Chương 1 CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA ĐỀ TÀI 1. Cơ sở lý luận về phát triển 1. Khái niệm về phát triển bền vững 1. Khái niệm về phát triển sản xuất Khái niệm về phát triển: Hiện nay, có nhiều quan niệm khác nhau về sự phát triển.
Theo tác giả Nguyễn Đình Long và cs. (1999): “Phát triển được hiểu là một phạm trù triết học dùng để chỉ quá trình vận động tiến lên từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp, từ kém hoàn thiện đến hoàn thiện hơn của sự vật. Quá trình đó diễn ra vừa dần dần, vừa nhảy vọt, đưa tới sự ra đời của cái mới thay thế cái cũ”. Quan điểm này cũng cho rằng, “Sự phát triển là kết quả của quá trình thay đổi dần dần về lượng dẫn đến sự thay đổi về chất, là quá trình diễn ra theo đường xoáy ốc và hết mỗi chu kỳ sự vật lặp lại dường như sự vật ban đầu nhưng ở cấp độ cao hơn”.
Phát triển trong sản xuất là quá trình tạo ra của cải vật chất và dịch vụ. Trong đó, con người luôn đấu tranh với thiên nhiên làm thay đổi những vật chất sẵn có nhằm tạo ra lương thực, thực phẩm, quần áo, nhà ở và những của cải khác phục vụ cuộc sống. Sản xuất cho tiêu dùng, tức là tạo ra sản phẩm mang tính tự cung tự cấp, quá trình này thể hiện trình độ còn thấp của các chủ thể sản xuất, sản phẩm sản xuất ra chỉ nhằm mục đích đảm bảo chủ yếu cho các nhu cầu của chính họ, không có sản phẩm dư thừa cung cấp cho thị trường. Sản xuất cho thị trường tức là phát triển theo kiểu sản xuất hàng hoá, sản phẩm sản xuất ra chủ yếu trao đổi trên thị trường, thường được sản xuất trên quy mô lớn, phối lượng sản phẩm nhiều.
Sản xuất này mang tính tập trung chuyên canh cao, tỷ lệ sản phẩm hàng hoá cao. Về mặt sản xuất ra của cải cho xã hội, phát triển là tăng nhiều sản phẩm hơn, phong phú hơn về chủng loại và chất lượng, phù hợp hơn về cơ cấu và Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.vn 6 phân bố của cải. Phát triển bên cạnh tăng thu nhập bình quân đầu người, còn bao gồm các khía cạnh khác như nâng cao phúc lợi nhân dân, nâng cao tiêu chuẩn sống, bao gồm tiêu dùng vật chất, giáo dục, sức khoẻ và bảo vệ môi trường (Nguyễn Văn Mấn và Trịnh Văn Thịnh, 2002). Như vậy, có thể khái quát những quan điểm chủ yếu về phát triển như sau: Phát triển đó là nhiều hơn về đầu ra, tốt hơn về chất lượng, đa dạng về chủng loại, phù hợp hơn về cơ cấu, cả kinh tế-xã hội-môi trường, cả tổ chức- thể chế, văn hóa và xã hội.
Phát triển được hiểu theo nghĩa phát triển theo chiều rộng và phát triển theo chiều sâu. Phát triển chính là tăng trưởng về quy mô và hoàn thiện về cơ cấu. * Khái niệm phát triển sản xuất Phát triển sản xuất có thể hiểu là một quá trình lớn lên về mọi mặt của quá trình sản xuất trong một thời kì nhất định. Trong đó bao gồm cả sự tăng lên về quy mô sản lượng hay giá trị sản phẩm hàng hóa dịch vụ và sự tiến bộ về mặt cơ cấu các mặt hàng (Wikipedia.
