. Quy định pháp luật về chuyển nhượng đất đai được áp dụng, nhưng vẫn tồn tại các giao dịch 'ngầm' do thiếu sự giám sát chặt chẽ. Thời gian chuyển nhượngthủ tục chuyển nhượng còn phức tạp, gây khó khăn cho người dân. Hồ sơ chuyển nhượng cần được cải thiện để đảm bảo tính minh bạch và hiệu quả.

1.1. Tình hình chuyển nhượng

Tình hình chuyển nhượng quyền sử dụng đất tại Thành phố Vinh giai đoạn 2014-2016 cho thấy sự gia tăng đáng kể về số lượng giao dịch. Bất động sản Nghệ An trở thành điểm nóng với giá đất biến động mạnh. Chính sách đất đai hiện hành chưa đủ để kiểm soát thị trường, dẫn đến tình trạng giao dịch không minh bạch. Quyền lợi người thừa kế cần được bảo vệ tốt hơn trong các giao dịch chuyển nhượng.

1.2. Thủ tục chuyển nhượng

Thủ tục chuyển nhượng quyền sử dụng đất tại Thành phố Vinh còn nhiều bất cập. Quy định pháp luật về đăng ký và xác nhận giao dịch chưa được thực hiện triệt để. Thẩm quyền chuyển nhượng cần được phân định rõ ràng để tránh tình trạng chồng chéo. Hồ sơ chuyển nhượng cần được số hóa để tăng tính minh bạch và giảm thời gian xử lý.

II. Thừa kế quyền sử dụng đất

Thừa kế quyền sử dụng đất là một trong những vấn đề quan trọng được nghiên cứu tại Thành phố Vinh, Nghệ An. Quy định pháp luật về thừa kế đất đai được áp dụng, nhưng vẫn tồn tại nhiều tranh chấp do thiếu sự hiểu biết của người dân. Quyền lợi người thừa kế cần được bảo vệ tốt hơn thông qua các chính sách hỗ trợ và tuyên truyền pháp luật. Thời gian thừa kếthủ tục thừa kế cần được đơn giản hóa để giảm bớt gánh nặng cho người dân.

2.1. Tình hình thừa kế

Tình hình thừa kế quyền sử dụng đất tại Thành phố Vinh giai đoạn 2014-2016 cho thấy sự gia tăng các vụ tranh chấp. Quyền lợi người thừa kế thường bị ảnh hưởng do thiếu sự hiểu biết về pháp luật. Chính sách đất đai cần được cải thiện để bảo vệ quyền lợi của người thừa kế, đặc biệt là các hộ gia đình có hoàn cảnh khó khăn.

2.2. Thủ tục thừa kế

Thủ tục thừa kế quyền sử dụng đất tại Thành phố Vinh còn phức tạp và tốn nhiều thời gian. Quy định pháp luật về thừa kế cần được cập nhật và đơn giản hóa để phù hợp với thực tế. Thẩm quyền thừa kế cần được phân định rõ ràng để tránh tình trạng chồng chéo và kéo dài thời gian xử lý.

III. Tặng cho quyền sử dụng đất

Tặng cho quyền sử dụng đất là một hình thức chuyển quyền phổ biến tại Thành phố Vinh, Nghệ An. Quy định pháp luật về tặng cho đất đai được áp dụng, nhưng vẫn tồn tại nhiều vấn đề liên quan đến tính minh bạch và công bằng. Quyền lợi người thừa kế cần được bảo vệ tốt hơn trong các giao dịch tặng cho. Thời gian tặng chothủ tục tặng cho cần được cải thiện để đảm bảo tính hiệu quả và công bằng.

3.1. Tình hình tặng cho

Tình hình tặng cho quyền sử dụng đất tại Thành phố Vinh giai đoạn 2014-2016 cho thấy sự gia tăng các giao dịch. Quyền lợi người thừa kế thường bị ảnh hưởng do thiếu sự hiểu biết về pháp luật. Chính sách đất đai cần được cải thiện để bảo vệ quyền lợi của người thừa kế, đặc biệt là các hộ gia đình có hoàn cảnh khó khăn.

3.2. Thủ tục tặng cho

Thủ tục tặng cho quyền sử dụng đất tại Thành phố Vinh còn phức tạp và tốn nhiều thời gian. Quy định pháp luật về tặng cho cần được cập nhật và đơn giản hóa để phù hợp với thực tế. Thẩm quyền tặng cho cần được phân định rõ ràng để tránh tình trạng chồng chéo và kéo dài thời gian xử lý.

