Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Cơ sở khoa học của đề tài 1. Cơ sở lý luận Một số khái niệm, thuật ngữ về môi trường sử dụng trong đề tài được hiểu theo Luật Bảo vệ môi trường năm 2005 [19] như sau: - Môi trường bao gồm các yếu tố tự nhiên và vật chất nhân tạo bao quanh con người, có ảnh hưởng đến đời sống, sản xuất, sự tồn tại, phát triển của con người và sinh vật. - Thành phần môi trường là yếu tố vật chất tạo thành môi trường như đất, nước, không khí, âm thanh, ánh sáng, sinh vật, hệ sinh thái và các hình thái vật chất khác.
- Ô nhiễm môi trường là sự biến đổi của các thành phần môi trường không phù hợp với tiêu chuẩn môi trường, gây ảnh hưởng xấu đến con người, sinh vật. - Suy thoái môi trường là sự suy giảm về chất lượng và số lượng của thành phần môi trường, gây ảnh hưởng xấu đối với con người và sinh vật. - Sự cố môi trường là tai biến hoặc rủi ro xảy ra trong quá trình hoạt động của con người hoặc biến đổi thất thường của tự nhiên, gây ô nhiễm, suy thoái hoặc biến đổi môi trường nghiêm trọng. - Chất gây ô nhiễm là chất hoặc yếu tố vật lý khi xuất hiện trong môi trường thì làm cho môi trường bị ô nhiễm.
- Hệ sinh thái là hệ quần thể sinh vật trong một khu vực địa lý tự nhiên nhất định cùng tồn tại và phát triển, có tác động qua lại với nhau. - Quan trắc môi trường là quá trình theo dõi có hệ thống về môi trường, các yếu tố tác động lên môi trường nhằm cung cấp thông tin phục vụ đánh giá hiện trạng, diễn biến chất lượng môi trường và các tác động xấu đối với môi trường. - Đánh giá tác động môi trường là việc phân tích, dự báo các tác động đến môi trường của dự án đầu tư cụ thể để đưa ra các biện pháp bảo vệ môi trường khi triển khai dự án đó. n 5 - Khí thải gây hiệu ứng nhà kính là các loại khí tác động đến sự trao đổi nhiệt giữa trái đất và không gian xung quanh làm nhiệt độ của không khí bao quanh bề mặt trái đất nóng lên 1.
Căn cứ pháp lý và kỹ thuật để thực hiện đề tài - Luật Bảo vệ môi trường ngày 29/11/2005; - Luật Khoáng sản số 60/2010/QH 12 ngày 17/11/2010; - Luật Tài nguyên nước số 17/2012/QH13 ngày 21/6/2013; - Luật Đa dạng sinh học số 20/2008/QH12 ngày 13/11/2008; - Luật Đất đai số 13/2003/QH 11 ngày 26/11/2003; - Luật Bảo vệ và Phát triển rừng số 29/2004/QH 11 ngày 03/12/2004; - Nghị định số 80/2006/NĐ-CP ngày 09/08/2006 của Chính phủ về việc quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Bảo vệ Môi trường năm 2005; - Nghị định số 21/2008/NĐ-CP ngày 28/2/2008 của Chính phủ về việc sửa đổi bổ sung một số điều của Nghị định số 80/2006/NĐ-CP ngày 9/8/2006 của Chính phủ v/v Quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Bảo vệ môi trường năm 2005; - Nghị định số 181/2004/NĐ-CP ngày 29/10/2004 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Đất đai 2003; - Nghị định số 29/2011/NĐ-CP ngày 18/4/2011 của Chính phủ quy định về đánh giá môi trường chiến lược, đánh giá tác động môi trường, cam kết bảo vệ môi trường; - Nghị định số 23/2006/NĐ-CP ngày 03/03/2006 của Chính phủ về thi hành Luật Bảo vệ và Phát triển rừng 2004; - Nghị định số 59/2007/NĐ-CP ngày 6/4/2007 của Chính phủ về quản lý chất thải rắn; - Nghị định số 15/2012/NĐ-CP ngày 09/3/2012 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Khoáng sản năm 2010; - Nghị định số 65/2010/NĐ-CP ngày 11/6/2010 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Đa dạng sinh học năm 2008; n 6 - Thông tư số 12/2011/TT-BTNMT ngày 14/4/2011 của Bộ Tài nguyên và Môi trường quy định về quản lý chất thải nguy hại; - Quyết định số 3733/2002/QĐ-BYT ngày 10/10/2002 của Bộ Y tế về việc ban hành 21 tiêu chuẩn vệ sinh lao động, 05 nguyên tắc và 07 thông số vệ sinh lao động. - Chỉ thị số 02/CT-UBND ngày 21/02/2012 của UBND tỉnh Bắc Giang về việc tăng cường quản lý tài nguyên khoáng sản và hoạt động khoáng sản trên địa bàn tỉnh. - Quyết định số 40/2006/QĐ-UBND ngày 31 tháng 5 năm 2006 của UBND tỉnh Bắc Giang về việc ban hành quy định quản lý tài nguyên khoáng sản trên địa bàn tỉnh Bắc Giang. Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước về hoạt động khai thác và ảnh hưởng của khai thác, chế biến than đến môi trường 1.
