Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN ĐÔ THỊ TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN TRẢNG BÀNG, TỈNH TÂY NINH 1. Các khái niệm cơ bản Chính sách và chính sách công: Khái niệm “chính sách” và “chính sách công” được dùng rất phổ biến trong các lĩnh vực đời sống kinh tế và xã hội ở mọi quốc gia. Hiện nay, có nhiều định nghĩa khác nhau về các khái niệm này, cụ thể: Từ điển Bách khoa Việt Nam cho rằng: “Chính sách là các chuẩn tắc cụ thể để thực hiện đường lối, nhiệm vụ. Chính sách được thực hiện trong một thời gian nhất định trên những lĩnh vực cụ thể.” [27] Trong khi đó, từ điển Oxford định nghĩa chính sách là “một cách hay một quan điểm thực hiện được đặt ra bởi cơ quan nắm quyền, tổ chức chính trị, cơ quan tổ chức hay cá nhân” [31] Theo học giả Considine, chính sách là những hoạt động thực hiện có sự lựa chọn với tầm nhìn đã có, chọn việc thực hiện theo những gì đã được đặt ra.
[32] Tác giả Đinh Dũng Sỹ (2008) cho rằng chính sách công có mối quan hệ tương quan rất mật thiết với chính trị và pháp luật, chính sách là cụ thể hóa đường lối chính trị của nhà nước. Tóm lại, dù có nhiều quan niệm và cách tiếp cận khác nhau từ nhiều góc độ xem xét, có thể tạm đưa ra khái niệm về chính sách như sau: Chính sách là những quyết định hướng đến hành động của chủ thể quản lý với các hiện tượng tồn tại trong quá trình vận động phát triển để nhằm đạt mục tiêu nhất định cho hệ thống hoặc tổ chức. Hồ Việt Hạnh, chính sách công là những quyết định của chủ thể được trao quyền lực công nhằm giải quyết những vấn đề vì lợi ích chung của cộng đồng. Văn Tất Thu, chính sách công là chính sách của nhà nước đối với khu vực công cộng, phản ánh bản chất, tính chất của nhà nước và chế độ chính 9 trị trong đó nhà nước tồn tại; đồng thời phản ánh ý chí, quan điểm, thái độ, cách xử sự của đảng chính trị phục vụ cho mục đích của đảng cầm quyền, lợi ích và nhu cầu của nhân dân.
Vũ Mạnh Toàn (2019), chính sách công là một chuỗi các quyết định hoạt động của nhà nước nhằm giải quyết một vấn đề chung đang đặt ra trong đời sống kinh tế - xã hội theo mục tiêu xác định. [26] Với cách tiếp cận này, chính sách công được xem xét và được thể hiện bởi những yếu tố đặc trưng như: Chính sách công là tất cả những công việc mà chính quyền thi hành đến dân; Là ý chí của nhà nước trong hoạt động quản lý nhà nước nhằm thực hiện mục tiêu theo định hướng chính trị; Là những tác động mang tính cộng đồng vì lợi ích chung của quốc gia dân tộc; Mang tính hệ thống và đảm bảo thực thi để các cơ quan quyền lực và hệ thống hành chính từ Trung ương đến địa phương; Thể hiện ý chí chính trị của chủ thể ban hành và thường gắn với các đảng phái chính trị lãnh đạo cầm quyền. Thực tiễn ở Việt Nam cho thấy, chủ thể chính sách là các cơ quan ban hành và thực thi chính sách gồm Đảng, Chính phủ, Quốc hội, các Bộ ngành; khách thể chính sách hay đối tượng điều chỉnh của chính sách là những cá nhân, tổ chức, doanh nghiệp, hộ gia đình mà chính sách sẽ tác động vào. Đô thị hóa và phát triển đô thị Đô thị hóa là một quá trình kinh tế xã hội mà biểu hiện của nó là sự tăng lên về số lượng và quy mô của các điểm dân cư đô thị, sự tập trung dân cư về các thành phố và phổ biến rộng rãi lối sống thành thị.
Đô thị hóa thường được nhìn dưới hai chiều kích chính là dân số và kinh tế, theo đó dân số không chỉ tập trung với mật độ cao hơn mà cơ cấu lao động còn chuyển dịch từ các hoạt động nông nghiệp sang phi nông nghiệp, phản ảnh cơ cấu của nền kinh tế được công nghiệp hóa ngày càng cao, như là kết quả của quá trình công nghiệp hóa và hiện đại hóa [23]. Việt Nam đã có lịch sử phát triển đô thị từ rất lâu đời dù nhỏ bé, cho đến tháng 4 năm 2019, số lượng đô thị Việt Nam đã lên đến khoảng 830 đô thị. Trừ TPHCM, Hà Nội, Đà Nẵng, Hải Phòng, và Cần Thơ là các đô thị trực thuộc Trung 10 ương, có quy mô dân số lớn, một số thành phố thuộc tỉnh có quy mô trung bình, hầu hết các đô thị còn lại là đô thị nhỏ. Sự phát triển đô thị không đồng đều giữa các vùng, chênh lệch nhiều giữa các khu vực khác nhau do đặc điểm địa lý, điều kiện tự nhiên, và trình độ phát triển kinh tế-xã hội.
