Chương 1: Vài nét về tiểu thuyết Việt Nam đương đại và sáng tác của Nguyễn Danh Lam Chương 2: Xây dựng nhân vật trong tiểu thuyết Nguyễn Danh Lam Chương 3: Nghệ thuật tiểu thuyết Nguyễn Danh Lam PHẦN NỘI DUNG CHƢƠNG 1: ĐÔI NÉT VỀ TIỂU THUYẾT VIỆT NAM ĐƢƠNG ĐẠI VÀ SÁNG TÁC CỦA NGUYỄN DANH LAM 1. Đôi nét về tiểu thuyết Việt Nam đƣơng đại 1. Những tiền đề đổi mới của văn học Việt Nam đương đại Thứ nhất: Các tiền đề lịch sử, xã hội và ý thức. Xét về mặt cấu trúc xã hội, chúng ta chưa trải qua thời hiện đại.
Tuy nhiên, xã hội Việt Nam từ xa xưa đã tiềm tàng “tâm thức hậu hiện đại”. Trước hết, ở Việt Nam, tinh thần hoài nghi cái chính thống, thái độ hoài nghi đối với chân lí… vẫn được xem là một biểu hiện thường tại trong tâm thức cộng đồng. Thái độ, tâm thức này có thể tìm thấy trong hàng loạt câu nói dân gian, kiểu như: “Miệng quan, trôn trẻ”, “Muốn nói gian làm quan mà nói”, “Tuần hà là cha kẻ cướp”. Ở thời trung đại, trong thơ Hồ Xuân Hương, người ta bắt gặp cái nhìn giải thiêng, thái độ bỡn cợt cái chính thống và sự xuất hiện khá dày mảng từ vựng thể hiện thân thể phụ nữ, hoạt động tính giao.
Gần đây hơn còn phải kể tới hiện tượng thơ Bút Tre (Đặng Văn Đăng) với chất trào lộng đậm đặc, sự giải thiêng, thủ pháp cắt mảnh, giễu nhại… rất gần gũi với cảm thức và tư duy hậu hiện đại như cách hiểu của phương Tây về cụm từ này. Xã hội Việt Nam từ 1945 – 1985 là xã hội luôn đứng cao hơn cái cá nhân và chủ nghĩa tập thể được xem là nguyên tắc cao nhất cho mọi hình vi của con người. Theo độ lùi thời gian, người ta hiểu ra, cái gọi là sức mạnh tính tập thể, tính cộng đồng và các kế hoạch đầy ảo tưởng, duy ý chí liên quan đến nó, trên thực tế đã phá hủy rất nhiều các mối quan hệ tốt đẹp của con người với con người trong gia đình, ngoài xã hội. Cái cá nhân, cái cụ thể bị đè nén, tạo thành những ẩn ức và sự sợ hãi.
Điều này cũng được thể nghiệm sinh động trong nhiều tác phẩm văn học sau đấy, chẳng hạn như Thời xa vắng của Lê Lựu, Mảnh đất lắm người nhiều ma của Nguyễn Khắc Trường, Ngõ lỗ thủng của Trung Trung Đỉnh, Bước qua lời nguyền, Giã biệt bóng tối của Tạ Duy Anh Những năm gần đây, người ta ngày một trở nên quen với những lời hứa suông, trước hiện cảnh nói một đằng, làm một nẻo, và thậm chí, chỉ nói, và không bao giờ làm cả. Từ mất niềm tin đến “không có niềm tin để mất”, một kiểu tâm thức rõ rệt đã hình thành. Tâm thức này sẽ bén lửa rất nhanh với tâm thức hậu hiện đại, trong bối cảnh giao lưu văn hóa quốc tế và toàn cầu hóa. Thứ hai: Giao lưu văn hóa quốc tế và toàn cầu hóa.
Sau chặng đường hiện đại hóa diễn ra đầu thế kỷ XX như một thành công to lớn của văn hóa Việt, một thế kỷ đã trôi qua. Có thể nói đến một công cuộc hiện đại hóa lần thứ hai đang diễn ra của văn học Việt Nam đương đại vào những cuối thế kỷ XX. Văn học đổi mới đã tạo một bước chuyển quan trọng đưa văn học dân tộc thực sự hòa nhập vào quá trình văn học thế giới. Không thể không thấy rằng nền văn học Việt Nam, trong những hoàn cảnh đặc thù, đã biệt lập và đánh mất sợi dây liên hệ với kinh nghiệm phong phú của văn học thế giới.