Phát triển sản xuất bao gồm hai khía cạnh: Phát triển sản xuất theo chiều rộng và phát triển sản xuất theo chiều sâu. Trong khi phát triển sản xuất theo chiều rộng chú trọng tới quy mô như tăng diện tích, tăng thêm vốn, bổ sung thêm lao động, mở mang thêm nhiều ngành nghề, xây dựng thêm những xí nghiệp tạo ra những mặt hàng mới và hầu như không tăng năng suất lao động. Phát triển sản xuất theo chiều sâu chú trọng về chất lượng của sự phát triển, tức là nâng cao năng suất, chất lượng sản phẩm và hiệu quả sử dụng các nguồn lực. Khái niệm về phát triển bền vững Thuật ngữ "phát triển bền vững" xuất hiện lần đầu tiên vào năm 1980 trong ấn phẩm Chiến lược bảo tồn Thế giới (công bố bởi Hiệp hội Bảo tồn Thiên nhiên và Tài nguyên Thiên nhiên Quốc tế - IUCN) với nội dung rất đơn giản: "Sự phát triển của nhân loại không thể chỉ chú trọng tới phát triển kinh tế mà còn phải tôn trọng những nhu cầu tất yếu của xã hội và sự tác động đến môi trường sinh thái học".
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.vn 7 Khái niệm này được phổ biến rộng rãi vào năm 1987 nhờ Báo cáo Brundtland (còn gọi là Báo cáo Our Common Future) của Ủy ban Môi trường và Phát triển Thế giới - WCED (nay là Ủy ban Brundtland). Báo cáo này ghi rõ: Phát triển bền vững là "sự phát triển có thể đáp ứng được những nhu cầu hiện tại mà không ảnh hưởng, tổn hại đến những khả năng đáp ứng nhu cầu của các thế hệ tương lai. Nói cách khác, phát triển bền vững phải bảo đảm có sự phát triển kinh tế hiệu quả, xã hội công bằng và môi trường được bảo vệ, gìn giữ. Để đạt được điều này, tất cả các thành phần kinh tế - xã hội, nhà cầm quyền, các tổ chức xã hội.
phải bắt tay nhau thực hiện nhằm mục đích dung hòa 3 lĩnh vực chính: kinh tế - xã hội - môi trường. Các thế hệ hiện tại khi sử dụng các nguồn tài nguyên cho sản xuất của cải vật chất không thể để cho thế hệ mai sau phải gánh chịu tình trạng ô nhiễm, cạn kiệt tài nguyên và nghèo đói. Cần phải để cho các thế hệ tương lai được thừa hưởng các thành quả lao động của thế hệ hiện tại dưới dạng giáo dục, kỹ thuật, kiến thức và các nguồn lực khác ngày càng được tăng cường. Chương trình môi trường của Liên hợp quốc đã đề xuất 5 nội dung của phát triển bền vững gồm: (i) Tập trung phát triển ở các vùng nghèo đói, nhất là vùng rất nghèo mà ở đó con người không có lựa chọn nào khác ngoài làm giảm cấp nguồn lực và môi trường; (ii) Tạo ra sự phát triển cao về tính tự lập của cộng đồng trong điều kiện có hạn về nguồn lực, nhất là tài nguyên thiên nhiên; (iii) Nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn lực dựa trên các kỹ thuật và công nghệ thích hợp, kết hợp với khai thác tối đa kỹ thuật truyền thống; (iv) Thực hiện các chiến lược phát triển nhằm đảm bảo tự lực về lương thực, cung cấp nước sạch và nhà ở, giữ gìn sức khoẻ, chống suy dinh dưỡng thông qua các công nghệ thích hợp; (v) Xây dựng và thực hiện các chiến lược có người dân tham gia (Bộ Kế hoạch và Đầu tư, 2006).
