Đặt vấn đề Chăn nuôi chim cút ở nước ta đang chiếm một vị trí quan trọng trong chương trình cung cấp thực phẩm cho cộng đồng. Những thành tựu khoa học tiên tiến, công nghệ mới trong tiến trình hội nhập, phát triển đã và đang không ngừng được chăn nuôi áp dụng để tạo ra lượng lớn thực phẩm chất lượng cao đáp ứng yêu cầu sản xuất. Tuy nhiên, sản lượng thịt và trứng tính theo bình quân đầu người ở nước ta còn ở mức thấp hơn rất nhiều so với các nước phát triển. Vì vậy, trong chăn nuôi chim cút, công tác chọn tạo giống có tốc độ tăng trưởng nhanh, tiêu tốn thức ăn/tăng khối lượng thấp, chất lượng thịt thơm ngon, chắc thịt là rất cần thiết giúp một phần không nhỏ cho việc đẩy nhanh sản phẩm thịt trong tiêu dùng.
Một trong những điều kiện cơ bản có tính bắt buộc để đáp ứng được với thị hiếu của người tiêu dùng là phải nuôi bằng thức ăn có chất lượng tốt, sử dụng các nguyên liệu có nguồn gốc thực vật, đảm bảo không dùng hóa chất, các chất kích thích tăng trọng và các loại kháng sinh…dẫn đến tồn dư độc tố trong sản phẩm chăn nuôi. Hiện nay, các nhà nghiên cứu về dinh dưỡng trên thế giới và cả ở Việt Nam đã có nhiều công trình nghiên cứu về các sản phẩm từ thực vật để bổ sung vào thức ăn công nghiệp cho chim cút như: bột cây họ đậu, bột cỏ stylo, bột lá cây keo giậu hay bột lá sắn…các sản phẩm chế biến từ bột cỏ trong chăn nuôi không chỉ cung cấp một lượng protein nhất định, mà còn bổ sung cả carotenoid cho gia cầm nói chung và chim cút nói riêng, làm cải thiện chất lượng thịt của chim cút nuôi hoàn toàn bằng thức ăn hỗn hợp đã được chế biến sẵn. Tuy nhiên, vấn đề nghiên cứu ảnh hưởng của bột lá trên cùng một giống chim cút còn chưa được nghiên cứu. Xuất phát từ thực tế trên, chúng tôi tiến n 2 hành thực hiện đề tài: "Ảnh hưởng của bột lá sắn đến khả năng sinh trưởng của chim cút nuôi tại trại gia cầm trường Đại học Nông lâm Thái Nguyên".
Mục đích đề tài - Xác định ảnh hưởng của bột lá sắn trong khẩu phần ăn đến khả năng sinh trưởng của chim cút. - Biết được bột lá sắn có ảnh hưởng đến khả năng sinh trưởng, năng suất và chất lượng chim cút thịt, từ đó có cơ sở khoa học để khuyến cáo trong sản xuất. Ý nghĩa của đề tài 1. Ý nghĩa khoa học - Kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ cung cấp cho khoa học thức ăn và dinh dưỡng chim cút những thông tin cơ bản về việc sử dụng bột lá sắn trong chăn nuôi chim cút thịt.
Ý nghĩa thực tiễn - Bổ sung bột lá sắn vào công thức thức ăn hỗn hợp nâng cao khả năng sinh trưởng của chim cút từ đó nâng cao hiệu quả chăn nuôi chim cút thịt. n 3 Phần 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2. Giới thiệu chung về cây sắn 2. Tên gọi Cây sắn thuộc giới Plantae, bộ Malpighiales, họ Euphorbiaceae, phân họ Crtonoideae, tông Manihoteae, chi Manihot, loài M.
Cây sắn có tên khoa học là Manihot Esculenta Crantz, sắn còn có một số tên khác là cassava, manioc, tapioca, maniva cassava,… ở Việt Nam cây sắn còn được gọi là cây khoai mì, cây củ mì, sắn tầu,… 2. Nguồn gốc Cây sắn có nguồn gốc ở vùng nhiệt đới của châu Mỹ La tinh và được trồng cách đây khoảng 5. Trung tâm phát sinh cây sắn được giả thiết tại vùng Đông Bắc của nước Brazin thuộc lưu vực sông Amazon, nơi có nhiều chủng loại sắn trồng và hoang dại (theo Reiche Dolmatoff 1957, 1965; Rouse và Crusent, 1963), (trích Trần Ngọc Ngoạn (2007) [14]). Cây sắn được du nhập vào Việt Nam khoảng giữa thế kỷ 18, (Trần Đình Miên, Nguyễn Kim Đường, 1992) [10], hiện chưa có tài liệu chắc chắn về nơi trồng và năm trồng đầu tiên.
