Chương 1. Cơ sở lý luận và kinh nghiệm thực tiễn thực hiện chính sách phát triển nhân lực Y tế. Thực trạng thực hiện chính sách phát triển nhân lực từ thực tiễn Bệnh viện đa khoa huyện Ba Vì. Giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiện chính sách phát triển nhân lực từ thực tiễn Bệnh viện đa khoa huyện Ba Vì.
5 Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ KINH NGHIỆM THỰC TIỄN THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN NHÂN LỰC Y TẾ 1. Một số khái niệm cơ bản * Chính sách: Từ cấp độ quốc gia đến các tổ chức, cơ quan, đơn vị thì chính sách được xây dựng và tổ chức triển khai thực hiện ở những giai đoạn khác nhau nhưng mục tiêu chung vẫn là để giải quyết yêu cầu cũng như các hoạt động của từng tổ chức, cơ quan, đơn vị, các chính sách này chỉ được áp dụng và có hiệu lực trong phạm vị hoạt động của mỗi tổ chức, cơ quan, đơn vị. Hiện nay, khái niệm chính sách đã có rất nhiều học giả nghiên cứu, sử dụng nhưng vẫn chưa có sự thống nhất chung. Các nhà nghiên cứu về chính sách trên thế giới đưa ra một số khái niệm như: James Anderson “Chính sách là một quá trình hành động có mục đích theo đuổi bởi một hoặc nhiều chủ thể trong việc giải quyết các vấn đề mà họ quan tâm” hay Glen Milne “Chính sách là quyết tâm và định hướng.
Chính sách định hướng nhưng không bao gồm các chương trình và chi tiết hành động”. Trong Từ điển bách khoa của Việt Nam đã đưa ra khái niệm về chính sách như sau: “Chính sách là những chuẩn tắc cụ thể để thực hiện đường lối, nhiệm vụ. Chính sách được thực hiện trong một thời gian nhất định, trên những lĩnh vực cụ thể nào đó. Bản chất, nội dung và phương hướng của chính sách tùy thuộc vào tính chất của đường lối, nhiệm vụ chính trị, kinh tế, văn hóa…”.TS Vũ Cao Đàm định nghĩa về chính sách: “Chính sách là một tập hợp biện pháp được thể chế hóa, mà một chủ thể quyền lực, hoặc chủ thể quản lý đưa ra, trong đó tạo sự ưu đãi một hoặc một số nhóm xã hội, kích thích vào động cơ hoạt động của học, định hướng hoạt động của họ nhằm thực hiện một mục tiêu ưu tiên nào đó trong chiến lược phát triển của một hệ thống xã hội”.[30] Theo Từ điển tiếng Việt thông dụng thuật ngữ Chính sách được hiểu là: "Chủ trương và các biện pháp của một đảng phái, một chính phủ trong các lĩnh vực chính trị - xã hội".
[22] Như vậy, có thể hiểu: Chính sách là chương trình hành động do các nhà lãnh đạo hay nhà quản lý đề ra để giải quyết một vấn đề nào đó thuộc phạm vi thẩm quyền của mình. 6 * Chính sách công: Khoa học chính sách công ra đời muộn hơn các ngành khoa học khác và chỉ thực sự phát triển rộng rãi ở các nước trên thế giới từ sau những năm 1950. Người đầu tiên sáng lập ra khoa học chính sách công là Harold Lasswell và các học giả khác ở Mỹ và Anh. Sau này khoa học chính sách công dần dần thay thế các nghiên cứu chính trị truyền thống, đặc biệt là hợp nhất giữa nghiên cứu lý thuyết và hoạt động chính trị.
Chính vì sự phong phú của các phương diện hoạt động chính trị nên các học giả đã đề cập đến khái niệm về chính sách công dưới nhiều cách tiếp cận khác nhau. Cho dù tiếp cận theo nhiều cách khác nhau, nhưng các khái niệm đều thống nhất cho rằng chính sách công bắt nguồn từ những “quyết định” của nhà nước và dùng để giải quyết những vấn đề chung vì lợi ích của đời sống cộng đồng. Thomas Dye đưa ra một định nghĩa ngắn gọn về chính sách công là: “bất kỳ những gì mà nhà nước lựa chọn làm hoặc không làm”. Khái niệm về chính sách công của William Jenkins cụ thể hơn so với định nghĩa trên.
Theo ông chính sách công là: “một tập hợp các quyết định có liên quan với nhau được ban hành bởi một nhà hoạt động chính trị hoặc một nhóm các nhà hoạt động chính trị liên quan đến lựa chọn các mục tiêu và các phương tiện để đạt mục tiêu trong một tình huống cụ thể thuộc phạm vi thẩm quyền của họ”. Còn Jeme Anderson đưa ra một định nghĩa chung hơn, mô tả chính sách công như là: “một đường lối hành động có mục đích được ban hành bởi một nhà hoạt động hoặc một nhóm các nhà hoạt động để giải quyết một vấn đề phát sinh hoặc vấn đề quan tâm”. Tuy vẫn có những giới hạn nhất định, nhưng các định nghĩa trên đều tập trung miêu tả nội hàm của chính sách công và cũng chỉ cho thấy việc nghiên cứu chính sách công trong một lĩnh vực cụ thể là công việc khó khăn, không chỉ hoàn thành một cách đơn giản bằng việc xem xét các tài liệu chính thức về việc ban hành quyết định của nhà nước được thể hiện dưới các hình thức văn bản quy phạm pháp luật. Tuy nhiên cũng phải thấy rằng, những văn bản quản lý nhà nước lại là nguồn thông tin quan trọng để các nhà chính trị xây dựng mục tiêu và biện pháp của chính sách công, nhất là khi tiến hành các lựa chọn cụ thể và lựa chọn tiềm năng.
