CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU KINH TẾ 1. KHÁI QUÁT VỀ CƠ CẤU KINH TẾ VÀ CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU KINH TẾ 1. Cơ cấu kinh tế a. Khái niệm Trong các tài liệu kinh tế có nhiều cách tiếp cận khác nhau về khái niệm cơ cấu kinh tế.
Các cách tiếp cận này thường bắt ñầu từ khái niệm cơ cấu. Cơ cấu là khái niệm triết học nhằm ñể chỉ cách thức tổ chức bên trong của một hệ thống, biểu hiện sự thống nhất của các mối quan hệ qua lại vững chắc giữa các bộ phận của nó. Nếu coi nền kinh tế quốc dân như một hệ thống với nhiều bộ phận cấu thành và các kiểu cơ cấu hợp thành chúng. Theo thời gian khi nền kinh tế vận ñộng và phát triển thì các bộ phận và các kiểu cơ cấu ñó cũng thay ñổi.
Nhìn chung, cơ cấu kinh tế ñược hiểu là tổng thể các bộ phận hợp thành nền kinh tế cùng các mối quan hệ chủ yếu về ñịnh tính và ñịnh lượng, ổn ñịnh và phát triển giữa các bộ phận ấy với nhau hay của toàn bộ hệ thống trong những ñiều kiện của nền sản xuất xã hội và trong những khoảng thời gian nhất ñịnh [20, tr. Phân loại cơ cấu kinh tế Cơ cấu kinh tế còn là một phạm trù trừu tượng, muốn nắm vững bản chất của cơ cấu kinh tế và thực thi các giải pháp nhằm chuyển dịch cơ cấu kinh tế một cách có hiệu quả cần xem xét từng loại cơ cấu cụ thể của nền kinh tế quốc dân. Mỗi một loại cơ cấu phản ánh những nét ñặc trưng của các bộ phận và các cách mà chúng quan hệ với nhau trong quá trình phát triển nền kinh tế quốc dân. Nền kinh tế quốc dân dưới giác ñộ cấu trúc là sự ñan xen của nhiều loại cơ cấu khác nhau, có mối quan hệ chi phối lẫn nhau trong quá 11 trình phát triển kinh tế.
Những loại cơ cấu kinh tế cơ bản quyết ñịnh sự tồn tại và phát triển của nền kinh tế quốc dân bao gồm: - Cơ cấu ngành kinh tế - Cơ cấu vùng, lãnh thổ kinh tế - Cơ cấu thành phần kinh tế Cơ cấu ngành kinh tế Là tổng hợp các ngành hợp thành cùng các tương quan tỷ lệ, biểu hiện mối liên hệ và tác ñộng qua lại cả về số lượng và chất lượng giữa các nhóm ngành của nền kinh tế quốc dân. Cơ cấu ngành phản ánh phần nào trình ñộ phân công lao ñộng xã hội chung của nền kinh tế và trình ñộ phát triển của lực lượng sản xuất. Khi phân tích cơ cấu ngành của một quốc gia người ta thường phân tích theo 3 nhóm ngành chính: • Nhóm ngành nông nghiệp: Gồm các ngành nông lâm, ngư nghiệp. • Nhóm ngành công nghiệp: Gồm các ngành công nghiệp và xây dựng.
• Nhóm ngành dịch vụ: Gồm thương mại, du lịch… Cơ cấu ngành kinh tế chính là dạng quan trọng nhất, phản ánh rõ nhất trình ñộ phát triển của một nền kinh tế. Việc nghiên cứu loại cơ cấu này nhằm tìm ra cách thức duy trì tính tỷ lệ hợp lý của chúng và những lĩnh vực cần ưu tiên tập trung cao nguồn lực có hạn của mỗi quốc gia trong mỗi thời kỳ nhằm thúc ñẩy sự phát triển của toàn bộ nền kinh tế quốc dân một cách nhanh nhất, có hiệu quả nhất. Cơ cấu vùng, lãnh thổ kinh tế Nếu cơ cấu ngành kinh tế hình thành từ quá trình phân công lao ñộng xã hội và chuyên môn hoá sản xuất thì cơ cấu vùng - lãnh thổ lại ñược hình thành chủ yếu từ việc bố trí sản xuất theo không gian ñịa lý. Cơ cấu vùng - lãnh thổ kinh tế và cơ cấu ngành kinh tế thực chất là hai mặt của một hệ thống nhất và ñều là biểu hiện của sự phân công lao ñộng xã hội.
