CHƯƠNG 1: CƠ SỞ HÌNH THÀNH CHÍNH SÁCH ĐỐI NGOẠI XUYÊN ĐẠI TÂY DƯƠNG CỦA CHLB ĐỨC (2005-2018) 1. Chủ nghĩa xuyên Đại Tây Dương Quan hệ xuyên Đại Tây Dương đề cập đến quan hệ lịch sử, văn hóa, chính trị, kinh tế và xã hội giữa các quốc gia riêng lẻ, giữa các nhóm quốc gia hoặc tổ chức quốc tế với các nhóm khác, các quốc gia khác ở cả hai phía Đại Tây Dương. Đôi khi cụ thể là giữa Mỹ, Canada và các quốc gia khác ở châu Âu. Mối quan hệ ban đầu giữa Châu Âu và Châu Mỹ dựa trên chủ nghĩa thực dân và chủ nghĩa thương mại.
Phần lớn các quốc gia hiện đại ở châu Mỹ có thể được truy nguyên từ các quốc gia thuộc địa được thành lập bởi các quốc gia châu Âu, những quốc gia rất khác biệt với các nền văn minh và văn hóa tiền Columbus đã tồn tại trước đó. Chủ nghĩa Đại Tây Dương là một triết lý ủng hộ sự hợp tác chặt chẽ giữa Bắc Mỹ và Châu Âu được xây dựng trên cơ sở: hệ thống Bretton Woods, kế hoạch Marsall, và NATO. Đây là những nền tảng của cái gọi là "trật tự hậu thế giới", một chương trình để ổn định châu Âu và ngăn chặn sự xuất hiện của các hình thức mới của chủ nghĩa toàn trị. Đối với những người Đại Tây Dương, các thể chế này không chỉ là phương tiện định hình châu Âu sau năm 1945 mà còn là một biểu hiện của những khả năng cho sức mạnh lý tưởng của người Mỹ.
Đỉnh cao của mối quan hệ là kết thúc của cuộc Chiến tranh lạnh, khi các cơ hội hình thành phía tây đột nhiên trở nên có sẵn cho khối Liên Xô. Chủ nghĩa Đại Tây Dương có thể là phương tiện đưa phương Tây đến phần còn lại, như một số người Đại Tây Dương đã đề xuất trong những năm đầu sau sự sụp đổ của bức tường Berlin. Mối quan hệ này không còn đơn giản là một phản ứng đối với các 9 c cuộc khủng hoảng, chủ nghĩa Đại Tây Dương thực sự đã trở thành một cách để hình thành thế giới. Tuy nhiên mối quan hệ này trở nên lung lay khi mà nhiều cấu trúc hình thành cơ sở của “trật tự hậu thế giới” ban đầu đã bị xói mòn hoặc biến mất.
Mỹ không còn viện trợ hàng tỷ đô la cho châu Âu, như đã làm trước năm 1951; tiền tệ quốc tế không còn gắn liền với một chính sách tiền tệ bên ngoài được thiết kế ở New Hampshire, như trước năm 1971; các quốc gia từng là một phần của Liên Xô lại chuyển hướng trở thành thành viên của NATO. Ngay cả khi liên minh giữa Mỹ và châu Âu đã suy yếu, khái niệm về một thế giới tự do được xây dựng trên trụ cột xuyên Đại Tây Dương đã sống như một ý tưởng chính trị mạnh mẽ. Thực tế ảm đạm của quan hệ xuyên Đại Tây Dương được mô tả qua quan hệ giữa Mỹ và châu Âu, khi mà George HW Bush tức giận các đồng minh châu Âu với chiến tranh ở vùng Vịnh. Clinton đã thể hiện cam kết Đại Tây Dương của mình với NATO với các cuộc không kích của Bosnia, trong khi George W Bush đã xâm lược Iraq và gần như xé bỏ liên minh.