Theo Tổ chức Ngân hàng phát triển Châu Á (2005): "Phát triển bền vững là một loại hình phát triển mới, lồng ghép quá trình sản xuất với bảo tồn tài Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.vn 8 nguyên và nâng cao chất lượng môi trường. Phát triển bền vững cần phải đáp ứng các nhu cầu của thế hệ hiện tại mà không phương hại đến khả năng của chúng ta đáp ứng các nhu cầu của thế hệ trong tương lai". Tóm lại có nhiều quan điểm khác nhau về phát triển bền vững, nhưng chung quy lại phát triển bền vững được coi là sự kết hợp giữa sự phát triển và môi trường, là sự cân bằng giữa kinh tế, xã hội và môi trường. Nó lồng ghép các quá trình sản xuất với bảo tồn tài nguyên và làm tốt hơn về môi trường.
Nó đảm bảo thoả mãn những nhu cầu cho hiện tại mà không phương hại đến khả năng đáp ứng những nhu cầu trong tương lai. Về kinh tế đó là sự tăng trưởng, hiệu quả và ổn định; về xã hội là việc giảm đói nghèo, xây dựng thể chế, bảo tồn di sản và văn hoá dân tộc; còn về mặt môi trường đó là đa dạng sinh học và thích nghi, bảo tồn tài nguyên thiên nhiên và ngăn chặn ô nhiễm môi trường. Khái niệm về sản xuất Các nhà thống kê đưa ra khái niệm sản xuất để cố gắng đánh giá đúng, đầy đủ kết quả của tất cả các hoạt động sản xuất trong nền kinh tế. Các nhà kinh doanh thì cho rằng sản xuất là một quá trình tạo ra của cải vật chất và dịch vụ cho xã hội, rất cần thiết cho phát triển kinh tế.
“Sản xuất là quá trình phối hợp và điều hòa các yếu tố đầu vào (tài nguyên, hoặc các yếu tố sản xuất) để tạo ra sản phẩm hàng hóa hoặc dịch vụ (đầu ra)” (Học viện chính trị - Hành chính khu vực 1, 2001). Theo Viện Ngôn ngữ học (2010) nêu trong từ điển tiếng Việt thì sản xuất là hoạt động tạo ra của cải vật chất nói chung. Sản xuất phản ánh quá trình con người cải tạo thiên nhiên nhằm mục đích tạo ra điều kiện cần thiết cho sự sinh tồn của mình. Sản xuất là hoạt động cơ bản, tự nhiên và vĩnh hằng của con người và trong thực tế bao giờ cũng tồn tại một phương thức sản xuất nhất định phù hợp với từng giai đoạn lịch sử.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc. Khái niệm, bản chất phát triển sản xuất chè nguyên liệu bền vững Sản xuất chè nguyên liệu đóng vai trò quan trọng trong phát triển kinh tế, đặc biệt là đối với những vùng chuyên canh chè, điều đó được thể hiện qua giá trị kinh tế của nó. Phát triển sản xuất chè nguyên liệu sẽ đem lại hiệu quả kinh tế ngày càng cao cho các tác nhân tham gia, để từ đó ổn định và phát triển sản xuất kinh doanh chè, đóng góp vào sự phát triển cho kinh tế của địa phương và cả nước. Thực tế ngành chè hiện nay cho thấy có trên 90% diện tích là nằm ở nông hộ, dưới 10% diện tích ở DN, tập trung ở các tỉnh phía Bắc và với khoảng 6 triệu lao động, trên 1 triệu hộ nông dân (Nguyễn Văn Toàn, 2014).
Mặt khác, từ các khái niệm về phát triển, sản xuất, phát triển sản xuất, phát triển bền vững, kết hợp với đặc điểm của phát triển sản xuất chè nguyên liệu. Theo tác giả, “Phát triển sản xuất chè nguyên liệu bền vững là quá trình phát triển sản xuất chè nguyên liệu cần sự kết hợp hài hòa, hợp lý, gắn kết chặt chẽ giữa phát triển kinh tế hộ, kinh tế địa phương với thực hiện tốt các vấn đề xã hội giải quyết việc làm xóa đói giảm nghèo, tạo việc làm ổn định cho lao động và bảo vệ cải thiện môi trường”.