Chương 1 KHÁI QUÁT CHUNG VỀ BẢO ĐẢM QUYỀN CỦA LAO ĐỘNG NỮ VÀ PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỀ BẢO ĐẢM QUYỀN CỦA LAO ĐỘNG NỮ 1. Khái quát chung về bảo đảm quyền của lao động nữ 1. Khái niệm về quyền của người lao động nữ Hiện nay, nữ giới tham gia vào lực lượng lao động ngày càng nhiều và cũng có thể tham gia vào nhiều lĩnh vực công việc như nam giới. Chúng ta có thể hiểu cơ bản rằng LĐN là người có khả năng lao động và có giới tính nữ, có từ đủ 15 tuổi trở lên, được nhận làm việc theo Hợp đồng lao động (HĐLĐ),được tuyển dụng hợp pháp và được trả lương cũng như chịu sự quản lý từ người sử dụng lao động(NSDLĐ).
Trong hệ thống các quyền của con người thì quyền của LĐN được coi như là một bộ phận có vai trò quan trọng được thừa nhận thành một giá trị của xã hội.Nhiều văn kiện, công ước, văn bản pháp luật quốc tế đã ra đời và xác địnhbảo vệ quyền con người nói chung và quyền của NLĐ nữ nói riêng, qua đó đề cao quyền của phụ nữ, coi đó như là một trách nhiệm của văn minh thế giới. Đại hội đồng Liên Hợp Quốc năm 1948 đã công bố bản “Tuyên ngôn quốc tế về quyền con người” như một tiêu chuẩn cho tất cả các dân tộc và quốc gia, mỗi cá nhân và xã hội luôn tôn trọngvăn phạm nàyvàcác quyền tự do này. Bằng học vấn và giáo dục cũng như bằng nhiều những biện pháp khác nhau trên toàn quốc gia và quốc tế, bản tuyên ngôn này đã ghi nhận các quyền cơ bản để tôn trọng quyền tự do cũng như quyền bình đẳng của cả hai giới nam và nữ. Cụ thể như Điều 23-24 thì quyền con người trong pháp luật lao động bao gồm: quyền được làm việc,quyền được tự do lựa chọn việc làm, quyền được hưởng những điều kiện làm việc công bằng và thuận lợi, quyền được bảo vệ chống thất nghiệp, quyền được trả lương ngang nhau; quyền không bị phân biệt đối xử, quyền được trả lương xứng đáng với khả năng lao động…quyền thành lập nghiệp đoàn, gia nhập nghiệp đoàn, nhằm bảo vệ quyền lợi của họ, quyền nghỉ ngơi và giải trí, được hưởng sự hạn định hợp lý số giờ làm việc và những ngày nghỉ định kỳ có lương.
Năm 1979, công ước của Liên hợp quốc về xóa bỏ tất cả các hình thức phân biệt đối xử chống lại phụ nữ được gọi tắt là công ước CEDAW ra đời (tên tiếng anh 5 là Convention on the Elimination of all forms of Discrimination against Women). Đây là văn kiện quốc tế mà có tính chất ràng buộc pháp lý đầu tiên với nội dung chính là xây dựng một chương trình hành động để thúc đẩy quyền bình đẳng của phụ nữ và đồng thời bàn đếnviệc ngăn chặn sự phân biệt đối xử với họ, đây là văn bản pháp luật điển hình nhất về việc bảo đảm quyền LĐN. Nếu như các văn kiện trước đó chỉ mới đề cập đến sự bất bình đẳng nam nữ một cách chung chung thì CEDAW đã chỉ ra những lĩnh vực bị phân biệt, đối xử nặng nề như hôn nhân gia đình, lao động việc làm, đời sống chính trị.Những vấn đề có tính chất toàn cầu như phụ nữ cần thực sự bình đẳng với nam giới để họ thực hiện quyền con người, cần có mục tiêu, cách thức, biện pháp đặc thù để áp dụng những nguyên tắc của nhân quyền trong việc bảo đảm bình đẳng giới. Khái niệm bảo đảm quyền của lao động nữ Quyền của LĐN là một bộ phận có vai trò quan trọng trong hệ thống các quyền cơ bản của con người.
