Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN GIÁO DỤC 1. Lý luận về thực hiện chính sách công 1. Khái niệm chính sách công Một số định nghĩa về chính sách Chính sách là tập hợp các chủ trương và hành động về phương diện nào đó của chính phủ nó bao gồm các mục tiêu mà chủ thể ban hành muốn đạt được và cách làm để thực hiện các mục tiêu đó. Để phát triển kinh tế, xã hội của cả nước nói chung và của vùng dân tộc, miền núi nói riêng.
Cùng với chất lượng giáo dục toàn diện được nâng lên, công tác giáo dục đối. Giáo dục vốn mang trong mình vai trò, ý nghĩa to lớn đối với sự phát triển của xã hội, đó là nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài. Chính vì thế, chính sách phát triển giáo dục phổ thông đối với học sinh là một sự khẳng định chắc chắn hơn nữa mục đích, mục tiêu quan trọng này. Theo tác giả William Jenkins thì nghiên cứu thi ông cho rằng chính sách công là: “một tập hợp các quyết định có liên quan với nhau được ban hành bởi một nhà hoạt động chính trị hoặc một nhóm các nhà hoạt động chính trị liên quan đến lựa chọn các mục tiêu và các phương tiện để đạt mục tiêu trong một tình huống cụ thể thuộc phạm vi thẩm quyền của họ”.
Khái niệm về chính sách công của William Jenkins cụ thể thơn so với định nghĩa trên. Nhà nghiên cứu James Anderson thì lại đưa ra một định nghĩa chung hơn, mô tả chính sách như là: “một đường lối hành động có mục đích được 14 ban hành bởi một nhà hoạt động hoặc một nhóm các nhà hoạt động để giải quyết một vấn đề phát sinh, hoặc vấn đề quan tâm” [30, tr. Từ những khái niệm của các nhà nghiên cứu trên thì trong nghiên cứu này tác giả của luận văn sử dụng khái niệm của PGS, TS Nguyễn Khắc Bình, ông cho rằng: “Chính sách công là hoạt động mà chính phủ chọn thực hiện hoặc không thực hiện để điều hòa các xung đột trong xã hội nhằm thúc đẩy xã hội phát triển theo định hướng nhất định” [5, tr. Vai trò của chính sách công Chính sách công thể hiện vai trò cơ bản ở chỗ nó chính là công cụ hữu hiệu chủ yếu để nhà nước thực hiện chức năng, nhiệm vụ của mình, duy trì sự tồn tại và phát triển KT-XH, phát triển của nhà nước và phục vụ người dân.
Dưới góc độ quản lý, quản trị quốc gia, nhà nước muốn dùng một công cụ quan trọng tác động vào các lĩnh vực đời sống xã hội để đạt được mục tiêu định hướng của nhà nước, thì cần phải sử dụng chính sách công. Để mở đường cho những thể chế mới đi vào cuộc sống thì các thay đổi xã hội lớn đều có nguồn gốc từ sự thay đổi chính sách. Công cuộc đổi mới từ năm 1986 là một minh chứng cho sự đi trước của chính sách trong phát triển KT-XH tại Việt Nam, khắc phục được cuộc khủng hoảng KT- XH, huy động được lực lượng sản xuất từ đó nâng cao mức sống, giải quyết các vấn đề an sinh xã hội. Chính sách công đóng vai trò quan trọng, thể hiện dưới một số hướng tiếp cận cụ thể sau: Vai trò thứ nhất là khi các chủ thể tham gia hoạt động kinh tế - xã hội cần được định hướng mục tiêu.
Nếu các chủ thể kinh tế, xã hội hoạt động theo định hướng tác động của chính sách thì không những dễ dàng đạt được mục tiêu phát triển mà còn nhận được những ưu đãi từ phía nhà nước hay xã hội. Nên nó thể hiện rõ những xu thế tác động của nhà nước lên các 15 chủ thể trong xã hội, giúp họ vận động đạt được những giá trị tương lai mà nhà nước mong muốn mà do chính sách phản ánh thái độ, cách xử sự của nhà nước đối với một vấn đề công. Vai trò thứ hai là, tạo động lực cho các đối tượng tham gia hoạt động kinh tế - xã hội theo mục tiêu chung. Muốn đạt được các mục tiêu phát triển KT-XH chung, nhà nước phải ban hành nhiều chính sách, trong đó mỗi chính sách lại có những cách thức tác động mang tính khuyến khích đối với các chủ thể thuộc mọi thành phần.
Sự tác động của chính sách công không mang tính bắt buộc, mà chỉ khuyến khích các chủ thể hành động theo ý chí của nhà nước. Vai trò thứ ba là, phát huy mặt tích cực, đồng thời khắc phục những hạn chế của nền kinh tế thị trường. Trong nền kinh tế thị trường, quy luật cạnh tranh và các quy luật thị trường khác đã thúc đẩy mỗi chủ thể trong xã hội đầu tư vào sảnxuất kinh doanh, không ngừng đổi mới công nghệ nâng cao năng suất lao động, chất ượng sản phẩm, hạ giá thành hàng hóa và dịch vụ cung cấp cho xã hội, từng người dân, tổ chức và cả xã hội cũng nhờ đó đều được hưởng lợi. Những tác động tiêu cực gây ảnh hưởng không tốt lên toàn xã hội và mỗi người dân cũng do sự vận hành của thị trường cũng gây ra Nhà nước phải sử dụng hệ thống chính sách công để giải quyết những vấn đề bất cập về kinh tế, khắc phục những thất bại của thị trường.
