Chương 1 CƠ SỞ KHOA HỌC VỀ BỔ NHIỆM CÔNG CHỨC LÃNH ĐẠO QUẢN LÝ TẠI CÁC CƠ QUAN CHUYÊN MÔN THUỘC ỦY BAN NHÂN DÂN CẤP TỈNH 1. Một số khái niệm 1. Cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh Để hiểu khái niệm cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, cần làm rõ một số khái niệm sau: Theo Đại từ điển tiếng Việt, cơ quan chuyên môn là "cơ quan chuyên trách một ngành cụ thể của nhà nước" [48, tr. Theo Từ điển tiếng Việt, cơ quan chuyên môn là "cơ quan chuyên trách một ngành công tác của nhà nước" [52, tr.
Theo Từ điển Luật học của Viện Khoa học pháp lý, Bộ Tư pháp thì Cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân là: “Cơ quan có nhiệm vụ tham mưu, giúp Ủy ban nhân dân cùng cấp thực hiện chức năng quản lý nhà nước ở địa phương và thực hiện một số nhiệm vụ, quyền hạn theo sự ủy quyền của Ủy ban nhân dân cùng cấp và theo quy định của pháp luật, góp phần bảo đảm sự thống nhất quản lý của ngành hoặc lĩnh vực công tác từ trung ương đến cơ sở. Cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân chịu sự chỉ đạo và quản lý về tổ chức, biên chế và công tác của Ủy ban nhân dân cùng cấp, đồng thời chịu sự chỉ đạo, kiểm tra về nghiệp vụ của cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân cấp trên.Tổ chức và hoạt động của cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân do Chính phủ quy định Cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân được thành lập ở cấp tỉnh và cấp huyện. 12 e Với quan niệm về cơ quan chuyên môn như trên, các cơ quan chuyên môn có những đặc điểm như sau: - Các cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân là loại cơ quan có thẩm quyền chuyên môn thuộc cơ quan hành chính Nhà nước ở địa phương, có chức năng tham mưu, giúp việc cho Ủy ban nhân dân quản lý về ngành, lĩnh vực công tác trong phạm vi quản lý của Ủy ban nhân dân cùng cấp. Vì vậy, các cơ quan chuyên môn không phải là cơ quan hiến định, cơ quan này được thành lập trên cơ sở các văn bản quy phạm pháp luật, chủ yếu là từ các Nghị định của Chính phủ.
- Cơ quan chuyên môn là cơ quan thuộc bộ máy hành chính nhà nước ở địa phương chỉ thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn quản lý nhà nước đối với ngành, lĩnh vực ở phạm vi quản lý của Ủy ban nhân dân cùng cấp; thực hiện nhiệm vụ quản lý nhà nước về chuyên môn theo ngành, lĩnh vực nhưng chúng không phải là cơ quan hành chính Nhà nước và thẩm quyền bị giới hạn trong thẩm quyền quản lý của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh và cấp huyện. Từ những trình bày ở trên có thể nhận định rằng: cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân là cơ quan có nhiệm vụ thực hiện quản lý về chuyên môn đối với một ngành, một lĩnh vực hoặc một số ngành, một số lĩnh vực cụ thể trong đời sống xã hội ở địa phương. Cơ quan chuyên môn được tổ chức và hoạt động ở cấp chính quyền địa phương (cấp huyện và cấp tỉnh) để tham mưu, giúp Ủy ban nhân dân thực hiện chức năng quản lý ngành lĩnh vực ở địa phương trong phạm vi quản lý hành chính của Ủy ban nhân dân cùng cấp được thống nhất, hiệu quả từ trung ương đến địa phương theo nguyên tắc về quản lý theo ngành, quản lý theo lĩnh vực kết hợp với quản lý theo địa phương hoặc đa ngành, đa lĩnh vực, nhằm nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý của chính quyền địa phương, bảo đảm thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của các cơ quan trong bộ máy hành chính nhà nước và giải quyết những công việc 13 e liên quan đến quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, tổ chức ở địa phương theo quy định của pháp luật. Công chức và công chức lãnh đạo quản lý 1.
Công chức Mặc dù chế độ công vụ đã tồn tại và phát triển đã trên 3 thế kỷ tính từ thời điểm xuất hiện thuật ngữ công chức vào năm 1859 ở Anh nhưng cho đến nay vẫn chưa có một quan niệm thống nhất về công chức cho tất cả các quốc gia trên thế giới. Sự khác nhau trong quan niệm về công chức thể hiện trên các phương diện như: Phạm vi công chức, đặc điểm công chức và chế độ công vụ. Về phạm vi công chức, có một số quan niệm chính như sau: - Theo quy định của Quy chế công chức Anh (ban hành tháng 6/2006) và Luật về cải cách công chức năm 1978 của Hoa Kỳ, thì công chức là những người làm việc trong bộ máy của Chính phủ trung ương, được tuyển dụng, bổ nhiệm vào vị trí công tác xác định trên cơ sở cạnh tranh công bằng. Như vậy, công chức ở Anh và Hoa Kỳ chỉ có ở trung ương, không có ở địa phương, là những người làm việc trong ngành hành pháp, không có trong ngành lập pháp và tư pháp.