Những điểm đáng lưu ý trong quan niệm chính sách công Thứ nhất, Chính sách công chỉ xuất hiện trong thời kỳ xã hội loài người đã có nhà nước. 7 Thứ hai, Các quan niệm có xu hướng giới hạn vào chủ thể là nhà nước và nếu có mở rộng thì cũng chỉ đến các chủ thể chính trị khác xong cũng đặt mối quan hệ liên quan đến nhà nước. Thứ ba, Một số quan niệm tính đến mục tiêu giải quyết vấn đề như một thành tố quan trọng làm tiêu chí xác định chính sách công. Thứ tư, Chính sách công phải được xem xét như một quá trình từ khâu xác định ý tưởng, hoạch định, thực hiện, đến đánh giá.
Thứ năm, Cộng đồng trong chính sách công cần được hiểu theo nghĩa rộng nhất đó là nhóm người đó là tầng lớp, đó là giai cấp, đó là cả xã hội loài người, đó cũng có thể là một địa phương, một quốc gia, đó có thể là một vùng lãnh thổ. Thứ sáu, Chính sách công chỉ có nghĩa khi được đặt trong mối quan hệ với chính sách tư và ngược lại. Thứ bảy, Xã hội loài người hiện nay được tổ chức thành các thể chế có tính phổ biến và bền vững nhất là các quốc gia. Thứ tám, Đối với Việt Nam do có sự vận động đặc thù của lịch sử nên nhân dân đã trao quyền lãnh đạo, quản lý cho hai thực thể là Đảng Cộng sản và Nhà nước.
Trên cơ sở tham khảo các cách tiếp cận khác nhau về chính sách công, có thể đi đến một định nghĩa: Chính sách công là những quyết định của chủ thể được trao quyền lực công nhằm giải quyết những vấn đề vì lợi ích chung cộng đồng. [16] * Thực hiện chính sách công: Chính sách được hoạch định ra xuất phát từ yêu cầu khách quan của thực tế, từ những nhu cầu của xã hội. Trải qua rất nhiều thời kỳ, từ những năm 1930 đến 1960, các nhà nghiên cứu quy trình chính sách hầu như chỉ tập trung tìm tòi về việc hoạch định chính sách công. Song cho đến tận ngày nay, người ta vẫn khó có thể khẳng định rằng một chính sách đề ra là tốt hay xấu.
Điều đó chỉ có thể được đánh giá bằng thực tế là chính sách đó được xã hội chấp nhận hay không; chỉ có thực tiễn là phán xét chính xác nhất chính sách nào là tích cực và chính sách nào là tiêu cực. Trong những năm 1970, các nhà nghiên cứu đã chuyển trọng tâm sang giai đoạn thực thi chính sách. Theo nguyên lý triết học chính sách là một dạng thức vật chất đặc biệt nên nó cũng cần thực hiện những chức năng để tồn tại. Song muốn thực hiện được chức năng, chính sách phải tham gia vào quá trình vận động như các vật chất khác.
Nghĩa là sau khi ban hành, chính sách phải được triển khai trong đời sống xã hội. 8 Do vậy tổ chức thực hiện chính sách là tất yếu khách quan để duy trì sự tồn tại của công cụ chính sách theo yêu cầu quản lý Nhà nước và cũng là để đạt mục tiêu đề ra của chính sách. Với cách tư duy này có thể đi đến khái niệm về tổ chức thực hiện chính sách như sau: Tổ chức thực thi chính sách là toàn bộ quá trình chuyển hoá ý chí của chủ thể trong chính sách thành hiện thực với các đối tượng quản lý nhằm đạt mục tiêu định hướng của Nhà nước. [17] * Nhân lực: Cho đến nay khái niệm về NL vẫn có rất nhiều quan điểm nhìn nhận, đánh giá khác nhau được đưa ra, như sau: Trong lý thuyết phát triển đã đưa ra: “NL được hiểu như nguồn lực con người của một quốc gia, một vùng lãnh thổ, là bộ phận của các nguồn lực có khả năng huy động, tổ chức quản lý để tham gia vào vào quá trình phát triển kinh tế - xã hội như nguồn lực vật chất, nguồn lực tài chính”.
Theo đánh giá của Tổ chức Liên hợp quốc (UN): “NL bao gồm những người đang làm việc và những người trong độ tuổi lao động có khả năng lao động”. Phạm Minh Hạc: “NL cần được hiểu là số dân và chất lượng con người, bao gồm cả thể chất và tinh thần, sức khoẻ và trí tuệ, năng lực, phẩm chất và đạo đức nghề nghiệp. Nó là tổng thể nguồn NL hiện có thực tế và tiềm năng được chuẩn bị sẵn sàng để tham gia phát triển kinh tế - xã hội của một quốc gia hay một địa phương nào đó.” Trong khi đó hai tác giả Phạm Thành Nghị và Vũ Hoàng Ngân (2004) lại đưa ra khái niện: “NL chính là tổng thể những tiềm năng của con người mà trước hết và cơ bản nhất là tiềm năng lao động của một quốc gia hoặc vùng lãnh thổ trong một thời kỳ nhất định (5 năm, 10 năm…) phù hợp với kế hoạch và chất lượng phát triển” [18]. Từ những quan điểm trên chúng ta có thể đi đến một khái niệm chung nhất về NL như sau: “NL là nguồn lực con người, là yếu tố quan trọng, năng động nhất của tăng trưởng và phát triển kinh tế - xã hội.