phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn được cơ cấu thành 3 chương như sau: 7 e Chƣơng 1: Cơ sở lý luận và pháp lý về tổ chức thực hiện cưỡng chế thi hành án dân sự. Chƣơng 2: Thực trạng tổ chức thực hiện cưỡng chế thi hành án dân sự trên địa bàn tỉnh Ninh Bình. Chƣơng 3: Phương hướng và giải pháp bảo đảm tổ chức thực hiện cưỡng chế thi hành án dân sự - Từ thực tiễn tỉnh Ninh Bình. 8 e Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LÝ VỀ TỔ CHỨC THỰC HIỆN CƢỠNG CHẾ THI HÀNH ÁN DÂN SỰ 1.
Khái niệm, đặc điểm, vai trò của tổ chức thực hiện cƣỡng chế thi hành án dân sự 1. Khái niệm cưỡng chế thi hành án dân sự Ở Việt Nam hiện nay, thuật ngữ “thi hành án dân sự” (THADS) được hiểu là tổng hợp các hoạt động nghiệp vụ của cơ quan thi hành án nhằm mục đích bảo đảm việc thi hành trên thực tiễn các bản án, quyết định của Toà án về phần nghĩa vụ dân sự của các bên và các quyết định khác theo một trình tự, thủ tục chặt chẽ được pháp luật quy định. Trong hoạt động thi hành án, các bên đương sự có quyền tự thỏa thuận với nhau nhằm thực hiện các quyền, nghĩa vụ dân sự theo bản án, quyết định của Tòa án. Tự nguyện thi hành án đã trở thành như một nguyên tắc, một biện pháp phổ biến trong thi hành án dân sự.
Trường hợp sau khi đương sự đã được chấp hành viên giải thích nghĩa vụ của mình, có đủ điều kiện để thi hành án nhưng lại tìm mọi cách để trì hoãn, trốn tránh không thi hành trách nhiệm của mình thì buộc cơ quan thi hành án phải tổ chức cưỡng chế thi hành. Cũng như cưỡng chế nói chung, cưỡng chế thi hành án dân sự cũng xuất phát từ yêu cầu, nguyên tắc chung là sử dụng quyền lực Nhà nước để buộc cá nhân, tổ chức phải thực hiện nghĩa vụ, trách nhiệm theo bản án, quyết định đã có hiệu lực của cơ quan, tổ chức có thẩm quyền nhằm đảm bảo tính phòng ngừa, răn đe, ngăn chặn các hành vi vi phạm pháp luật tiếp tục diễn ra hoặc buộc chủ thể có hành vi vi phạm pháp luật phải bồi thường thiệt hại, khắc phục hậu quả đã gây ra và các biện pháp khác do pháp luật quy định. 9 e Về nguyên tắc, cưỡng chế thi hành án dân sự chỉ đặt ra khi đương sự không tự nguyện tuân thủ thực hiện các nghĩa vụ của mình theo bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án. Do đó, mục đích của cưỡng chế thi hành án dân sự là nhằm buộc người phải thi hành án thi hành đúng nghĩa vụ theo bản án, quyết định của Tòa án nếu họ có điều kiện thi hành mà không tự nguyện thực hiện nghĩa vụ.
Vì vậy, để đảm bảo hiệu quả của việc cưỡng chế thi hành án dân sự thì pháp luật cần quy định cụ thể về cơ quan có thẩm quyền cưỡng chế; các biện pháp cưỡng chế được áp dụng; trình tự, thủ tục cưỡng chế… Qua những phân tích trên, có thể đưa ra khái niệm cưỡng chế thi hành án dân sự như sau: Cưỡng chế thi hành án dân sự là biện pháp cưỡng bức bắt buộc của cơ quan thi hành án do Chấp hành viên thực hiện theo thẩm quyền, nhằm buộc người phải thi hành án thực hiện những hành vi hoặc nghĩa vụ về tài sản theo bản án, quyết định của Tòa án, được áp dụng trong trường hợp người phải thi hành án có điều kiện thi hành án, đã được thông báo hợp lệ, đã hết thời gian tự nguyện thi hành án mà không tự nguyện thi hành hoặc trong trường hợp cần ngăn chặn người phải thi hành án tẩu tán, hủy hoại tài sản. Khái niệm của cưỡng chế thi hành án dân sự thể hiện mục đích của hoạt động cưỡng chế thi hành án dân sự là đảm bảo thi hành quyền và nghĩa vụ của các bên đương sự và người có quyền, lợi ích liên quan theo nội dung bản án, quyết định đã có hiệu lực thi hành của Tòa án. Do đó, có thể nhận diện bản chất của cưỡng chế thi hành án dân sự là hoạt động của chủ thể có thẩm quyền sử dụng quyền lực nhà nước làm chấm dứt, hạn chế quyền sở hữu, quyền chiếm hữu, quyền sử dụng tài sản của người phải thi hành án hoặc buộc người phải thi hành án thực hiện hành vi hợp pháp hay chấm dứt hành vi vi phạm pháp luật trên cơ sở bản án, quyết định của Tòa án có hiệu lực pháp luật bằng các biện pháp cưỡng chế thi hành án (ví dụ: Khấu trừ tiền trong tài 10 e khoản, thu hồi, xử lý tiền, giấy tờ có giá của người phải thi hành án; Trừ vào thu nhập của người phải thi hành án; Kê biên, xử lý tiền tài sản của người phải thi hành án, kể cả tài sản đang do người thứ ba giữ; Khai thác tài sản của người phải thi hành án; Buộc người phải thi hành án thực hiện hoặc không được thực hiện công việc nhất định; Buộc chuyển giao vật, chuyển giao quyền tài sản, giấy tờ). Khái niệm tổ chức thực hiện cưỡng chế thi hành án dân sự Hoạt động tổ chức thực hiện cưỡng chế thi hành án dân sự được luận văn nghiên cứu dưới góc độ các hoạt động của cơ quan nhà nước, người có thẩm quyền trong việc triển khai thực hiện các quy định pháp luật về cưỡng chế thi hành án dân sự trong thực tế đời sống xã hội.
