CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH TIẾP DÂN, GIẢI QUYẾT KHIẾU NẠI, TỐ CÁO 1. Khái quát chính sách tiếp dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo 1. Nhận thức về tiếp dân, khiếu nại, tố cáo - Nhận thức về tiếp dân: Thực tế thời gian vừa qua cho thấy hoạt động tiếp công dân đã đạt được nhiều kết quả tích cực tạo được niềm tin cho đại bộ phận công dân. Tuy nhiên, bên cạnh đó một bộ phận cán bộ làm công tác tiếp dân chưa làm tốt nhiệm vụ chức năng của mình.
Hiện tượng thờ ơ, vô cảm, quan liêu hách dịch, nhũng nhiễu vẫn còn… Người dân cho rằng nỗi khổ nhất là đi làm thủ tục hành chính, nghe đến là đã ngại rồi, chưa muốn nói là sợ, đơn từ xã chuyển đến huyện rồi lên tỉnh, trung ương sau lại kính chuyển về chỗ ban đầu, và không dễ gì mà người đời lại có câu “hành dân là chính”. Thực tế người dân chẳng ai muốn đi khiếu kiện, bởi nó phiền hà, rắc rối, nhưng có lẽ cực chẳng đã đẩy họ vào nghịch cảnh không thể không đi. Tất cả những điều đó làm cho người dân đi khiếu nại trong tâm trạng rất bức xúc, không giữ được bình tĩnh, thậm chí “nói tục”, “chửi thề” là không tránh khỏi. Thực tế là họ coi đến chỗ tiếp công dân để mà “xả” những nỗi bức xúc ấy.
Những điều đó tạo ra rất nhiều áp lực, thách thức cho công tác tiếp dân. Nhận thức đầy đủ về vai trò, vị trí, tầm quan trọng của hoạt động tiếp dân của cấp ủy, chính quyền các cấp là rất cần thiết. Đây là biểu hiện cụ thể của quan điểm “dân là gốc” của Đảng và Nhà nước ta, góp phần phát huy bản chất “Nhà nước của dân, do dân, vì dân” “tất cả quyền lực Nhà nước đều thuộc về nhân dân”, xây dựng một xã hội dân chủ. Làm tốt công tác tiếp công dân sẽ đảm bảo việc thực hiện quyền KNTC của công dân, quyền giám sát của 8 nhân dân đối với CBCC góp phần xây dựng bộ máy Nhà nước trong sạch, vững mạnh.
Thông qua công tác tiếp dân tạo ra động lực thúc đẩy hoàn thiện công tác quản lý Nhà nước, giúp cho các cơ quan quản lý Nhà nước, các cơ quan tổ chức, đơn vị có điều kiện kiểm tra, đánh giá lại cơ chế chính sách, công tác chỉ đạo điều hành của mình, từ đó có những điều chỉnh thích hợp, kịp thời. Khái niệm “tiếp công dân” là một khái niệm mới được thể hiện trong Luật Tiếp Công dân 2013 mà trước đây chưa có văn bản nào quy định. Theo đó, tiếp công dân là việc cơ quan, tổ chức, đơn vị, cá nhân quy định tại Điều 4 của Luật này tiếp đón để lắng nghe, tiếp nhận KNTC, kiến nghị, phản ánh của công dân; giải thích, hướng dẫn cho công dân về việc thực hiện KNTC, kiến nghị, phản ánh theo đúng quy định của pháp luật. - Nhận thức về khiếu nại, tố cáo: KNTC là quyền cơ bản của công dân, thể hiện quyền dân chủ trực tiếp của người dân, nói lên những tâm tư, nguyện vọng, mong muốn của người dân trước các vấn đề của bản thân, của xã hội cần Nhà nước, những người có thẩm quyền trong bộ máy Nhà nước quan tâm xem xét, giải quyết.
Quan tâm tới vấn đề này, quyền KNTC của công dân và trách nhiệm của Nhà nước, của xã hội trong việc giải quyết KNTC được quy định trong các bản Hiến pháp và các văn bản pháp luật khác. Từ khi thành lập nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và sau này là Nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam, vấn đề xem xét và giải quyết KNTC của công dân luôn được Nhà nước quan tâm, ghi nhận trong Hiến pháp và các văn bản quy phạm pháp luật. Hiến pháp năm 1946 long trọng tuyên bố: “Tất cả quyền binh trong nước Việt Nam dân chủ cộng hoà đều của toàn thể nhân dân Việt Nam”. Điều 73 Hiến pháp năm 1980 quy định: “Công dân có quyền KNTC với bất cứ cơ quan nào của Nhà nước về những việc làm trái pháp luật 9 của cơ quan Nhà nước, tổ chức xã hội, đơn vị vũ trang hoặc của bất cứ cá nhân nào thuộc các cơ quan, tổ chức và đơn vị đó.
Các điều KNTC phải được xem xét và giải quyết nhanh chóng. Mọi hành động xâm phạm quyền và lợi ích chính đáng của công dân phải được kịp thời sửa chữa và xử lý nghiêm minh. Người bị thiệt hại có quyền được bồi thường. Nghiêm cấm việc trả thù người KNTC”.