- Khác với Anh và Hoa Kỳ, Nước Pháp, công chức được dùng để gọi các viên chức nhà nước chính ngạch, được tuyển dụng, đề bạt vào một công việc thường xuyên (trong dự kiến ngân sách), được phân bổ vào một ngạch, bậc nhất định trong thứ bậc hành chính của nhà nước, vùng, tỉnh, xã và công sở tự quản, kể cả các cơ sở y tế. Giống như Pháp, ở một số nước như Nga, Trung Quốc, Ba Lan, Hung-ga-ri. Công chức không chỉ là những người thực hiện các hoạt động chuyên môn nghiệp vụ quản lý trong bộ máy hành chính của các bộ (trung ương) mà còn bao gồm cả những người làm công tác chuyên môn nghiệp vụ quản lý trong bộ máy hành chính thuộc chính quyền của các địa phương. 14 e - Khác với các quan niệm đã nêu trên, một số nước xác định phạm vi công chức bao gồm cả những người thực thi công vụ tại các tổ chức cung ứng dịch vụ công hoặc cả ngành lập pháp, tư pháp (Đức, Hà Lan, Tây Ban Nha.
Đối với Việt Nam, theo Luật Cán bộ, Công chức năm 2008, công chức được định nghĩa: “Công chức là công dân Việt Nam, được tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội ở trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện. Công chức được xác định là người trong biên chế và được hưởng lương từ ngân sách nhà nước; đối với công chức trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập thì lương được bảo đảm từ quỹ lương của đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định của pháp luật. Theo định nghĩa này thì tiêu chí để xác định công chức gắn với cơ chế tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh. Những người đủ các tiêu chí chung của công chức mà được tuyển vào làm việc trong các cơ quan, đơn vị của Đảng, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội, bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập thông qua quy chế tuyển dụng (thi tuyển, xét tuyển), bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh thì được xác định là công chức.
Công chức là những người được tuyển dụng lâu dài, hoạt động của họ gắn với quyền lực công (hoặc quyền hạn hành chính nhất định) được cơ quan có thẩm quyền trao cho và chịu trách nhiệm trước cơ quan, tổ chức có thẩm quyền về việc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn được giao. Việc quy định công chức trong phạm vi như vậy xuất phát từ mối quan hệ liên thông giữa các cơ quan của Đảng, Nhà nước và tổ chức chính trị - xã hội trong hệ thống chính trị. Đây là điểm đặc thù của Việt Nam, rất khác so với một số nước trên thế giới nhưng lại hoàn toàn phù hợp với điều kiện cụ thể và thể chế chính trị ở Việt Nam. Tuy nhiên, luận văn này không nghiên cứu đối tượng công chức trong tổ chức chính trị, chính trị- xã hội.
15 e Với các quan niệm trên cho thấy vẫn còn nhiều quan niệm khác nhau về công chức. Sự khác nhau này bắt nguồn từ nhiều nguyên nhân khác nhau như: lịch sử sự tồn tại và phát triển của nền hành chính quốc gia; điều kiện kinh tế - xã hội mà trên đó pháp luật được hình thành; quan điểm của các nhà lập pháp trong việc đánh giá sử dụng các thành tựu của khoa học pháp lý. Tuy nhiên, nhìn chung công chức ở các nước đều có một số dấu hiệu nhận biết chung, đó là: công dân của nước đó, được tuyển dụng bởi Nhà nước, được trả lương từ ngân sách Nhà nước, làm việc trong các cơ quan của Nhà nước, được điều chỉnh bởi luật riêng về công chức. Từ những phân tích trên đây có thể hiểu công chức cơ quan chuyên môn tỉnh là một bộ phận của công chức hành chính Nhà nước, được tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh trong cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân tỉnh.
Thực hiện những nhiệm vụ và có quyền hạn nhất định để giúp Ủy ban nhân dân tỉnh thực hiện các nhiệm vụ của mình.2 Lãnh đạo quản lý Trên thực tế, các nhà nghiên cứu chưa thống nhất được về một định nghĩa rõ ràng, rành mạch cho hai khái niệm lãnh đạo và quản lý. Ranh giới để nhận biết ai là lãnh đạo, ai là quản lý của một tổ chức nói chung là khó rạch ròi. Trong nhiều trường hợp, chức năng, nhiệm vụ của người lãnh đạo, quản lý trùng lặp nhau, thâm nhập vào nhau. Sự phân loại hai khái niệm này chỉ mang tính tương đối.
Theo Đại từ điển Tiếng Việt: Lãnh đạo là dẫn dắt tổ chức phong trào theo đường lối cụ thể, là đề ra chủ trương và tổ chức động viên thực hiện; còn quản lý là tổ chức và điều khiển các hoạt động theo các yêu cầu đã đề ra [48, tr 979]. Với quan niệm như vậy có thể hiểu lãnh đạo quyết định về đường lối, sách lược gắn với những vấn đề mang tính tổng quát, còn quản lý là tổ chức thực hiện, xử lý, giải quyết những vấn đề thực tế đặt ra. Lãnh đạo là quá trình 16 e tạo ảnh hưởng và tác động tới con người và tổ chức; là đưa ra những chủ trương, phương hướng phát triển tổ chức; nhằm thực hiện mục tiêu chính trị - kinh tế - xã hội đặt ra trong từng giai đoạn , phù hợp với yêu cầu và điều kiện trong từng giai đoạn phát triển của xã hội.