Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHÍNH SÁCH NÔNG NGHIỆP 1.1 Lý luận chung về chính sách công 1.1 Các khái niệm về chính sách và chính sách công + Chính sách: Qua nghiên cứu tài liệu cho thấy thực tế đang tồn tại nhiều quan niệm, ý kiến khác nhau về chính sách, chẳng hạn như: Chính sách là cái mà Chính phủ lựa chọn làm hay không làm (Thomas R. Dye 1984); Chính sách được hiểu là các tư tưởng, định hướng, những mong muốn cần hướng tới, cần đạt được (Còn chiến lược hay kế hoạch, thậm chí pháp luật chẳng qua chỉ là hình thức, là phương tiện để chuyển tải, thể hiện chính sách). Chính sách là sự thể hiện cụ thể của đường lối chính trị chung. Dựa vào đường lối, cương lĩnh mà người ta định ra chính sách, là cơ sở để chế định ra pháp luật hay nói cách khác pháp luật là kết quả của sự thể chế hóa chính sách.
Chính sách có thể chưa được luật pháp hóa, cũng có thể chưa bao giờ luật pháp hóa căn cứ vào sự phù hợp với tư tưởng mới, sự thay đổi thực tiễn. Chính sách là linh hồn, nội dung của pháp luật, còn pháp luật là hình thức, phương tiện thể hiện của chính sách. Chính sách luôn gắn liền với quyền lực chính trị, với đảng cầm quyền, với bộ máy quyền lực công của Nhà nước. + Chính sách công: * Theo nghĩa rộng: là chính sách của nhà nước, cụ thể hoác các chủ trương, đường lối của đảng cầm quyền thành các quyết định, mục tiêu, giải pháp, công cụ nhằm giải quyết các vấn đề thuộc chức năng, nhiệm vụ của nhà nước, duy trì sự tồn tại và phát triển của nhà nước và xã hội hướng tới mục tiêu phục vụ người dân là chính.
* Nghĩa hẹp: là công cụ hữu hiệu để nhà nước quản lý, định hướng và thúc đẩy sự phát triển kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội của mỗi quốc giatrong những giai đoạn nhất định. 8 Chính sách công là tập hợp các quyết định liên quan với nhau do nhà nước ban hành, bao gồm các mục tiêu và giải pháp để giải quyết một vấn đề công nhằm đạt các mục tiêu phát triển. Chính sách công không đơn giản là sự ghép từ. Nói đến chính sách công liên quan 3 vấn đề chính cơ bản: Chủ thể, mục tiêu, vấn đề chính sách hướng tới giải quyết.
Như vậy, chính sách công có nhiều khái niệm nhưng vẫn chưa được thống nhất với nhau. Theo tôi, chính sách công có thể được hiểu là tất cả các chủ trương, dự án, kế hoạch, chương trình. của chủ thể được trao quyền lực công nhằm xử lý những vấn đề mang tính xã hội, cộng đồng trên mọi lĩnh vực trong cuộc sống nhằm đạt mục tiêu của quốc gia. + Khái niệm Nông nghiệp, chính sách phát triển nông nghiệp: * Nông nghiệp: được hiểu theo cả nghĩa rộng và nghĩa hẹp.
Theo nghĩa rộng: là tổ hợp các ngành gắn liền với các quá trình sinh học bao gồm cả trồng trọt, chăn nuôi, lâm nghiệp (trồng và khai thác bảo vệ tài nguyên rừng), ngư nghiệp (đánh bắt và nuôi trồng thủy sản). Thực tiễn cho thấy, trong một thời gian dài của lịch sử nông nghiệp là một ngành kinh tế chủ yếu của hầu hết các quốc gia. Nông nghiệp là khu vực duy nhất sản xuất ra lương thực, thực phẩm nuôi sống con người. Nông nghiệp theo nghĩa rộng thường được sử dụng trong phân tích mối quan hệ với công nghiệp và dịch vụ.