Vì vậy mà việc hiểu rõ khái niệm về bảo đảm quyền của lao động nữ là rất đứng đắn và cần thiết. Ta có thể hiểu việc bảo đảm quyền của LĐN là việc hiện thực hoá các quyền của LĐN. Bảo đảm quyền của LĐN có thể bao gồm bảo đảm về các lĩnh vực nhưlà bảo đảm về pháp lý, bảo đảm về kinh tế, bảo đảm vềchính trị và bảo đảm về xã hội- văn hoá. Ở trong luận văn này, thuật ngữ bảo đảm ở đây được nghiên cứu dưới góc độ là bảo đảm về pháp lý.
Theo đó, bảo đảm (pháp lý) quyền của LĐN bao gồm: (1) Việc ghi nhận bằng pháp luật quyền của LĐN; (2) Xây dựng hệ thống các cơ quan, tổ chức có nhiệm vụ đảm bảo thực hiện quyền của LĐN; (3) Có các biện pháp bảo đảm quyền của LĐN khi các quyền đó bị vi phạm. Pháp luật Việt Nam về bảo đảm quyền của lao động nữ 1. Sự cần thiết điều chỉnh về nhận thức bảo đảm quyền của lao động nữ Với vai trò to lớn của mình, LĐN đã có những đóng góp quan trọng đối với sự phát triển kinh tế, xã hội cũng như góp phần làm phong phú cuộc sống con người, họ luôn thể hiện vai trò không thể thiếu của mình trong các lĩnh vực đời sống xã hội, nhất là trong lĩnh vực hoạt động vật chất, LĐN là lực lượng trực tiếp sản xuất ra của cải để nuôi sống con người, còn phải đảm nhận chức năng làm mẹ để duy trì và phát triển 6 xã hội. nên có những đặc điểm riêng về sức khỏe, tâm sinh lý, do đó việc bảo đảm quyền của LĐN là rất cần thiết để được điều chỉnhhoàn thiện hơn.
Một số bộ phận LĐN đã tiếp thu những luồng tư tưởng mới và thích ứng được guồng phát triển hiện đại hóa của xã hội hiện nay nhưng ở đâu đó vẫn còn một bộ phận người nữ vẫn chịu ảnh hưởng của truyền thống và vẫn có quan điểm nặng nề trong tâm lý rằng người phụ nữ luôn luôn phải bị sống phụ thuộc vào đàn ông. Nhưng hầu như vị thế của LĐN ngày nay đã được coi trọng và thừa nhận, thực tế cho thấy LĐN hoàn toàn có thể làm các công việc như nam giới, có khi họ còn làm tốt hơn. So với lao động nam thì LĐN thường gặp nhiều trở ngại về thể lực yếu hơn, điều này vô tình hạn chế quyền được tham gia lao động bình đẳng với người lao động (NLĐ) là giới tính nam. Nhưng sự khéo léo kiên nhẫn của LĐN lại có hơn so với NLĐ nam.
Tuy quyền bình đẳng giữa hai giới đã được quan tâm nhưng quan niệm của NSDLĐ chủ yếu cho rằng nam giới có khả năng làm việc nhanh hơn nữ giới. LĐN thường tự tin năng động và có trình độ học vấn hơn ở thành phố do có điều kiện được làm việc tại những môi trường năng động phát triển; còn tại những nơi kinh tế chậm phát triển, LĐN vẫn thiếu kiến thức thông tin và lựa chọn nghề nghiệp vì thế không hợp lý. Vì vậy cần phải đổi mới tư duy, học vấn, và rất cần thiết phải giáo dục đầy đủ pháp luật, tuyên truyền về bình đẳng để LĐN có tư duy khác hơn, để họ phải nhìn nhận ra giá trị bản thân, khẳng định năng lực của họ, đồng thời thúc đẩy sự phát triển của cả xã hội đất nước. Nói đến thể lực và tâm sinh lý khác nhau của LĐN so với NLĐ nam đã hạn chế sự lựa chọn việc làm trong những một vài ngành lao động tuy có thu nhập cao nhưng lại cần nhiều sức khỏe và gan dạ chịu đựng.