Năng suất và sản lượng lá sắn Từ lâu lá sắn đã được coi là một nguồn rau xanh cho người và gia súc. Việc trồng sắn thu lá cũng có nhiều hứa hẹn, cũng có thể thu được 30 tấn lá tươi và sản xuất được trên dưới 8 tấn bột lá/ha/năm. Mật độ hay khoảng cách trồng sắn có ảnh hưởng rất lớn đến năng suất cũng như chất lượng của lá sắn. Điều này đã được rất nhiều tác giả tiến hành nghiên cứu.
n 4 Theo dõi năng suất lá sắn trong hai năm (2009 - 2010) ở những khoảng cách trồng khác nhau; (1,0 m x 0,4 m), (0,8 m x 0,4 m) và (0,6 m x 0,4m), mỗi năm thu hoạch được 3 lứa. Năng suất lá sắn năm 1 cao hơn năm 2 ở tất cả các lứa (trừ lứa 2 ở mật độ trồng 0,6 m x 0,4 m). Năng suất lá sắn đạt trung bình cao nhất ở khoảng cách trồng (0,8 m x 0,4 m) là 52,66 tạ/ha/lứa, của khoảng cách trồng (0,6m x 0,4m) đứng hạng thứ hai, đạt 42,74 tạ/ha/lứa, khoảng cách trồng (1,0 m x 0,4 m) có năng suất thấp hơn cả đạt 41,11 tạ/ha/lứa (Trần Thị Hoan 2012) [6]. Wanapat (1997) [31] cho biết trồng sắn lấy lá với mật độ dày và thu hoạch lần đầu sau khi trồng 3 tháng còn thu các lần tiếp theo là 2 tháng/lần thì sản lượng vật chất khô có thể đạt 12,6 tấn/ha/năm.
Wanapat (2002) [32] khi thử nghiệm trồng 16 dòng sắn với mật độ 27.778 cây/ha để thu cắt lấy lá đã thu được sản lượng vật chất khô qua 3 lứa cắt từ 4,043 đến 7,768 tấn/ha/năm, còn khi trồng 25 dòng sắn khác với mật độ 111.111 cây/ha thì cho sản lượng vật chất khô dao động từ 2,651 đến 8,239 tấn/ha/năm. Theo Cadavid (2002) [22] thì trồng sắn CMC 92 lấy lá tại Colombia mật độ từ 20.000 cây/ha thì sản lượng chất khô thu được khoảng trên dưới 24 tấn/ha/năm. Cũng theo ông đối với giống CM4843 - 1 với mật độ 11.200 cây/ha ở vùng đất xám pha cát có thể thu 24,45 tấn vật chất khô/ha/năm (91,4 tấn tươi); giống sắn CM2758 với mật độ 11.200 cây/ha trong 2 năm có thể thu 83,01 tấn chất tươi/ha; giống CM 523 - 7 là 86,81 tấn chất tươi/ha. Giống MCol 2737 là 102,9 tấn/ha, trồng dòng HMC 1 với mật độ 31.250 cây/ha đạt 58,2 tấn chất tươi/ha/11 tháng.
Ông cũng kết luận trồng sắn lấy lá có thể trồng với mật độ từ 31.000 cây/ha với khoảng cách cắt là 3 tháng/lần, sản lượng lá thu được khoảng trên dưới 80 tấn/ha. Tuy n 5 nhiên, ở mật độ này thu hoạch rất khó khăn và cây thường bị tổn hại trong quá trình thu hoạch. Nên trồng với mật độ 31.250 cây/ha sẽ thuận lợi hơn. Cần lưu ý là sản lượng chất tươi nói trên bao gồm cả thân, cành, lá sắn.
Ở các thông báo khác; sản lượng lá sắn thấp hơn nhiều so với thông báo nêu trên là vì sản lượng này chỉ có riêng lá, không bao gồm thân, cành, ngọn và cuống lá sắn. Thành phần hóa học của lá sắn * Protein: Các kết quả nghiên cứu của Nguyễn Văn Thưởng và Sumilin (1992) [15], Từ Quang Hiển (1982) [3] cho biết thành phần hóa học của lá sắn tươi giống như một số loại rau xanh khác, đặc biệt ở trong lá sắn hàm lượng protein và caroten chiếm tỷ lệ rất cao, cho nên lá sắn đã được coi là một nguồn rau xanh cho người và gia súc. Theo Bùi Văn Chính và Lê Viết Ly (2001) [1] thì trong ngọn lá sắn tỷ lệ VCK chiếm 25,5%, năng lượng trao đổi là 2549 Kcal/kg VCK, còn theo tài liệu của Viện chăn nuôi (2001) [18] thì bột lá sắn có 89,60% VCK, 1966 Kcal/kg, tương ứng với 2194Kcal/kg VCK. Theo các tác giả trên và một số tác giả khác như Dương Thanh Liêm (1999) [8], Nguyễn Thị Hoa Lý (2008) [9] hàm lượng protein thô trong VCK của lá sắn tương đối cao, dao động từ 20-34,7%.
