Chương 1: Những vấn đề chung Trình bày lý thuyết về biểu tượng để làm cơ sở lý luận chung cho toàn luận văn. Từ đó, chúng tôi sẽ đi tìm hiểu khái quát về vấn đề sử dụng biểu tượng trong văn học cổ - trung đại Trung Quốc. Chương 2: Biểu tượng vườn trong Hồng lâu mộng Tìm hiểu ý nghĩa của biểu tượng vườn trong văn hóa thế giới, trong văn hóa – văn học Trung Quốc, phương thức xây dựng biểu tượng của Tào Tuyết Cần cũng như những tiếp thu, sáng tạo khi viết về biểu tượng của nhà văn so với ý nghĩa của biểu tượng vườn truyền thống. Chương 3: Biểu tượng nước trong Hồng lâu mộng Tìm hiểu ý nghĩa của biểu tượng nước trong văn hóa thế giới, trong văn hóa – văn học Trung Quốc cũng như sự tiếp nhận, sáng tạo ý nghĩa biểu tượng của Tào Tuyết Cần trong việc thể hiện quan niệm thẩm mỹ và nội dung của tác phẩm.
NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG 1. Biểu tượng – vấn đề thuật ngữ 1. Khái niệm biểu tượng Vấn đề khái niệm biểu tượng hiện nay rất phức tạp, chưa có sự thống nhất giữa các ngành khoa học và các lĩnh vực. Bởi vậy, trong luận văn này, chúng tôi chỉ đi vào nắm bắt, khái quát tinh thần cơ bản của một số quan niệm xung quanh thuật ngữ biểu tượng.
Từ tượng trưng (symbole) bắt nguồn từ tiếng Hy Lạp sumballein có nghĩa là nối lại với nhau. Quá trình hình thành của biểu tượng xuất phát từ thực tiễn đời sống. Nếu trong tiếng Việt, biểu tượng là một từ gốc Hán được dùng lẫn lộn với hình tượng và ký hiệu (với ba nghĩa: 1- hình ảnh tượng trưng; 2- “hình thức của nhận thức, cao hơn cảm giác, cho ta hình ảnh của sự vật còn lưu giữ lại trong đầu óc sau khi tác động của sự vật vào giác quan của ta đã chấm dứt” [34, tr.99]; 3- ký hiệu bằng hình, đồ họa trên máy tính) thì đối với nhiều ngành khoa học, nó là một thuật ngữ được sử dụng với những nội hàm khác nhau: Trong phạm vi tâm lý học, biểu tượng được xem như những hình ảnh cụ thể, trực quan, là “hình ảnh của vật thể, bối cảnh và sự kiện xuất hiện trên cơ sở nhớ lại hay tưởng tượng” [10, tr. Đi từ nền tảng tâm lý, biểu tượng trở thành đối tượng nghiên cứu của hầu hết các ngành khoa học xã hội.
Phân tâm học trong nghiên cứu biểu tượng có được nhiều thành tựu đáng kể. Freud, thuật ngữ biểu tượng (symbole) chỉ sản phẩm của vô thức cá nhân bao gồm những hình ảnh, sự vật, hiện tượng có khả năng “diễn đạt một cách gián tiếp, bóng gió và ít nhiều khó nhận ra, niềm ham muốn hay các xung đột” [60, tr. Và như vậy, S. Freud đã quá tập trung vào lĩnh vực bản năng vô thức, đánh đồng toàn bộ hình ảnh xuất hiện trong giấc mơ với biểu tượng.
Jung cũng thừa nhận quá trình hình thành biểu tượng gắn liền với cái vô thức mà cụ thể hơn là vô thức cá nhân nhưng ông lại lý giải sự hình thành biểu tượng khác với sự luận giải dựa trên dục năng libido của Freud. Jung, biểu tượng được hình thành dựa trên “những dấu vết cổ xưa” hay từ vô thức tập thể. Quan điểm của C. Jung về biểu tượng gắn với ký ức nhân loại và cho thấy có mối liên hệ giữa biểu tượng và mẫu gốc.