02/03/2025
Luận văn thạc sĩ đánh giá công tác chuyển nhượng thừa kế tặng cho quyền sử dụng đất trên địa bàn thành phổ vinh tỉnh nghệ an giai đoạn 2014 2016

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Khái quát những vấn đề liên quan đến đất đai 1. Khái niệm về đất đai Đất đai là một diện tích cụ thể của bề mặt trái đất, bao gồm tất cả các cấu thành của môi trường sinh thái ngay trên và dưới bề mặt đó bao gồm khí hậu, bề mặt, thổ nhưỡng, dạng địa hình, nước mặt (hồ, sông), nước ngầm, tập đoàn thực vật và động vật, trạng thái định cư của con người, những kết quả do hoạt động của con người trong quá khứ và hiện tại để lại. Khái niệm về quản lý đất đai Quản lý đất đai là một ngành khoa học có truyền thống lâu đời và ngày nay càng có vai trò quan trọng,mang tính liên tục theo thời gian và không gian.

Quản lý đất đai bao gồm những chức năng, nhiệm vụ liên quan đến việc xác lập và thực thi các quy tắc cho việc quản lý, sử dụng và phát triển đất đai cùng với những lợi nhuận thu được từ đất (thông qua bán, cho thuê, hoặc thuế) và giải quyết những tranh chấp liên quan đến quyền sở hữu và QSDĐ. Quản lý đất đai là quá trình điều tra mô tả, những tài liệu chi tiết về thửa đất, xác định hoặc điều chỉnh các quyền và các thuộc tính khác của đất, lưu giữ và cập nhật và cung cấp những thông tin về sở hữu, giá trị, sử dụng đất và các nguồn thông tin khác liên quan đến thị trường BĐS. Quản lý đất đai liên quan đến cả hai đối tượng đất công và đất tư bao gồm: đo đạc đất đai, ĐKĐĐ, định giá đất, giám sát, quản lý sử dụng đất đai và cơ sở hạ tầng cho công tác quản lý. Quản lý nhà nước về đất đai có thể đồng nghĩa với QLĐĐ, tập trung vào cách thức Chính phủ xây dựng, thực hiện các chính sách đất đai và QLĐĐ cho tất cả các loại đất không phân biệt quyền sử dụng đất.

Cụ thể hơn, đây là quá trình nhà nước QLĐĐ thuộc sở hữu của Nhà nước và giao đất cho các mục đích sử dụng khác nhau. Cơ sở khoa học về quyền sử dụng đất Nhà nước là người đại diện cho nhân dân thực hiện quyền sở hữu toàn dân về đất đai. Nhà nước có quyền chiếm hữu, sử dụng và định đoạt về đất đại theo quy hoạch, kế hoạch và trên cơ sở những quy định của pháp luật. Tuy nhiên, với các quyền năng đó, cũng không được hiểu rằng Nhà nước có quyền sở hữu về đất đai mà chỉ là đại diện cho toàn dân thực hiện quyền sở hữu đó trên thực tế.

Vậy chủ sở hữu của đất đại là toàn dân, Nhà nước là người đại điện, còn mỗi người dân thực hiện quyền của mình như thế nào? Quyền sở hữu toàn dân về đất đai là quyền tối cao, thiêng liêng và không thể chia cắt, chủ sở hữu có thể là một, đó là toàn dân, nhưng mỗi người dân không phải là một chủ sở hữu của khối tài sản chung đó, không phải là các đồng chủ sở hữu đối với đất đai. Nhưng người dân (tổ chức và cá nhân, hộ gia đình) có QSDĐ. Thông qua Nhà nước cơ quan đại diện thực hiện quyền sở hữu, người dân được Nhà nước giao đất, cho thuê đất sử dụng. Điều này đã được Hiến pháp cũng như Luật Đất đai hiện hành ghi nhận.

Vì vậy, trong Luật Đất đai năm 1993 [14] đã xuất hiện khái niệm “quyền sử dụng đất” và “người sử dụng đất”, hay nói cách khác là QSDĐ của người sử dụng. Theo điều 1 Luật Đất đai 1993: “… Nhà nước giao đất cho các tổ chức kinh tế, đơn vị Vũ trang nhân dân, cơ quan Nhà nước, tổ chức chính trị, xã hội (gọi chung là tổ chức), hộ gia đình và cả nhân sử dụng ổn định, lâu dài. Nhà nước còn cho tổ chức, hộ gia đình, cá nhân thuê đất. Tổ chức, hộ gia đình, cá nhân được Nhà nước giao đất, cho thuê đất trong Luật này gọi chung là người sử dụng đất” [14].