Hơn nữa việc thực hiện việc làm mẹ, nghỉ sinh, chăm con nhỏ ốm đau làmbất ổn định cả một quá trình làm việc sản xuất, do đó NSDLĐ có xu hướng ít cần tuyển dụng đếnLĐN. Vì vậy vấn đề tìm kiếm việc làm của LĐNhầu như sẽ khó hơn NLĐ nam. Với nền kinh tế xã hội đang ngày một phát triển nhanh hơn, LĐNđã bồi dưỡng kiến thức và trình độ để đóng góp vào sự phát triển ấy của đất nước. Tuy nhiênLĐN 7 vẫn bị hạn chế trong một số lĩnh vực, chủ yếu được tham gia vào các công việc mang tính truyền thống chẳng hạn như dệt may xuất khẩu, làm da giày, dịch vụ, nông sản… Vì những bất cập không đáng có như vậy gây ra cản trở LĐN trong việc giải phóng bản thân mình, đóng góp năng lực công sức vào xã hội.
Vì vậy, cần điều chỉnh sự nhận thức về pháp luật để bảo đảm quyền của LĐN để đảm bảo sự bình đẳng và hợp lý cho họ. Nội dung pháp luật Việt Nam về bảo đảm quyền của LĐN 1.1 Pháp luật ghi nhận các quyền của LĐN Pháp luật ghi nhận và bảo vệ NLĐ với tư cách là bảo vệ quyền con người trong lĩnh vực lao động. Điều này không chỉ nhằm mục đích bảo vệ sức lao động, bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng của NLĐ mà còn phải bảo vệ cho họ trên nhiều phương diện: việc làm, nghề nghiệp, thu nhập, tính mạng, danh dự, nhân phẩm, nhu cầu nghỉ ngơi, liên kết và phát triển trong môi trường xã hội lành mạnh và phát triển…LĐN ngoài việc có đầy đủ các quyền con người, quyền công dân trong đó có quyền lao động và được bảo vệ, bảo đảm cuộc sống khi tham gia quan hệ lao động thì còn có những quyền đặc trưng riêng: *Quyền được bình đẳng về cơ hội làm việc, thu nhập, không bị phân biệt đối xử của lao động nữ Bình đẳng về việc làm làLĐN có cơ hội để được NSDLĐ tuyển dụng và đào tạo việc làm ngang như lao động nam. Sự cần thiết đối với việc quy định quyền bình đẳng việc làm nhằm mục đích chính là đảm bảo quyền lợi cho LĐN tránh bị phân biệt đối xử bóc lột sức lao động của họ.Tại Điều 23 của Tuyên ngôn toàn thế giới về nhân quyền(1948) ghi nhận rằng “Mọi người đều có quyền làm việc và tự do lựa chọn việc làm”hay trong Điều 6 Công ước quốc tế (1966) cũng đưa ra quyền có việc làm, quyền tự do lựa chọn cũng như quyền chấp nhận việc làm.
Tại Điều 5 trong BLLĐ (2012) quy định quyền “làm việc, tự do lựa chọn nghề nghiệp, học nghề, nâng cao trình độ, không bị phân biệt đối xử”. Vì vậy nhìn theo bối cảnh của LĐN nói riêng và NLĐ nói chung thì tùy vào sức khỏe hoàn cảnh lẫn trình độ chuyên môn mà họ sẽ có quyền lựa chọn công việc hợp lý. Hiến pháp bảo đảm quyền tự do làm việc cho mọi công dân, theo quy định tại Điều 33 của Hiến pháp 2013: “Mọi người đều có quyền 8 tự do kinh doanh theo những nghành nghề mà pháp luật không cấm”. Có thể thấy nữ giới hay nam giới đều có quyền tự do kinh doanh trong các lĩnh vực và ngành nghề mà pháp luật không cấm.
Hiến pháp 2013 bảo vệ quyền của người dân cũng như quyền bình đẳng trong việc lựa chọn nghề nghiệp, việc làm và nơi làm việc.