Ngày 27/11/1981, Hội đồng Nhà nước đã ban hành Pháp lệnh quy định việc xét, giải quyết KNTC của công dân. Có thể nói, đây là văn bản pháp lý đầu tiên quy định một cách tập trung, đầy đủ và chi tiết về việc tiếp nhận và giải quyết KNTC của công dân. Tháng 12 năm 1998, Quốc hội đã thông qua Luật KNTC thay thế cho Pháp lệnh khiếu nại tố cáo của công dân năm 1991 và được sửa đổi, bổ sung năm 2004, 2005 đã tạo cơ sở pháp lý quan trọng để cơ quan, tổ chức, cá nhân thực hiện quyền khiếu nại và các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền giải quyết khiếu nại. “Khiếu nại là việc công dân, cơ quan, tổ chức hoặc CBCC theo thủ tục do Luật này quy định, đề nghị cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền xem xét lại quyết định hành chính, hành vi hành chính của cơ quan hành chính Nhà nước, của người có thẩm quyền trong cơ quan hành chính Nhà nước hoặc quyết định kỷ luật CBCC khi có căn cứ cho rằng quyết định hoặc hành vi đó là trái pháp luật, xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp của mình.” được cụ thể tại khoản 1 Điều 2 Luật Khiếu nại 2011.
Chính phủ đã ban hành Nghị định số 75/2012/NĐ-CP ngày 03/10/2012 quy định chi tiết một số điều của Luật Khiếu nại 2011 và Thanh tra Chính phủ ban hành Thông tư số 07/2013/TT-TTCP ngày 31/10/2013 và Thông tư số 07/2014/TT-TTCP ngày 1/10/2014 hướng dẫn thi hành. Luật Tố cáo năm 2011 cụ thể hoá các quy định của Hiến pháp năm 1992, được sửa đổi, bổ sung năm 2001 về quyền tố cáo của công dân cũng như trách nhiệm, nghĩa vụ của các cơ quan, tổ chức, đơn vị trong việc giải quyết tố cáo, 10 Luật Tố cáo quy định đối với 02 nhóm hành vi vi phạm pháp luật: một là, quy định về tố cáo và giải quyết tố cáo đối với hành vi vi phạm pháp luật của CBCC, viên chức trong việc thực hiện nhiệm vụ, công vụ; hai là, quy định tố cáo và giải quyết tố cáo đối với hành vi vi phạm pháp luật của cơ quan, tổ chức, cá nhân về quản lý Nhà nước trong các lĩnh vực. Đây là điểm mới cơ bản của Luật Tố cáo. Chính phủ đã ban hành Nghị định số 76/2012/NĐ-CP ngày 03/10/2012 và Thanh tra Chính phủ ban hành Thông tư số 06/2013/TT- TTCP ngày 30/9/2013 hướng dẫn thi hành.
Luật Tố cáo năm 2018 được thông qua ngày 12/6/2018, tiếp tục kế thừa quy định của Luật Tố cáo năm 2011 về phạm vi điều chỉnh, trong đó quy định về tố cáo và giải quyết tố cáo đối với 02 nhóm hành vi vi phạm pháp luật là tố cáo hành vi vi phạm trong việc thực hiện nhiệm vụ, công vụ và tố cáo hành vi vi phạm pháp luật về quản lý Nhà nước trong các lĩnh vực. Ngoài những nội dung chính nêu trên, Luật tố cáo năm 2018 còn quy định về nguyên tắc giải quyết tố cáo, áp dụng pháp luật về tố cáo và giải quyết tố cáo, các hành vi bị nghiêm cấm và điều khoản thi hành. Theo đó, tố cáo được quy định là việc cá nhân theo thủ tục quy định của Luật này báo cho cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền biết về hành vi vi phạm pháp luật của bất kỳ cơ quan, tổ chức, cá nhân nào gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại đến lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân, bao gồm: Tố cáo hành vi vi phạm pháp luật trong việc thực hiện nhiệm vụ, công vụ; Tố cáo hành vi vi phạm pháp luật về quản lý nhà nước trong các lĩnh vực. Chính sách tiếp dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo Chính sách tiếp dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo là một chính sách công.
Chính sách công thể hiện ý chí của Nhà nước qua hệ thống các văn bản. Chính sách công có vai trò định hướng cho các chủ thể trong xã hội; tạo động 11 lực cho các chủ thể trong xã hội; điều chỉnh các hoạt động trong nền kinh tế thị trường; phân phối nguồn lực cho quá trình phát triển; tạo lập môi trường thích hợp cho các chủ thể tham gia hoạt động kinh tế - xã hội; hỗ trợ các chủ thể vận động phát triển theo định hướng; làm cơ sở cho sự phối hợp hoạt động của các chủ thể trong xã hội. Như vậy, chính sách công là chính sách của Nhà nước, cụ thể là các cơ quan có thẩm quyền trong bộ máy Nhà nước gồm Quốc hội, Chính phủ, các bộ (chính sách quốc gia), chính quyền địa phương các cấp (chính sách địa phương). Chính sách công là hệ thống văn bản có nội dung liên quan gồm Hiến pháp, luật, các văn bản dưới luật hoặc ý chí của người có thẩm quyền… để giải quyết một vấn đề trong thực tiễn xã hội theo thời gian cụ thể.
“Đảng Cộng sản Việt Nam - Đội tiên phong của giai cấp công nhân, đồng thời là đội tiên phong của Nhân dân lao động và của dân tộc Việt Nam, đại biểu trung thành lợi ích của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của cả dân tộc, lấy chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội” được quy định trong Hiến pháp 2013. Theo đó, Đảng không phải là chủ thể ban hành chính sách công, mà chỉ “định hướng về chính sách và chủ trương lớn”. Như vậy, về thực chất, có thể hiểu chính sách công là do Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ban hành (chủ yếu là Chính phủ) - là sự cụ thể hóa quyết sách chính trị của Đảng nhằm phục vụ lợi ích của nhân dân.