Cơ cấu vùng lãnh 12 thổ hình thành gắn liền với cơ cấu ngành và thống nhất trong vùng kinh tế. Trong cơ cấu vùng - lãnh thổ kinh tế có sự biểu hiện của cơ cấu ngành trong ñiều kiện cụ thể của không gian lãnh thổ. Loại cơ cấu này phản ánh những mối liên hệ kinh tế giữa các vùng lãnh thổ của một ñất nước trong hoạt ñộng kinh tế. Thông thường cơ cấu này bao gồm cơ cấu khu vực kinh tế thành thị và nông thôn, khu vực kinh tế trọng ñiểm và phi trọng ñiểm, khu vực kinh tế ñồng bằng và miền núi… Cơ cấu thành phần kinh tế Nếu như phân công lao ñộng sản xuất ñã là cơ sở hình thành cơ cấu ngành và cơ cấu lãnh thổ - vùng, thì chế ñộ sở hữu là cơ sở hình thành cơ cấu thành phần kinh tế.
Cơ cấu thành phần kinh tế cũng là nhân tố tác ñộng ñến cơ cấu ngành kinh tế và cơ cấu vùng - lãnh thổ. Sự tác ñộng ñó là biểu hiện sinh ñộng của mối quan hệ giữa các loại cơ cấu trong nền kinh tế. Loại cơ cấu này phản ánh các mối quan hệ giữa con người trong quá trình sản xuất trong ñó nổi bật lên hàng ñầu là quan hệ sở hữu ñối với các tư liệu sản xuất. Mô hình chung về số lượng thành phần kinh tế trong nền kinh tế các nước bao gồm: kinh tế nhà nước, kinh tế tập thể, kinh tế tư nhân, kinh tế hỗn hợp.
Tỷ lệ giữa các thành phần kinh tế này thường không giống nhau. ðiều này tạo ra tính ñặc thù trong chiến lược phát triển kinh tế của mỗi quốc gia cũng như trong mỗi giai ñoạn phát triển của từng quốc gia. Trên ñây là ba bộ phận cơ bản hợp thành cơ cấu kinh tế trong ñó cơ cấu ngành kinh tế có vai trò quan trọng hơn cả cơ cấu ngành và thành phần kinh tế chỉ có thể ñược chuyển dịch ñúng ñắn trên phạm vi không gian lãnh thổ và trên phạm vi cả nước. Mặt khác việc phân bố không gian vùng một cách hợp lý có ý nghĩa quan trọng thúc ñẩy phát triển các ngành và thành phần kinh tế trên vùng, lãnh thổ kinh tế.
Tính chất của cơ cấu kinh tế Tính khách quan Nền kinh tế có sự phân công lao ñộng có các ngành lĩnh vực bộ phận kinh tế và sự phát triển của lực lượng sản xuất nhất ñịnh sẽ hình thành một cơ cấu kinh tế với tỉ lệ cân ñối tương ứng với các bộ phận tỉ lệ ñó ñược thay ñổi thường xuyên và tự giác theo quá trình diễn biến khách quan của nhu cầu xã hội và khả năng ñáp ứng nhu cầu ñó. Cơ cấu kinh tế là biểu hiện tóm tắt cô ñọng nội dung chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của từng giai ñoạn phát triển nhất ñịnh. Nhưng không vì thế mà áp ñặt chủ quan tự ñặt cho các ngành những tỉ lệ và vị trí trái ngược với yêu cầu và xu thế phát triển của xã hội. Mọi sự áp ñặt chủ quan nóng vội nhằm tạo ra một cơ cấu kinh tế theo ý muốn thường dẫn ñến tai hoạ không nhỏ bởi sai lầm về cơ cấu kinh tế là sai lầm chiến lược khó khắc phục hậu quả lâu dài.