Trên tinh thần cởi mở “mong muốn làm bạn với các dân tộc” và sự tôn trọng mọi nền văn hóa như một sự trưởng thành của ý thức văn hóa Việt, nhiều lý thuyết và kinh nghiệm văn chương thế giới đang được tiếp nhận, được vận dụng như một nhu cầu tự nhiên và tự thân của sự phát triển văn học dân tộc. Siêu thực, hiện sinh, hiện đại và hậu hiện đại, phân tâm học, tiểu thuyết mới… vốn từng bị coi là những trào lưu gắn liền với trạng thái phân rã của chế độ tư bản và xã hội hiện đại phương Tây đang được nhìn nhận đúng đắn hơn: Đó là những trải nghiệm sinh tồn và thể nghiệm nghệ thuật của chính con người, và đằng sau những trào lưu và lý thuyết có tầm ảnh hưởng rộng lớn như thế luôn có bóng dáng những giá trị nhân văn. Nhưng tiếp nhận và học hỏi không thể là sự bắt chước học đòi và không ít những biểu hiện như thế trong đời sống văn học. Nó cần được tiếp biến để trở thành một hiện tượng nội sinh.
Và phải chăng chính văn học Việt Nam đương đại cũng đang chạm đến nó như những khám phá của riêng mình: Người ta đã có thể dùng những khái niệm “hiện sinh”, “hậu hiện đại”, “phân tâm học” và “ tâm linh” trong ngôn ngữ phê bình tác phẩm Nguyễn Huy Thiệp, Bảo Ninh, Phạm Thị Hoài, Hồ Anh Thái… cùng rất nhiều tác giả và tác phẩm khác. Một điều kiện căn cốt để giao lưu, hội nhập chính là khát vọng hội nhập và tinh thần cầu thị đối với cái mới của các nhà văn, trong đó có thái độ ứng xử nghiêm túc với các kinh nghiệm nghệ thuật của văn chương hậu hiện đại thế giới. Ở đây phải nói đến sự chuyển đổi mạnh mẽ trong quan niệm văn học của các nhà văn như Nguyễn Huy Thiệp, Phạm Thị Hoài, Bảo Ninh, Nguyễn Bình Phương, Nguyễn Việt Hà, Hồ Anh Thái, Tạ Duy Anh…, sự ủng hộ công nhiên những thử nghiệm hậu hiện đại và việc vận dụng thực hành sáng tác hậu hiện đại của Inrasara, Lê Anh Hoài, Đặng Thân… Trong bài: “Đối thoại về con đường đi vào văn chương hậu hiện đại ở Việt Nam”, nhà thơ Inrasara viết: “Sáng tạo hậu hiện đại Việt Nam (nhất là thơ ca) bị phân biệt đối xử bởi nhà văn nhà thơ thuộc hệ mĩ học cũ (…) Nhưng dù gì thì gì, văn thơ hậu hiện đại đã tồn tại như nó vẫn tồn tại từ hơn mươi năm nay. Vẫn ở ngoại biên như chính định mệnh của nó… Chúng vẫn có cuộc sống của mình (…) Theo tôi, mươi năm qua, chính sự vận động của chủ nghĩa hậu hiện đại đã tạo nên sự sinh động và phong phú của văn chương tiếng Việt đương đại.
“Sinh động và phong phú” kia không dừng lại ở một, hai trung tâm mà đang mở rộng ra các vùng miền, các thành phần, các thế hệ. Tôi tin rằng trong một tương lai không xa, văn học Việt sẽ là một nền văn học đa trung tâm” [25]. Thứ ba: Các tiền đề văn học. Văn học hiện đại Việt Nam giai đoạn 1945 – 1975, do những đặc thù của điều kiện lịch sử nên chủ yếu được sáng tác theo cảm hứng sử thi.