Mẫu gốc là những tín hiệu xuất hiện sớm nhất (để lại dấu ấn trong tín ngưỡng, văn hóa dân gian: lễ hội, thần thoại, truyền thuyết,…), mang tính phổ quát, còn có khả năng sản sinh ra các hệ biểu tượng văn hóa: mặt trời, hành xác, hiến tế,… Jung đã trình bày một cách rốt ráo về mẫu gốc (cổ mẫu). Theo ông, “các mẫu gốc giống như những nguyên mẫu của các tập hợp biểu tượng ăn sâu vào vô thức đến nỗi chúng trở thành như một cấu trúc” [60, tr. Mẫu gốc gần như là hằng số chung cho cơ cấu tinh thần. Đó là tiếng nói của giống nòi, của tổ tiên khi đứng trước tự nhiên và trong mối liên hệ với tự nhiên.
Cơ sở để hình thành và khởi đi của các mẫu gốc là vô thức tập thể (tức ký ức nguyên thủy của nhân loại).Jung, mẫu gốc là yếu tố sản sinh ra các hệ biểu tượng trong một nền văn hóa, một cộng đồng. Khi khuynh hướng vận hành của phản ứng tinh thần tác động vào phạm vi vô thức cá nhân thì nó được biểu lộ qua các biểu tượng. Biểu tượng của mẫu gốc là những biểu lộ bằng hình ảnh tinh thần đặc biệt được nhận thức bởi ý thức và rất khác nhau đối với mỗi mẫu gốc riêng biệt. Những khía cạnh khác biệt của cùng một mẫu gốc này lại được biểu hiện qua nhiều hình ảnh khác nhau.
Mẫu gốc là khuynh hướng tạo ra những biểu tượng trong môi trường vô thức cá nhân. Những biểu tượng của cùng mẫu gốc đã vô cùng khác nhau, nhưng đến lượt mình, biểu tượng lại được biểu lộ bằng nhiều hình ảnh tinh thần mà ý thức có thể nắm bắt được. Bởi vậy, biểu tượng không chỉ là hình ảnh trong mơ, mang hàm ý tính dục và tuân thủ nguyên tắc thỏa mãn đơn thuần (theo quan điểm của Freud); mà hơn 12 thế, nó còn là sự tái sinh và biểu hiện những dấu vết trí tuệ của tổ tiên được hình thành trong suốt chiều dài lịch sử giống nòi. Song song với điều đó, bằng ý thức sáng tạo và tài năng của mình, người nghệ sỹ sẽ luôn làm phong phú thêm nghĩa của biểu tượng.
Mặt khác, khi nghiên cứu vấn đề biểu tượng trong lĩnh vực tâm lý và nghệ thuật, hai nhà phân tâm học trên đều khẳng định: trong mối quan hệ giữa cái biểu trưng (mặt hình thức của cảm tính) và cái được biểu trưng (mặt ý nghĩa, phi trực quan) thì cái được biểu trưng bao giờ cũng là cái vô thức. Do đó, bình diện cái biểu trưng là rõ ràng, có thể nắm bắt được, còn bình diện cái được biểu trưng luôn biến đổi. Với triết học, biểu tượng là “hình ảnh trực quan - cảm tính, khái quát về các sự vật và hiện tượng của hiện thực, được giữ lại và tái tạo trong ý thức và không có sự tác động trực tiếp của bản thân các sự vật hiện tượng đến giác quan” [52, tr. Có hai điểm cần chú ý ở đây: là hình thức phản ánh cảm tính, được giữ lại và tái tạo.
Điều đó có nghĩa là biểu tượng như một hạt mầm không ngừng nảy nở, xác lập và tái tạo lại nó để bản thân nó có thể chứa đựng một lượng ý nghĩa năng động. Theo Từ điển bách khoa văn hóa học, “biểu tượng – một loại ký hiệu đặc biệt, thể hiện nội dung thực tế của một điều nào đó. Biểu tượng văn hóa khác ký hiệu thông thường ở chỗ chứa đựng mối liên hệ tâm lý và tồn tại mà nó biểu trưng” [67; tr. Các nhà nghiên cứu văn hóa đều có xu hướng xem xét biểu tượng trong mối quan hệ mang tính chất hai chiều giữa thế giới của đời sống tâm lý cá nhân và đời sống tâm linh của cộng đồng.