“Quyền sử dụng đất” là một khái niệm có tính sáng tạo đặc biệt của các nhà lập pháp Việt Nam. Trong điều kiện đất đai thuộc quyền sở hữu toàn dân và không thể phân chia thì làm thế nào để người dân thực hiện được quyền của mình? Để người dân có thể khai thác, sử dụng đất đai có hiệu quả, đáp ứng được như cầu của sản xuất và đời sống mà lại không làm mất đi ỷ nghĩa tối cao của tỉnh toàn dân, không mất đi vai trò quân lý với tư cách đai diện chủ sở hữu của Nhà nước? Khái niệm “quyền sử dụng đất” của “người sử dụng đất” chính là sự sáng tạo pháp luật, giải quyết được mâu thuẫn nói trên và làm hài hoà được các lợi ích của quốc gia, Nhà nước và mỗi người dân [5]. 5 Nội dung QSDĐ của người sử dụng đất bao gồm các quyền năng luật định: quyền chiếm hữu (thể hiện ở quyền được cấp GCNQSDĐ, quyền được pháp luật bảo vệ khi bị người khác xâm phạm); quyền sử dụng (thể hiện ở quyền khai thác lợi ích của đất và được hưởng thành quả lao động, kết quả đầu tư trên đất được giao) và một số quyền năng đặc biệt khác tùy thuộc vào từng loại chủ thể và từng loại đất sử dụng. Tuy nhiên, nội dung QSDĐ được thể hiện có khác nhau tùy thuộc vào người sử dụng là ai, sử dụng loại đất gì và được Nhà nước giao đất hay cho thuê đất.

QSDĐ của các tổ chức, hộ gia đình, cả nhân được Nhà nước giao đất bao gồm: “Quyền chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, thừa kế, tặng cho QSDĐ; quyền thế chấp, bảo lãnh, góp vốn bằng QSDĐ; quyền được bồi thường khi Nhà nước thu hồi (Điều 100 Luật Đất đai 2003)[15]. Đây không phải là quyền sở hữu nhưng là một quyền năng khá rộng và so với quyền sở hữu thì không khác nhau là mấy nếu xét trên phương diện thực tế sử dụng đất. Mặt khác Nhà nước giao đất cho các tổ chức, hộ gia đình và cả nhân sử dụng ổn định lâu dài, Nhà nước chỉ thu hồi đất vì những lý do đặc biệt, đáp ứng lợi ích quốc gia và công cộng, hết thời hạn giao đất không có nghĩa là Nhà nước thu hồi đất mà Nhà nước sẽ tiếp tục giao đất cho người sử dụng. Trường hợp Nhà nước thu hồi đất thì Nhà nước sẽ giao đất khác cho người sử dụng hoặc sẽ “đền bù” (Luật Đất đai 1993), “bồi thường” (Luật Đất đai 2003).

Như vậy, trên thực tế người được giao quyền sử dụng các loại đất này thực hiện các quyền chiếm hữu và sử dụng tương đổi toàn điện, còn quyền định đoạt tuy có hạn chế trong một số quyền năng cụ thể, song đó chỉ là trên phương diện lý thuyết xét trên góc độ pháp lý, còn trên thực tế các quyền chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, thừa kế, thế chấp QSDĐ cũng rất gần với khái niệm quyền định đoạt. Sau đây là nội dung cụ thể của quyền chuyển nhượng, tặng cho, thừa kế sử dụng đất. - Chuyển nhượng QSDĐ: là hành vi chuyển QSDĐ, trong trường hợp người sử dụng đất chuyển đi nơi khác, chuyển sang làm nghề khác, không có khả năng sử dụng hoặc để thực hiện quy hoạch sử dụng đất mà pháp luật cho phép,. Trong trường hợp này, người nhận đất phải trả cho người chuyển QSDĐ một khoản tiền 6 tương ứng với mọi chi phí họ phải bỏ ra để có được quyền sử dụng đó và số đầu tư làm tăng giá trị đất đai.

Đặc thù của việc chuyển nhượng QSDĐ là ở chỗ: đất đai vẫn thuộc sở hữu toàn dân và việc chuyển quyền chỉ thực hiện trong giới hạn của thời gian giao đất; Nhà nước có quyền điều tiết phần địa tô chênh lệch thông qua việc thu thuế chuyển QSDĐ, thuế sử dụng đất và tiền sử dụng đất; Nhà nước có thể quy định một số trường hợp không được chuyển QSDĐ; mọi cuộc chuyển nhượng QSDĐ đều phải đăng ký biến động về đất đai, nếu không, sẽ bị xem là hành vi phạm pháp [5], [18]. - Cho, tặng, thừa kế QSDĐ là hành vi chuyển QSDĐ trong tình huống đặc biệt, người nhận QSDĐ không phải trả tiền nhưng có thể phải nộp thuế. Do nhu cầu của việc chuyển đổi cơ cấu kinh tế, phân công lại lao động xã hội, việc chuyển QSDĐ không chỉ dừng lại trong quan hệ dân sự mà có thể phát triển thành các quan hệ thương mại, dịch vụ; giá trị chuyển nhượng QSDĐ chiếm một tỉ trọng rất có ý nghĩa trong các giao dịch trên thị trường bất động sản [5], [18]. Quyền sở hữu, sử dụng đất ở một số nước trên thế giới 1.