Bên cạnh những thành tựu, văn học giai đoạn này khó tránh khỏi sự minh họa, giản đơn, một chiều. Trong bài Hãy đọc lời ai điếu cho một giai đoạn văn nghệ minh họa, Nguyễn Minh Châu đã thẳng thắn nhìn nhận lại: “… Mấy chục năm qua, tự do sáng tác chỉ có đối với lối viết minh họa, với những cây bút chỉ quen với công việc cài hoa kết lá, vờn mây cho những khuôn khổ đã có sẵn, cho chữ nghĩa những văn bản vốn đã có sẵn mà chúng ta qui cho đấy là tất cả hiện thực đời sống đa dạng và rộng lớn” [7]. Nguyễn Khải, Nguyên Ngọc và nhiều nhà văn lớp trước cũng mạnh dạn chỉ ra những hạn chế khó tránh khỏi của một giai đoạn văn học và nhu cầu cần phải vượt qua “ cái thời lãng mạn” ấy. Rõ ràng, ý thức sâu sắc của các nhà văn về những hạn chế, bất cập của lối viết cũ, về nhu cầu cấp thiết phải đổi mới và những đổi thay trong thị hiếu của công chúng tiếp nhận thực sự là những tiền đề, động lực của tiến trình đổi mới văn học.
Tiểu thuyết Việt Nam đương đại – một cái nhìn khái quát Tiểu thuyết từ sau 1975 đến nay không cắt lìa truyền thống đã có những ý thức làm mới, làm giàu, làm khác truyền thống đã và đang trở thành khát vọng / nhu cầu mạnh mẽ của hầu hết người viết. Tuy có nhiều lời phàn nàn, nhiều cái nhìn hoài nghi nhưng không thể phủ nhận được rằng những nỗ lực đổi mới tiểu thuyết hơn ba thập kỷ qua đã tạo ra không ít tác phẩm có giá trị, bên cạnh sự đông đúc của đội ngũ tác giả, sự dồi dào về số lượng tác phẩm là sự đa dạng về bút pháp, sự phong phú về đề tài và chủ đề… Áp lực cạnh tranh từ các phương tiện giải trí – truyền thông, lối sống và nhịp độ sống của thời đại kỹ trị… vừa là yếu tố kích thích vừa là một nguy cơ làm hao mòn tình yêu văn chương. Người viết bây giờ buộc phải đối diện với đòi hỏi nghiệt ngã: “Mỗi nhà tiểu thuyết, mỗi cuốn tiểu thuyết phải sáng tạo ra một hình thức riêng. Không tôn trọng những hình thức bất biến, mỗi cuốn sách mới cần xây dựng cho mình những quy luật vận động đồng thời sản sinh ra sự diệt vong của chúng” [38] 1.
Tiểu thuyết Việt Nam đương đại đang có sự mở rộng về đề tài và chủ đề Bắt đầu từ Đại hội Đảng XI, hoàn cảnh đất nước lúc này đã có nhiều thay đổi lớn lao trên mọi mặt văn hóa, chính trị….điều đó đã tạo nên sự thay đổi lớn trong văn học, nhất là với văn xuôi – thể loại gắn với từng khoảnh khắc của đời sống. Một khi tự do, dân chủ trong sáng tạo văn hóa, văn học đã trở thành vấn đề trung tâm được Đảng ta đặc biệt chú trọng thì sự đổi mới văn học thực sự diễn ra ở bề sâu với một quan niệm đa dạng, nhiều chiều về cuộc sống. Cùng với không khí xã hội mở ra từ sau công cuộc đổi mới của Đảng, sự thay đổi khi cuộc sống chuyển từ thời chiến sang thời bình cũng là nhân tố quan trọng tạo ra những chuyển biến có tính chất bước ngoặt của văn học nói chung, văn xuôi nói riêng. Sau hơn 30 năm phát triển trong hoàn cảnh ác liệt của chiến tranh, mang cảm hứng chung là động viên, ca ngợi cuộc kháng chiến thần thánh của dân tộc, bắt đầu từ giữa thập niên 80, văn học dần trở về trạng thái phát triển bình thường của nó với sự chuyển biến từ tư duy sử thi sang tư duy tiểu thuyết, từ cảm hứng lịch sử sang cảm hứng thế sự đời tư.
Lúc này, “văn học cần có một cái nhìn thật hơn, sâu hơn, toàn diện hơn đối với đời sống…”.