Ttrong tình hình đó các doanh nghiệp nhà nước, các đơn vị sự nghiệp công hay hội, tổ chức phi chính phủ thực hiện thông qua trợ cấp và cung ứng dịch vụ công. Vai trò thứ tư là, tạo lập các cân đối trong phát triển. Để KT-XH phát triển một cách ổn định bền vững, nhà nước phải dùng chính sách để tạo lập các cân đối vĩ mô cơ bản, đồng thời, nhà nước còn dùng chính sách để điều tiết đảm bảo cho sự phát triển cân đối giữa các vùng miền của đất nước 16 Vai trò thứ năm là, cần kiểm soát và phân bổ các nguồn lực trong xã hội. Với mục tiêu phát triển bền vững bao gồm cả gia tăng về lượng và cải thiện về chất trong hiện tại và tương lai và để sử dụng có hiệu quả tài nguyên theo hướng bền vững, nhà nước thông qua các chính sách thực hiện kiểm soát quá trình khai thác, sử dụng tài nguyên và phân bổ hợp lý các nguồn lực trong xã hội thì nhà nước luôn luôn quan tâm đến quản lý, khai thác và sử dụng các nguồn lực cho phát triển.
Vai trò thứ sáu là, luôn tạo môi trường thích hợp cho các hoạt động kinh tế - xã hội. Việc rất cần thiết để hình thành môi trường thuận lợi là do nhà nước luôn tạo ra những điều kiện cho các chủ thể xã hội hoạt động như: chính sách phát triển thị trường lao động, thị trường vốn, thị trường khoa học và công nghệ, thị trường bất động sản, phát triển cơ sở hạ tầng thông qua các chính sách. Vai trò thứ bảy là, thúc đẩy sự phối hợp hoạt động giữa các cấp, các ngành. Các giai đoạn trong chu trình chính sách được thực hiện không chỉ và không thể do một cơ quan nhà nước đảm nhiệm, mà cần có sự tham gia của nhiều cơ quan thuộc các cấp, các ngành khác nhau hay của nhiều tổ chức, cá mân.
Vì vậy, sự phối hợp hoạt động giữa các cơ quan nhà nước, các tổ chức chính trị - xã hội, các tầng lớp nhân dân, góp phần tạo nên sự nhịp nhàng, đồng bộ trong hoạt động thực thi chính sách công được thông qua quá trình chính sách sẽ thúc đẩy nhờ sự phối hợp này. Các giai đoạn trong quy trình chính sách công Quy trình chính sách công gồm 3 giai đoạn cơ bản: Giai đoạn hoạch định chính sách: Đây là giai đoạn mà Nhà nước phê chuẩn và ban hành công khai các chính sách đã được nghiên cứu đề xuất. Quy trình hoạch định chính sách ở nước ta được thực hiện tuần tự các bước như sau: Nêu lý do hoạch định 17 chính sách, xây dựng dự thảo các phương án chính sách, lựa chọn phương án dự thảo tốt nhất, hoàn thiện phương án lựa chọn, thẩm định phương án chính sách, quyết nghị ban hành chính sách, công bố chính sách. Việc xây dựng kế hoạch triển khai thực hiện chính sách vì quá trình tổ chức thực thi chính sách công là quá trình phức tạp, diễn ra trong một thời gian dài, vì thế chúng cần được lập kế hoạch, chương trình để các cơ quan nhà nước triển khai thực hiện chính sách một cách chủ động hoàn toàn.
Kế hoạch triển khai thực thi chính sách công được xây dựng trước khi đưa chính sách vào cuộc sống. Các cơ quan triển khai thực thi chính sách từ Trung ương đến địa phương đều phải xây dựng kế hoạch, chương trình thực hiện. Giai đoạn tổ chức thực thi chính sách: Ở giai đoạn này thì chính sách được biến thành kết quả thực tế, bao gồm các hoạt động triển khai, phối hợp thực hiện, kiểm tra đôn đốc và hiệu quả chính sách cùng các biện pháp tổ chức thực thi để chính sách phát huy tác dụng trong cuộc sống. Trong giai đoạn này chính là thực hiện các mục tiêu chính sách công trên thực tế.
Giai đoạn đánh giá chính sách: Tổ chức thực thi chính sách công được tiến hành liên tục trong thời gian duy trì chính sách. Trong quá trình đó người ta có thể đánh giá từng phần hay toàn bộ kết quả thực thi chính sách, trong đó đánh giá toàn bộ được thực hiện sau khi kết thúc chính sách. Đánh giá tổng kết trong bước tổ chức thực thi chính sách được hiểu là quá trình xem xét, kết luận về chỉ đạo - điều hành và chấp hành chính sách của các đối tượng thực thi chính sách. Đối tượng được xem xét, đánh giá tổng kết về chỉ đạo điều hành thực thi chính sách là các cơ quan nhà nước từ Trung ương đến cơ sở.
Ngoài ra, còn xem xét cả vai trò, chức năng của các tổ chức chính trị, chính trị - xã hội và xã hội trong việc tham gia thực thi chính sách công. Cơ sở để đánh giá, 18 tổng kết công tác chỉ đạo, điều hành thực thi chính sách công trong các cơ quan nhà nước là kế hoạch được giao và những nội quy, quy chế được xây dựng ở bước 1 của phần này. Đồng thời còn kết hợp sử dụng các văn bản liên tịch giữa cơ quan nhà nước với các tổ chức xã hội và các văn bản quy phạm khác để xem xét tình hình phối hợp chỉ đạo, điều hành thực thi chính sách công của các tổ chức chính trị và xã hội với Nhà nước.