Việc quản lý đô thị còn nhiều bất cập, thiếu đồng bộ giữa các bộ ngành và địa phương, ảnh hưởng đến chất lượng tăng trưởng, đặc biệt ở các đô thị lớn. Quốc hội Việt Nam đã ban hành Nghị quyết 1210/2016/UBTVQH13 ngày 25 tháng 05 năm 2016 về phân loại đô thị gồm: đô thị loại đặc biệt, đô thị loại I, đô thị loại II, đô thị loại III, đô thị loại IV, và đô thị loại V. Theo đó, mỗi cấp đô thị phải đáp ứng các tiêu chuẩn về qui mô dân số, về cơ sở hạ tầng, về tỷ lệ lao động phi chính thức,… Nghị quyết là cơ sở quan trọng để các địa phương xác định thực tiễn phát triển đô thị và giám sát quá trình này. Việc thể chế hóa các tiêu chí phân loại đô thị giúp cho quá trình phát triển đô thị và quản lý phát triển đô thị có cơ sở pháp lý quan trọng; phát huy hiệu quả các vai trò, chức năng đô thị được chuyên môn hóa; nhận được các nguồn lực từ Trung ương và địa phương để thực hiện các vai trò, chức năng đô thị của mình.
[21] Ngoài cơ sở pháp lý quan trọng trên, nhiều văn bản pháp lý của Thủ tướng Chính phủ và các Bộ, ngành liên quan cũng quy định, hướng dẫn cụ thể trong quá trình quy hoạch, thực hiện quy hoạch, huy động các nguồn lực, và quản lý phát triển đô thị nhằm đảm bảo sự phát triển bền vững đô thị Việt Nam. Các lý thuyết đô thị hóa và phát triển đô thị Các lý thuyết đô thị hóa Để giải thích bản chất của quá trình đô thị hóa, có thể nêu lên 3 lý thuyết phổ biến là: lý thuyết hiện đại hóa, lý thuyết đô thị hóa quá mức, và lý thuyết thiên vị đô thị (Lê Thanh Sang, 2008). [23] Lý thuyết hiện đại hóa lập luận rằng đô thị hóa là kết quả tất yếu của quá trình hiện đại hóa và công nghiệp hóa. Lý thuyết này được thừa nhận rộng rãi ở phương Tây để giải thích cho sự hình thành các đô thị của các nước phát triển.
Cuối thế kỷ XVIII, với sự phát triển của kỹ thuật, đặc biệt là kỹ thuật cơ khí, sự hình 11 thành các nhà máy sản xuất công nghiệp tập trung đã thu hút lao động từ các vùng nông thôn đến làm việc. Quá trình công nghiệp hóa là biểu hiện tập trung nhất của quá trình hiện đại hóa ở các nước Châu Âu đã tạo nên làn sóng đô thị hóa nhanh chóng ở các nước này. Lý thuyết hiện đại hóa thường sử dụng các chỉ báo công nghiệp hóa như là yếu tố làm thay đổi cơ cấu kinh tế – xã hội của đô thị và lực “hút” lao động tạo ra từ quá trình công nghiệp hóa đã làm tăng nhanh lao động di cư nông thôn – đô thị, qua đó làm tăng nhanh chóng qui mô dân số đô thị. Cơ cấu kinh tế – xã hội và cơ cấu dân số – lao động thay đổi và gia tăng nhanh chóng là một trong các thành tố chính tạo nên các đô thị ngày nay.
Ngược lại, lý thuyết đô thị hóa quá mức nhằm giải thích cho tình trạng đô thị hóa tại các nước đang phát triển trên thế giới khi tốc độ đô thị hóa diễn ra nhanh hơn so với tốc độ công nghiệp hóa. Hiện tượng đô thị hóa quá mức diễn ra khá phổ biến ở các nước đang phát triển do cơ sở kinh tế công nghiệp của các đô thị còn yếu kém, trong khi các lực “đẩy” từ nông thôn tăng lên do nhu cầu lao động nông nghiệp giảm và thị trường lao động phi nông nghiệp ở nông thôn ít tạo ra việc làm mới. Biểu hiện rõ nhất của tình trạng đô thị hóa quá mức là tỷ trọng lao động phi chính thức ở khu vực đô thị cao do thiếu việc làm được tạo ra trong khu vực chính thức. Một lý thuyết khác cũng khá phổ biến để giải thích cho đặc điểm đô thị hóa ở các nước đang phát triển là lý thuyết thiên vị đô thị.
Lý thuyết này cho rằng sau Chiến tranh thế giới lần thứ hai, các quốc gia sau khi giành độc lập từ các nước đế quốc, thực dân đã đầu tư ưu tiên các nguồn lực để xây dựng thủ đô và một số thành phố công nghiệp lớn nhằm thể hiện quyền lực và vị thế quốc gia, củng cố chủ nghĩa quốc gia dân tộc. Kết quả là thủ đô của hầu hết các nước đang phát triển lớn một cách bất đối xứng với hầu hết các đô thị còn lại. Các lý thuyết đô thị hóa trên trong những mực độ nhất định góp phần giúp luận văn có thể lý giải thực tiễn phát triển đô thị ở Việt Nam cũng như ở Tây Ninh và Trảng Bàng cho đến nay. Các lý thuyết quy hoạch và phát triển đô thị 12 Bên cạnh các lý thuyết đô thị hóa, việc tìm hiểu các lý thuyết phát triển đô thị giúp lý giải (1) các cấu trúc không gian bên trong đô thị và các chức năng được chuyên môn hóa của đô thị; và (2) mối quan hệ giữa các đô thị trong các hệ thống đô thị trên phạm vi rộng lớn hơn của địa phương, vùng, quốc gia, và quốc tế (Lê Thanh Sang, 2008).
[23] Lý thuyết sinh thái đô thị là sự vận dụng của lý thuyết sinh thái nhân văn để giải thích mối quan hệ giữa con người và tổ chức xã hội trong mối quan hệ với môi trường sinh thái đô thị, theo đó con người và tổ chức xã hội là một bộ phận hữu cơ có sự tương tác lẫn nhau và tương tác với các thành tố sinh thái để hình thành các cấu trúc vật chất và xã hội trong không gian đô thị với những chức năng phù hợp.