Mặc dù mối quan hệ của Đức với Mỹ vẫn là nền tảng của chính sách đối ngoại. Nó thiết lập một trang web với một hình ảnh lớn của đại dương vô tận. Nhưng nó không thể xác định mối quan hệ xuyên Đại Tây Dương. “Thứ tự thế giới tự do với nền tảng của nó trong các mối quan hệ đa phương, các tiêu chuẩn và giá trị toàn cầu của nó, các xã hội và thị trường mở của nó - đang gặp nguy hiểm”.
Nhưng nếu các giá trị và định mức được chia sẻ là nền tảng của trật tự thế giới tự do, chúng là gì? Mỹ và Đức, để sử dụng ví dụ của hai quốc gia ở hai bên Đại Tây Dương, là cả hai nền dân chủ đại diện, đó là sự thật. Không mất nhiều sự tìm hiểu để thấy sự khác biệt rõ ràng trong các tiêu chuẩn và giá trị trong hệ thống chính trị của họ: việc sở hữu sung ở Đức là rất nghiêm ngặt, và không phải ở Mỹ; ngôn từ kích động thù địch được cho phép ở Mỹ chứ không phải ở Đức; Đức có một hệ thống phúc lợi xã hội mạnh mẽ và Mỹ không có; hệ 10 c thống chính trị Đức sau chiến tranh được thiết lập để tránh tập trung quyền lực trong khi người Mỹ dường như cho phép tiếp quản khá nhanh chóng. Cả hai nước đều coi trọng “tự do” và “dân chủ” nhưng các hệ thống của họ có vẻ phù hợp nhất khi được xem trong mối quan hệ xuyên Đại Tây Dương. Chủ nghĩa Đại Tây Dương chưa bao giờ có một ý nghĩa ổn định, chính vì thế mà mỗi quốc gia trong liên minh Đại Tây Dương lại theo đuổi một chính sách đối ngoại khác nhau, trong đó chính sách đối ngoại xuyên Đại Tây Dương của Đức có vai trò quan trọng trong mối quan hệ này.
Bối cảnh quốc tế và khu vực Thời điểm Chiến tranh lạnh kết thúc vào đầu thập kỉ 90 của thế kỉ XX có thể coi là sự đánh dấu sự thay đổi về chất của môi trường quan hệ quốc tế. Sự tan rã của Liên bang Xô Viết đã dẫn đến sự sụp đổ của trật tự hai cực Ianta và nước Mỹ đã vươn lên thành siêu cường lớn nhất. Ở góc độ chủ thể quốc gia, Mỹ chủ trương duy trì một nền địa - chính trị đơn cực do Mỹ làm bá chủ. Các cường quốc khác đặc biệt là Nga và Trung Quốc thì chủ trương xây dựng một thế giới đa cực và phản đối tư tưởng bá quyền của Mỹ.
Từ đầu thế kỉ XXI, thế giới chứng kiến sự thay đổi cả về môi trường địa – chính trị, cả về môi trường địa – kinh tế thế giới, đặc biệt là sự trỗi dậy của Trung Quốc và người ta cũng nói nhiều đến “kỉ nguyên châu Á” với khu vực châu Á – Thái Bình Dương sẽ vươn lên dẫn đầu nền kinh tế thế giới. Đó là sự tiếp tục phát triển của toàn cầu hóa, đây là xu hướng phát triển chủ yếu của thế giới trong những thập niên đầu thế kỉ XXI. Đặc trưng của xu hướng này là sự phụ thuộc kinh tế ngày càng tăng giữa các quốc gia trên thế giới do việc phát triển qui mô và đa dạng hàng hóa, dịch vụ, vốn xuyên quốc gia ngày càng mở rộng. Thêm vào đó là sự phát triển như vũ bão của khoa học công nghệ.
11 c Thế giới đang dần trở thành một cộng đồng thống nhất, trong đó mỗi quốc gia dân tộc là một nhân tố cấu thành của hệ thống, cơ cấu toàn cầu thống nhất. Có thế nói rằng, đặc điểm bao trùm quan hệ quốc tế từ khi kết thúc Chiến tranh lạnh cũng như trong thập niên đầu của thế kỉ XXI là sự nổi trội của xu thế hòa bình, hợp tác phát triển cùng có lợi, cùng nhau chung sức để giải quyết các vấn đề có tính toàn cầu. Xu hướng này được quyết định bởi lợi ích chung và sự đan xen lợi ích giữa các quốc gia, các khu vực trong bối cảnh thế giới tương đối hòa bình. Các tổ chức quốc tế và khu vực đều có cơ hội củng cố, mở rộng và phát triển bên cạnh sự hình thành hàng loạt của các tổ chức khu vực và liên kết mới.