Tính lịch sử xã hội Sự biến ñổi của cơ cấu kinh tế luôn gắn liền với sự thay ñổi không ngừng của lực lượng sản xuất nhu cầu tiêu dùng và ñặc ñiểm chính trị xã hội của từng thời kì. Cơ cấu kinh tế ñược hình thành khi quan hệ ngành lĩnh vực bộ phận kinh tế ñược xác lập một cách cân ñối và sự phân công lao ñộng diễn ra một cách hợp lý. Sự vận ñộng và phát triển của lực lượng sản xuất là xu hướng phổ biến của mọi quốc gia. Song mối quan hệ giữa con người với con người, con người với tự nhiên trong quá trình tái sản xuất mở rộng ở mỗi giai ñoạn lịch sử mỗi quốc gia lại có sự khác nhau.
Sự khác nhau ñó bị chi phối bởi quan hệ sản xuất bởi các ñặc trưng văn hoá xã hội bởi các yếu tố lịch sử của mỗi dân tộc. Các nước có hình thái kinh tế - xã hội giống nhau song có sự khác nhau trong hình thành cơ cấu kinh tế vì ñiều kiện kinh tế xã hội và quan ñiểm chiến lược mỗi nước khác nhau. Cơ cấu kinh tế hợp lý Cơ cấu kinh tế hợp lý không chỉ biểu hiện ở mặc số lượng mà quan trọng hơn là quan hệ giữa các bộ phận cấu thành nền kinh tế. Tính hợp lý của một cơ cấu kinh tế chính là ở các ñiểm sau ñây: - Phù hợp với các ñiều kiện cấu thành và những nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội của ñất nước nhằm bảo ñảm sự phát triển tốt nhất của vùng và ngành.
- Bảo ñảm sự thống nhất của các yếu tố phát triển nói chung và của sức sản xuất nói riêng giữa các lãnh thổ, các ngành, ñồng thời có sự thích ứng cao với những thay ñổi bên ngoài. - ðạt ñược hiệu quả kinh tế xã hội cao nhất, hài hòa giữa sự tăng trưởng kinh tế và công bằng xã hội, phú lợi xã hội. Khái niệm chuyển dịch cơ cấu kinh tế Cơ cấu kinh tế luôn thay ñổi theo thời kỳ phát triển bởi các yếu tố hợp thành cơ cấu kinh tế không cố ñịnh. ðó là sự thay ñổi về số lượng các ngành hoặc sự thay ñổi về quan hệ tỷ lệ giữa các ngành, các vùng, các thành phần do sự xuất hiện hoặc biến mất của một số ngành và tốc ñộ tăng trưởng giữa các yếu tố cấu thành cơ cấu kinh tế không ñồng ñều.
Sự thay ñổi của cơ cấu kinh tế từ trạng thái này sang trạng thái khác cho phù hợp với môi trường phát triển gọi là sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế. ðây không ñơn thuần là sự thay ñổi vị trí, mà là sự biên ñổi cả về chất và lượng trong nội bộ cơ cấu. Việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế phải dựa trên nền tảng cơ sở một cơ cấu hiện có do ñó nội dung của chuyển dịch cơ cấu kinh tế là cải tạo cơ cấu cũ, lạc hậu hoặc chưa phù hợp ñể xây dựng cơ cấu mới tiên tiến, hoàn thiện và bổ sung cơ cấu cũ nhằm biến cơ cấu cũ thành cơ cấu mới hiện ñại và phù hợp hơn. Như vậy, chuyến dịch cơ cấu là sự thay ñổi của cơ cấu kinh tế theo thời gian từ trạng thái và trình ñộ này tới một trạng thái và trình ñộ khác phù hợp 15 với sự phát triển kinh tế xã hội và các ñiều kiện vốn có nhưng không lặp lại trạng thái cũ.
Chính vì vậy, cơ cấu kinh tế phản ảnh sự thay ñổi về chất và là cơ sở ñể so sánh các giai ñoạn phát triển.