Theo nghĩa hẹp: Nông nghiệp bao gồm trồng trọt và chăn nuôi. Trong trồng trọt lại bao gồm: trồng cây lượng thực, cây công nghiệp, cây ăn quả, cây dược liệu, cây thức ăn cho chăn nuôi, cây rau củ…Trong chăn nuôi bao gồm: chăn nuôi gia súc, gia cầm… Sản phẩm của nông nghiệp thỏa mãn nhu cầu dinh dưỡng hằng ngày của con người, là nguyên liệu cho công nghiệp và dược liệu cho chữa bệnh, sức kéo cho sản xuất và vận tải…Trong phạm vi luận văn này, tác giả nghiên cứu nông nghiệp theo nghĩa rộng. + Khái niệm chính sách phát triển nông nghiệp: Chính sách phát triển nông nghiệp là hệ thống các phương pháp, cách thức, biện pháp cụ thể của nhà nước áp dụng vào nông nghiệp nhằm xây dựng một nền 9 nông nghiệp lớn mạnh, bền vững theo hướng công nghiêp hoá, hiện đại hoá, nâng cao đời sống nông dân dựa trên những quan điểm, đường lối của Đảng và tình hình phát triển của nông nghiệp hiện tại. Như vậy, tùy theo định hướng mục tiêu lâu dài hay trước mắt mà nhà nước có những biện pháp thích hợp để tác động vào nông nghiệp coi đó như là công cụ để quản lý, điều tiết sự phát triển của nông nghiệp.2 Quy trình thực hiện chính sách công: 1.
Xây dựng kế hoạch và phân công: Việc xây dựng Kế hoạch của các cơ quan quản lý các cấp đều thực hiện theo yêu cầu này, gồm các nội dung chính để thực hiện như sau: + Kế hoạch về tổ chức và điều hành. + Kế hoạch cung cấp các nguồn vật lực. + Kế hoạch về thời gian để làm tốt công tác triển khai thực hiện + Kế hoạch thực hiện việc kiểm tra, đôn đốc việc thực thi chính sách. + Dự kiến những nội quy, quy chế; về các biện pháp khen thưởng, kỷ luật.
Chính sách ở cấp nào, lãnh đạo cấp đó thông qua và điều chỉnh. Tuyên truyền, truyền thông: + Tuyên truyền: là một khái niệm đã xưa rồi lại còn gợi lên cách làm của phát xít Đức. Vì đó là cách “dội bom” một chiều theo nghĩa từ trên xuống mà mang tính áp đặt nữa. Về phương pháp thì chỉ có một cách là đại trà và xả láng.
Người nhận thông tin phản ứng như thế nào không cần biết. Do đó không có hiệu quả vì không muốn nghe thì người ta bịt tai thôi. Đó là chưa nói đến phản ứng ngược lại là người ta dội. + Truyền thông: là một khái niệm khoa học quan tâm đến hiệu quả là làm sao cho người nghe thay đổi nhận thức, thái độ, nhất là hành vi.
Do đó truyền thông rất quan tâm đến phản hồi. “Truyền” rồi phải xem người ta có “thông” không chứ! Nếu chưa thông phải thay đổi cả nội dung lẫn hình thứccho phù hợp. Truyền thông mong sự hưởng ứng tự nguyện của đối tượng nên không áp đặt và cố gắng thích nghi thông điệp với từng nhóm đối tượng: thanh niên, trẻ em, phụ nữ, nông dân, công dân, tri thức. 10 Như thế, thay vì chỉ có một chiều thì truyền thông mang tính hai chiều, thậm chí đa chiều.Truyền thông có ba cấp: Cá nhân với cá nhân, Truyền thông nhóm, Truyền thông đại chúng.
Đây là một hoạt động quan trọng, có ý nghĩa lớn: + Với cơ quan nhà nước và cho các đối tượng chính sách, mọi người dân tham gia. + Cho mỗi cán bộ, công chức có trách nhiệm tổ chức thực thi. + Thiếu năng lực tuyên truyền, vận động đã làm cho chính sách bị biến dạng, làm cho lòng tin của dân chúng vào nhà nước bị giảm sút. Việc tuyên truyền, vận động phải làm một cách thường xuyên, liên tục.