Chính việc củng cố thiết chế chung, thiết lập cơ cấu hợp tác mới đã tạo cơ sở pháp lý vững chắc thúc đẩy sự hợp tác cùng có lợi được tăng cường. Tuy nhiên trong bối cảnh quốc tế hiện nay, thế giới không chỉ chứng kiến xu thế hòa bình, hợp tác và phát triển mà còn đối mặt với những vấn đề mới nảy sinh tạo ra những thách thức cho những thiết chế hợp tác toàn cầu như Liên Hợp Quốc, Liên minh châu Âu (EU), và nhiều tổ chức quốc tế khác cũng như cho quan hệ giữa các quốc gia với nhau. Từ sau sự kiện 11 tháng 9 năm 2001 ở Mỹ, nguy cơ chủ nghĩa khủng bố đã trở thành mỗi hiểm họa đe dọa hầu hết các quốc gia dân tộc. Tuy nhiên, thảm họa này cũng tạo “cơ hội” để tiến hành cuộc thập tự chinh mới, để hiện diện quân sự ở bất kì quốc gia nào trên thế giới với danh nghĩa chống khủng bố.
Với hai cuộc chiến Mỹ phát động sau đó ở Afganistan (2001) và Iraq (2003) đã khuấy đảo nền hòa bình ở Trung Đông trong suốt những năm sau đó và đến nay đây vẫn là một lò lửa chính trị nơi các cường quốc tranh đấu, kèm theo đó là rất nhiều vấn đề khác. Tình hình quốc tế hiện nay có thể được mô tả qua các hiện tượng: bất an và bất ổn dẫn đến không thể đoán trước được [49; tr. Các sự kiện gần diễn ra ở Bắc Phi và Trung Đông rộng lớn đang chứng tỏ điều này; những rối ren đòi tự do dân chủ “kiểu phương Tây” của phong trào Mùa xuân Ả rập, hệ quả đó là sự bất ổn 12 c về chính trị của các nước Bắc Phi, các nước Trung Đông. Một tâm chấn của thế giới khác, chính là sự trỗi dậy của lực lượng khủng bố tự xưng Nhà nước Hồi giáo (IS) - một trong những thế lực khủng bố lớn nhất trong lịch sử hiện đại.
Nguyên nhân được các nhà nghiên cứu chỉ ra, đó là do các quốc gia phương Tây can thiệp vào chính trị với chiêu bài hòa bình, dân chủ. Họ đã sử dụng sức mạnh của internet để kích động quần chúng nhân dân, tạo nên các làn sóng biểu tình, nổi dậy lật đổ chính quyền đương nhiệm nhằm tạo dựng chính quyền mới thân phương Tây, tiện lợi cho các mục đích cá nhân. Mục tiêu của các cuộc nổi dậy mà ban đầu phương Tây ca ngợi "vì tự do và dân chủ" cuối cùng có kết cục trái ngược hoàn toàn: các nước ở thế giới Ả rập: quốc gia thì hỗn loạn, đất nước tan rã và sự nổi dậy của các nhóm Hồi giáo cực đoan. Các nhà lãnh đạo mà phương Tây gọi là những "nhà độc tài" đã bị lật đổ, để rồi khi kết thúc các cuộc biểu tình, nhiều nhóm quyền lực mới còn độc tài và cực đoan hơn đã nổi lên, sẵn sàng chém giết lẫn nhau để giành quyền lực.
Những người dân Ả Rập tỏ ra hối tiếc khi đã vướng vào sại lầm này và muốn mọi thứ trở lại giai đoạn trước đó, giai đoạn mà đất nước của họ được dẫn dắt bởi những "bàn tay sắt" để có thể gìn giữ được ổn định và trật tự [68].