Còn theo Alhasan và cs (1982) (trích Nguyễn Nghi và cs, 1984 [11]) thì lá sắn giàu protein hơn so với củ sắn, hàm lượng protein trong lá sắn từ 23-32% trong VCK. Từ Quang Hiển và Phạm Sỹ Tiệp (1998) [5] cho biết protein trong lá của các giống sắn bản địa của Việt Nam dao động từ 24,06-29. Lá của các giống sắn trong nước có hàm lượng protein cao là Xanh Vĩnh Phú, sắn Dù, chuối trắng, KM 60, chuối đỏ, 205. Tuy nhiên, giống sắn và thời điểm thu lá khác nhau thì hàm lượng protein là khác nhau.
Tác giả cũng cho biết protein trong lá sắn cao hơn hẳn các loại cây thức ăn khác (hàm lượng protein trong VCK n 6 của cỏ hòa thảo là 12,60%, ngô 11,90%) nhưng thấp hơn so với đỗ tương (45,70%). Adrian và cs (1970) (trích theo Nguyễn Nghi, 1984 [11]) cho biết methionine thường là yếu tố hạn chế của bột lá sắn, trong khi đó hàm lượng lysine và arginine trong protein của lá sắn lại tương đối cao, tương ứng 4,45 và 4,35g/100g, nếu được bổ sung methionine sẽ làm cân đối hàm lượng axit amin trong hỗn hợp và làm tăng tỷ lệ tiêu hóa của thức ăn. Trong lá sắn hàm lượng axit amin cao hơn và cân đối hơn so với củ sắn. Tuy nhiên, yếu tố hạn chế vẫn là methionine và histidine, tương ứng là 1,99 và 1,14%, so với thang giá trị hóa học chỉ đạt -47,6 và -50,4% (Từ Quang Hiển và Phạm Sỹ Tiệp, 1998 [5]).
* Năng lượng trong bột lá sắn Theo Bùi Văn Chính và Lê Viết Ly (2001) [1] thì trong ngọn lá sắn tỷ lệ VCK chiếm 25,5%, năng lượng trao đổi là 2549 kcal/kg VCK, còn theo tài liệu của Viện chăn nuôi (2001) [18] thì bột lá sắn có 89,60% VCK, 1966 kcal/kg tương úng với 2194 kcal/kg VCK. Theo kết quả nghiên cứu của Nguyễn Nghi (1985) [12], Nguyễn Văn Thưởng và Sumilin (1992) [15], Từ Quang Hiển (1982) [3] thì năng lượng trao đổi trong lá sắn tính theo 1kg vật chất khô khoảng 2400 kcal. Từ lâu, lá sắn đã được coi là một nguồn thức ăn rau xanh cho người và gia súc. * Các khoáng chất Theo Nguyễn Khắc Khôi, 1982 [7]; Nguyễn Nghi, 1984 [11] thì hàm lượng Ca dao động từ 0,74 - 1,13%; P: 0,25 - 0,38%; K: 1,52 - 1,71%.
Đặc biệt hàm lượng Fe và Mn rất cao, tương ứng là 344,0 - 655,2mg trong 1kg chất khô. Theo Phạm Sỹ Tiệp (1999) [16] thì hàm lượng khoáng tổng số của các loại sắn Xanh Vĩnh Phú, Xanh Hà Bắc, Chuối vỏ đỏ, Chuối vỏ trắng, KM 60, Sắn dù. 205 thường từ 6,60 đến 7,80% trong VCK. Còn các giống sắn n 7 H34, 202 hàm lượng khoáng tổng số lần lượt là 5,62% và 5,80%.
Trong đó, hàm lượng Ca dao động từ 0,74 - 1,13%; P từ 0,25 - 0,38%; K từ 1,52 - 1. Đặc biệt hàm lượng Fe và Mn rất cao, tương ứng là 344,0 - 655,2mg trong 1kg chất khô.