Bằng nhiều hình thức như trực tiếp tiếp xúc, trao đổi với các đối tượng tiếp nhận; gián tiếp qua các phương tiện thông tin đại chúng. Tổ chức thực hiện: Tổ chức thực hiện theo kế hoạch được phê duyệt. Ban hành tổng thể ít nhất cũng tại một địa phương nào đó cho phù hợp, số lượng tham gia lớn, hoạt động đa dạng, đồng thời có sự thúc đẩy, có khả năng kìm hãm đan xen,… Cần có sự phối hợp thực hiện từ các cấp, ngành nói chung. Vấn đề thực tế thường giao cho một đơn vị đầu mối, đơn vị khác chủ yếu phối, kết hợp.
Việc phân công, phối kết hợp cần có sự chủ động, chặt chẽ để đảm bảo đúng hiệu lực, hiệu quả thực thi chính sách. Duy trì chính sách, muốn vậy phải có sự phối hợp, tổ chức thực thi của các đối tượng và chủ thể chính sách. Đồng thời việc điều chỉnh chính sách là việc làm thường xuyên và có hệ thống nhằm hoàn thiện một các hiệu quả phù hợp thực tiễn. Kiểm tra, giám sát: Do đặt thù các địa phương không như nhau, cũng như điều kiện mỗi vùng miền khác nhau, kể cả trình độ, năng lực có sự khác biệt cần có sự kiểm tra, giám sát.
Qua kiểm tra, giám sát mục đích chính nhằm chấn chỉnh, nhắc nhở, rút kinh nghiệm những vấn đề còn tồn tại chưa giải quyết nhằm đôn đốc, thực hiện tốt hơn 11 thời gian tới một cách hiệu quả, thiết thực hơn góp phần hoàn thiện thực thi chính sách. Đánh giá tổng kết, rút ra bài học kinh nghiệm: Trong quá trình thực thi chính sách có thể đánh giá được phần nào hoặc toàn bộ kết quả thực hiện. Đánh giá tổng kết được xem là vấn đề rất quan trọng, đó cũng là quá trình kết luận, chỉ đạo, điều hành, việc chấp hành chính sách của các đối tượng thực thi chính sách. Chính sách phát triển nông nghiệp huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang: Chính phủ và các cơ quan quản lý nhà nước đã ban hành nhiều chính sách liên quan đến lĩnh vực nghiên cứu mà mục tiêu, nội dung, biện pháp của các chính sách này đóng vai trò là cơ sở lý luận quan trọng đối với việc thực hiện chính sách phát triển nông nghiệp trên địa bàn huyện Chợ Mới trong thời gian qua và định hướng cơ bản cho đến năm 2030, một số cốt lỗi vấn đề chính sách cụ thể: + Cấp Trung ương: Trên cơ sở Quyết định của Thủ Tướng Chính phủ đã phê duyệt Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế xã hội tỉnh An Giang đến năm 2020, nội dung điển hình cụ thể như sau: Về quan điểm chung: Khai thác có hiệu quả tiềm năng, lợi thế của Tỉnh để đẩy nhanh tốc độ tăng trưởng kinh tế bền vững, xây dựng An Giang là một trong những đầu mối giao thương trong vùng và các nước ASEAN.
Phát triển kinh tế gắn với bảo vệ tài nguyên và môi trường, thích ứng với điều kiện biến đổi khí hậu và phát triển cơ sở hạ tầng đủ sức ứng phó với thiên tai và phát triển bền vững. Kết hợp tốt giữa công nghiệp hóa nông nghiệp - hiện đại hóa nông thôn với xây dựng mở rộng các khu đô thị, các vùng kinh tế trọng điểm, công nghiệp và dịch vụ phát triển năng động; đảm bảo thu nhập ổn định cho người nông dân. Tăng trưởng kinh tế đi đôi với phát triển văn hoá xã hội, bảo đảm cho mọi người dân có cơ hội tham gia và thụ hưởng thành quả của sự phát triển. Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, đặc biệt là đội ngũ cán bộ quản lý, cán bộ khoa học - kỹ thuật và đội ngũ doanh nhân.