Tách khỏi mối quan hệ đó, biểu tượng không còn tồn tại với những năng lực mang ý nghĩa giàu có, tiềm tàng của nó nữa. Đối với văn học, biểu tượng còn được gọi là tượng trưng. Theo nghĩa rộng, “biểu tượng là đặc trưng phản ánh cuộc sống bằng hình tượng của văn học nghệ thuật” [18, tr. Còn theo nghĩa hẹp, “biểu tượng là một phương 13 thức chuyển nghĩa của lời nói hoặc một vài hình tượng nghệ thuật đặc biệt có khả năng truyền cảm lớn, vừa khái quát được bản chất của một hiện tượng nào đấy, vừa thể hiện một quan niệm, một tư tưởng hay một triết lý sâu xa về con người và cuộc đời”[18, tr.
Trên đây là một số cách hiểu xoay quanh khái niệm biểu tượng. Mặc dù quan niệm không hoàn toàn giống nhau nhưng các lĩnh vực, các tác giả đều có sự gặp gỡ về một số đặc trưng của biểu tượng: 1- biểu tượng vừa là hình thức phản ánh cảm tính của cá nhân, vừa mang nội dung xã hội; 2- biểu tượng là một yếu tố tất yếu của ý thức; 3- biểu tượng gồm hai mặt: cái biểu trưng và cái được biểu trưng. Trong khuôn khổ của luận văn, chúng tôi tiếp thu quan điểm của C. Jung về biểu tượng.
Theo chúng tôi, đó là những kiến giải đầy đủ nhất về nguồn gốc, nội hàm cũng như bản chất của thuật ngữ này: biểu tượng của một nền văn hóa, một cộng đồng được sản sinh dựa trên cơ sở của mẫu gốc; nó luôn được tái sinh để biểu hiện những dấu vết trí tuệ của tổ tiên; vai trò sáng tạo độc lập của người nghệ sỹ là đặc biệt quan trọng trong quá trình làm phong phú thêm nghĩa của biểu tượng; biểu tượng gồm hai mặt: cái biểu trưng (mặt hình thức của cảm tính, là cái vô thức - luôn rõ ràng, có thể nắm bắt được) và cái được biểu trưng (mặt ý nghĩa, phi trực quan - luôn biến đổi). Những cách hiểu về biểu tượng ở trên đều có nguồn gốc từ phương Tây. Với Trung Quốc, các nhà lý luận văn học không đưa ra được một khái niệm chặt chẽ về biểu tượng cũng như xây dựng nó thành một hệ thống lý thuyết hoàn chỉnh như vậy nhưng họ cũng có từ ngữ khác tương đương với nội hàm của thuật ngữ này dưới tên gọi “tượng trưng”. Theo họ, tượng trưng là “mượn một hình tượng cụ thể nhất định nào đó để biểu hiện một ý nghĩa đặc biệt nào đó hoặc ám chỉ một sự vật nào đó” [19, tr.
Xét cho cùng, tuy không hoàn toàn đồng nhất, trùng khít về câu chữ nhưng cách “mượn một hình tượng cụ thể” để “biểu hiện một ý nghĩa” của lý luận văn học Trung Hoa chính là nói 14 về quan hệ giữa cái biểu trưng và cái được biểu trưng mà phương Tây đề cập tới trong nội hàm của hai chữ “biểu tượng”. Đặc trưng của biểu tượng Tính có lý do: Cái được biểu trưng (biểu đạt) của biểu tượng chỉ nảy sinh trên cơ sở những đặc điểm bản thể của cái biểu trưng. Các ý nghĩa biểu trưng của biểu tượng là có thể lý giải được chứ không phải là sự quy ước tùy tiện. Tính khả biến – chính là khả năng biến đổi ý nghĩa, sức sản sinh dồi dào của cái được biểu đạt từ một cái biểu đạt.
Tính khả biến của biểu tượng nghĩa là sự không ổn định, biến đổi theo môi trường, thời kỳ, cá nhân, cộng đồng dân tộc… Đó là khả năng chuyển dịch liên tục, tái sinh liên hồi từ cái biểu đạt đến cái được biểu đạt.