Vì vậy, để làm rõ khái niệm “tổ chức thực hiện cưỡng chế thi hành án dân sự” trước tiên cần luận giải thuật ngữ “tổ chức thực hiện pháp luật”. Trong khoa học pháp lý, pháp luật được nghiên cứu dưới hai phương diện. Phương diện thứ nhất là pháp luật trong trạng thái “tĩnh” hay pháp luật được thể hiện dưới dạng văn bản. Theo Hiến pháp 2013, pháp luật theo phương diện này bao gồm các quy định trong các văn bản quy phạm pháp luật (VBQPPL): Hiến pháp, luật, nghị quyết của Quốc hội; pháp lệnh, nghị quyết của Ủy ban thường vụ Quốc hội; lệnh, quyết định của Chủ tịch nước; các VBQPPL của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ; Bộ trưởng, thủ trưởng cơ quan ngang bộ và chính quyền địa phương các cấp.
Đây là pháp luật được hình thành chủ yếu do hoạt động lập pháp của Quốc hội và hoạt động lập quy của hệ thống các cơ quan hành pháp. Phương diện thứ hai là pháp luật trong trạng thái “động” hay gọi là pháp luật trong hành động, pháp luật trong cuộc sống. Pháp luật theo phương diện này là sự tuân theo pháp luật của các chủ thể trong đời sống Nhà nước và đời sống xã hội, được hình thành bằng hoạt động tổ chức thực hiện pháp luật của 11 e các cơ quan, tổ chức và cá nhân có thẩm quyền. Giống như phương diện thứ nhất, phương diện này cũng được quy định trong Hiến pháp.
Theo đó, tổ chức thực hiện pháp luật là hoạt động không thể thiếu để pháp luật từ trạng thái “tĩnh” trở thành trạng thái “động”, làm cho pháp luật không còn nằm trên các trang công báo mà đi vào cuộc sống. Như vậy, hoạt động lập pháp, lập quy để hình thành một hệ thống VBQPPL và hoạt động tổ chức thực hiện pháp luật là hai mặt không tách rời của pháp luật. Nếu như không tiến hành tổ chức thi hành pháp luật thì pháp luật chỉ tồn tại trên giấy. Ngược lại, không có những quy định của pháp luật trong các trang công báo thì cũng không có việc tổ chức thực hiện những quy định pháp luật này.
Trong nhà nước pháp quyền, thượng tôn pháp luật không thể không coi trọng một cách đồng bộ cả hai phương diện này của pháp luật. Nhất là trong điều kiện của nước ta, khi mà ý thức pháp luật và văn hóa pháp lý của nhiều người dân còn thấp thì việc tổ chức thi hành pháp luật càng giữ vai trò đặc biệt quan trọng. Vì vậy, tổ chức thực hiện cưỡng chế THADS là làm cho những quy định của pháp luật chuyển từ trạng thái “tĩnh” sang trạng thái “động”, là hoạt động để hiện thực hóa kết quả của hoạt động lập pháp, lập quy trong thực tiễn. Hay nói cách khác, tổ chức thực hiện cưỡng chế THADS chính là việc đưa những quy định pháp luật về cưỡng chế thi hành án dân sự vào vận hành trong thực tiễn đời sống xã hội, là quá trình tiến đến mục tiêu của nhà làm luật nhằm sử dụng công cụ pháp luật để quản lý, thúc đẩy sự phát triển xã hội theo xu thế tiến bộ trong mọi lĩnh vực của đời sống, phát huy hiệu quả của pháp luật.
Công tác tổ chức thực hiện cưỡng chế thi hành án dân sự trên thực tế là quá trình người có thẩm quyền nhân danh quyền lực nhà nước ra quyết định cưỡng chế thi hành án dân sự và tổ chức thực hiện quyết định cưỡng chế trong thực tế bằng việc áp dụng các biện pháp cưỡng chế theo quy định của pháp luật, qua đó làm phát sinh, thay đổi hoặc chấm dứt những quan hệ pháp luật 12 e trong thi hành án dân sự. Tuy nhiên, mức độ hiệu quả của việc tổ chức thực hiện cưỡng chế còn phụ thuộc vào chất lượng của hoạt động lập pháp, ban hành luật và giám sát thực hiện luật của Quốc hội. Ngoài ra, còn bị ảnh hưởng bởi các chủ thể khác như tổ chức kinh tế, xã hội, công dân khi các chủ thể này tổ chức thực hiện phản biện và giám sát xã hội, thực hiện quyền kiến nghị, phát hiện, tố cáo, khiếu nại. Một số các yếu tố khác như trình độ dân trí, ý thức tuân thủ, chấp hành pháp luật của công dân và công tác phối hợp của các cơ quan, sở, ban ngành có liên quan cũng có ảnh hưởng và tác động mạnh mẽ đến quá trình tổ chức thực hiện cưỡng chế thi hành án dân sự trong thực tế.
Từ những phân tích trên có thể khẳng định: Tổ chức thực hiện cưỡng chế thi hành án dân sự là hoạt động của cơ quan Nhà nước và người có thẩm quyền nhằm hiện thực hóa các quy định của pháp luật về cưỡng chế thi hành án dân sự, làm cho những quy định này vận hành trong đời sống thực tiễn xã hội theo trình tự, thủ tục do pháp luật quy định, nhằm đảm bảo thi hành nghiêm chỉnh bản án, quyết định đã có hiệu lực của Tòa án.