Tình hình khai thác và ảnh hưởng của hoạt động khai thác, chế biến than đến môi trường trên thế giới a. Tình hình khai thác than trên thế giới Hoạt động khai thác tài nguyên khoáng sản nói chung và khai thác than nói riêng đã và đang diễn ra mạnh mẽ trên toàn thế giới, nhất là trong giai đoạn hiện nay khi giá các loại nhiên liệu ngày càng tăng.030 triệu tấn than được khai thác, con số này đã tăng 38% trong vòng 20 năm qua. Sản lượng khai thác tăng nhanh nhất ở Châu Á, trong khi đó Châu Âu khai thác với tốc độ giảm dần. Hiện nay, 5 quốc gia khai thác than lớn nhất gồm: Trung Quốc, Mỹ, Ấn Độ, Úc và Nam Phi.
Hầu hết các nước khai thác than cho nhu cầu tiêu dùng nội địa, chỉ có khoảng 18% than cứng dành cho thị trường xuất khẩu. Lượng than khai thác được dự báo tới năm 2030 vào khoảng 7 tỷ tấn, trong đó Trung Quốc chiếm khoảng hơn một nửa sản lượng [20]. n 7 Triệu tấn Sản lượng khai thác than của 10 quốc gia 1600 1414.1: Biểu đồ thể hiện sản lượng khai thác than của 10 quốc gia Tại Hoa Kỳ, quốc gia có kĩ thuật cao trong công nghệ đã áp dụng nhiều dạng năng lượng trong hoạt động sản xuất công nghiệp và phục vụ cuộc sống của con người như sản xuất điện năng. Trong đó, năng lượng do than đá cung cấp vẫn chiếm hàng đầu với 52% tổng số nhu cầu năng lượng của cả nước.
Do công nghệ, kĩ thuật khai thác than đơn giản, nhu cầu tiêu thụ cao và giá thành rẻ hơn so với các loại nhiên liệu hoá thạch khác vì thế công nghiệp khai thác than đang trở thành ngành công nghiệp chủ yếu của nước này. Hàng năm, Hoa kỳ đầu tư cho công nghệ khai thác than lên đến 350 tỉ USD và hiện đang khai thác trên 75. Với công nghệ, kĩ thuật và số lượng mỏ lớn như vậy mỗi năm nước này có thể khai thác được khoảng trên dưới 1 tỷ tấn than nguyên khai, năm 2003 khoảng 1 tỷ tấn và đến năm 2004 là 1,2 tỷ tấn [25]. Năm 2007, sản lượng khai thác than của Hoa Kỳ là 1,146 tỷ tấn, chiếm 16,1% sản lượng thế giới.