Các nước phát triển Tại các nước phát triển, đa số các nước đều thừa nhận hình thức sở hữu tư nhân về đất đai, do đó đất đai được mua bán, trao đổi trong nền kinh tế tuy có một số đặc điểm riêng so với những hàng hóa tư liệu tiêu dùng hoặc tư liệu sản xuất khác. Thụy Điển Tại Thụy Điển, pháp luật đất đai về cơ bản là dựa trên việc sở hữu tư nhân về đất đai và nền kinh tế thị trường. Tuy nhiên, sự giám sát chung của xã hội tồn tại trên rất nhiều lĩnh vực, ví dụ như phát triển đất đai và bảo vệ môi trường. Hoạt động giám sát là một hoạt động phổ biến trong tất cả các nền kinh tế thị trường cho dù hệ thống pháp luật về chi tiết được hình thành khác nhau.

Hệ thống pháp luật về đất đai của Thụy Điển gồm có rất nhiều các đạo luật, luật, pháp lệnh phục vụ cho các hoạt động đo đạc địa chính và quản lý đất đai. Các hoạt động cụ thể như hoạt động địa chính, quy hoạch sử dụng đất, đăng ký đất đai, bất động sản và việc xây dụng ngân hàng dữ liệu đất đai v. đều được luật hoá. 7 Dưới đây là một số điểm nổi bật của pháp luật, chính sách đất đai của Thụy Điển: - Việc đăng ký quyền sở hữu: Việc đăng ký quyền sở hữu khi thực hiện chuyển nhượng đất đai: Toà án thực hiện đăng ký quyền sở hữu khi có các chuyển nhượng đất đai.

Người mua phải đăng ký quyền sở hữu của mình trong vòng 3 tháng sau khi mua. Bên mua nộp hợp đồng chuyển nhượng để xin đăng ký. Toà án sẽ xem xét, đối chiếu với Sổ đăng ký đất. Nếu xét thấy hợp pháp, sẽ tiến hành đăng ký quyền sở hữu để người mua là chủ sở hữu mói.

Các bản sao của hợp đồng chuyển nhượng sẽ lưu tại toà án, bản gốc được trả lại cho người mua. Toà án cũng xem xét các hạn chế về chuyển nhượng của bên bán (ví dụ cấm bán).

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Đánh Giá Công Tác Chuyển Nhượng Thừa Kế Tặng Cho Quyền Sử Dụng Đất Tại Thành Phố Vinh, Nghệ An (2014-2016) là một tài liệu chuyên sâu phân tích thực trạng và hiệu quả của công tác chuyển nhượng, thừa kế, tặng cho quyền sử dụng đất tại thành phố Vinh trong giai đoạn 2014-2016. Tài liệu này cung cấp cái nhìn toàn diện về các quy định pháp lý, thực tiễn thi hành, cũng như những thách thức và giải pháp liên quan đến vấn đề này. Đặc biệt, nó hữu ích cho các nhà nghiên cứu, cán bộ quản lý đất đai, và những người quan tâm đến lĩnh vực pháp luật đất đai.

Để mở rộng kiến thức về chủ đề này, bạn có thể tham khảo thêm các tài liệu liên quan như Luận án tiến sĩ luật học pháp luật về chuyển nhượng quyền sử dụng đất của tổ chức kinh tế và thực tiễn thi hành tại tỉnh Thái Nguyên, Luận văn tốt nghiệp đánh giá tình hình chuyển nhượng tặng cho quyền sử dụng đất tại một số phường trung tâm thành phố Cẩm Phả giai đoạn 2017-2019, và Khoá luận tốt nghiệp pháp luật về chuyển nhượng quyền sử dụng đất của hộ gia đình cá nhân và thực tiễn thực thi trên địa bàn thành phố Hà Nội. Mỗi tài liệu này đều mang đến những góc nhìn và phân tích sâu sắc, giúp bạn hiểu rõ hơn về các khía cạnh khác nhau của chuyển nhượng quyền sử dụng đất.