Năm 2009, sản lượng khai thác than của Hoa Kì là 596,9 triệu tấn đứng thứ hai trên thế giới [20]. n 8 Tại Trung Quốc do nhu cầu tiêu thụ than trong nước và xuất khẩu ngày càng tăng, chính sách của nước này là cho phép đẩy mạnh ngành công nghiệp khai thác than. Tính đến năm 2006, ngành công ngiệp than của Trung Quốc đã khai thác được khoảng 2,4 tỉ tấn than nguyên khai, đây là sản lượng khai thác lớn nhất từ trước đến nay. Năm 2007, sản lượng khai thác là 2,796 tỷ tấn, chiếm 39,5% sản lượng thế giới.
Đến năm 2009, sản lượng khai thác là 1,415 tỷ tấn đứng đầu trên thế giới. Tuy nhiên, so với các năm trước (2006, 2007) thì sản lượng khai thác than giảm. Khai thác than hiện nay đang là ngành công nghiệp mang lại lợi ích kinh tế rất cao, đóng góp một phần không nhỏ vào sự phát triển kinh tế của mỗi quốc gia. Tuy nhiên, hậu quả do hoạt động khai thác than để lại là những vấn đề quan tâm trong những năm gần đây: Vấn đề ô nhiễm, các sự cố, rủi ro về môi trường do khai thác và nạn khai thác than trái phép tại nhiều nước có trữ lượng than lớn.
Chỉ tính riêng Trung Quốc, nước có trữ lượng than đá (chiếm 12,6 % tổng trữ lượng than đá) đứng thứ ba trên thế giới, nạn khai thác than trái phép đang diễn ra bên ngoài tầm kiểm soát của nhà chức trách nước này. Theo số liệu thống kê, hàng năm ngành than Trung Quốc phải gánh chịu, khắc phục hậu quả của hàng trăm vụ sập lò do khai thác than trái phép và do công nghệ khai thác không đảm bảo an toàn cho công nhân mỏ. Năm 2004, công nghệ khai thác than Trung Quốc đã cướp đi sinh mạng của 6. Như vậy, hoạt động khai thác than trên thế giới đang diễn ra mạnh mẽ trong những năm gần đây, cung cấp phần lớn nhiên liệu cho các ngành công nghiệp và phục vụ cuộc sống con người.
Cùng với sản lượng khai thác tăng thì thế giới cũng đang phải gánh chịu những hậu quả nặng nề do hoạt động khai thác than để lại, đặc biệt là vấn đề ô nhiễm môi trường. Ảnh hưởng của hoạt động khai thác, chế biến than đến môi trường trên thế giới Trên thế giới đã có rất nhiều quốc gia, tổ chức như: Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), Ngân hàng Thế giới (WB), Cục bảo vệ Môi trường Mỹ (US EPA), các viện nghiên cứu, các trường đại học lớn đã tiến hành nghiên cứu, n 9 đánh giá ảnh hưởng của chất thải trong ngành khai thác than đến môi trường cũng như sức khỏe con người một cách rất bài bản và đưa ra các kết quả, kết luận sâu sắc. Trong số đó có kết quả nghiên cứu của Viện BlackSimth (BlackSimth Institute), New York, Hoa Kỳ, Viện này đã có hàng loạt các dự án nghiên cứu về hiện trạng chất lượng môi trường đất, nước, không khí xung quanh các khu vực mỏ khai thác than lớn trên thế giới, từ đó đưa ra các giải pháp hỗ trợ (công nghệ và tài chính) nhằm giảm thiểu suy thoái, nâng cao chất lượng môi trường tại các khu vực này. Một số kết quả nghiên cứu cụ thể như sau: - Sông Hằng là con sông nổi tiếng nhất Ấn Độ, dài 2.510km bắt nguồn từ dãy Himalaya, chảy theo hướng Đông Nam qua Bangladesh và chảy vào vịnh Bengal.
Hiện nay, sông Hằng là một trong những con sông bị ô nhiễm nhất trên thế giới vì bị ảnh hưởng nặng nề của nền công nghiệp hóa chất, rác thải công nghiệp và đặc biệt là hoạt động khai thác khoáng sản phía thượng lưu. Các nghiên cứu cũng phát hiện tỷ lệ các kim loại độc trong nước sông tại khu vực khai thác khoáng sản khá cao như chì (10-800ppm), crom (10- 200ppm) và nickel (10-130ppm).