phần mở đầu và kết luận, đề án được kết cấu theo 3 phần: PHẦN 1: CƠ SỞ XÂY DỰNG ĐỀ ÁN PHẦN 2: NỘI DUNG CỦA ĐỀ ÁN PHẦN 3: CÁC ĐỀ XUẤT VÀ KIẾN NGHỊ 6 PHẦN 1: CƠ SỞ XÂY DỰNG ĐỀ ÁN 1. Các khái niệm cơ bản 1. Người lao động Người lao động là danh từ chung dùng để nói đến những người làm công ăn lương bằng sức lao động hoặc trí óc làm ra các sản phẩm vật chất hoặc về tinh thần cho người khác. Tại Việt Nam, Khoản 1 Điều 3 Bộ Luật lao động năm 2019 định nghĩa “Người lao động là người từ đủ 15 tuổi trở lên, có khả năng lao động, làm việc theo hợp đồng lao động, được trả lương và chịu sự quản lý, điều hành của người sử dụng lao động”.
Người lao động làm việc trong nhiều lĩnh vực, ngành nghề khác nhau trong xã hội, phụ trách nhiều vị trí cũng như đảm nhiệm những chức vụ khác nhau trong một tổ chức, tựu chung lại người lao động được phân loại thành hai nhóm chính: (1) Lao động phổ thông: Công nhân, thợ, nông dân làm thuê (tá điền), người giúp việc; (2) Lao động trí thức: Nhân viên (công chức, viên chức, lao động hợp đồng), cán bộ. Động lực và động lực làm việc của người lao động * Động lực Có thể khái quát: Động lực là yếu tố bên trong của cá nhân mỗi người lao động. Đó chính là những hoạt động có tính chất khuyến khích động viên nhằm tác động vào nhu cầu của người lao động để tạo nên sự chuyển biến hành vi của họ hướng theo những mục tiêu mà doanh nghiệp mong muốn đạt được. Theo tác giả Nguyễn Ngọc Quân và Nguyễn Vân Điềm (2012) cho rằng: “Động lực lao động là sự khát khao và tự nguyện của người lao động để tăng cường nỗ lực nhằm hướng tới việc đạt mục tiêu của tổ chức”.
Theo Bùi Anh Tuấn và Phạm Thúy Hương (2011) trong cuốn Giáo trình hành vi tổ chức: “Động lực của người lao động là những nhân tố bên trong kích thích con người nỗ lực làm việc trong điều kiện cho phép tạo ra năng suất, hiệu quả cao. Như vậy mỗi lao động đảm nhiệm một công việc khác nhau có thể có động lực lao động khác nhau để làm việc tích cực hơn”. Như vậy có thể rút ra một cách hiểu chung nhất: Động lực là những mong muốn, khát khao của người lao động được kích thích để họ nỗ lực hoạt động nhằm đạt được mục tiêu nhất định của cá nhân và doanh nghiệp. * Động lực làm việc của người lao động Có nhiều cách hiểu về động lực nói chung và động lực làm việc nói riêng của con người.
Theo Maier và Lawler (1975), động lực là sự khao khát và tự nguyện của mỗi cá 7 nhân được kích thích bởi những công cụ phù hợp trong môi trường tổ chức, doanh nghiệp. Theo tác giả Bùi Anh Tuấn và Phạm Thủy Hương (2013) ,động lực làm việc của người lao động là những yếu tố bên trong kích thích con người nỗ lực làm việc trong điều kiện cho phép tạo ra năng suất, hiệu quả cao. Theo tác giả Mai Thanh Lan và Nguyễn Thị Minh Nhàn (2016): “Động lực làm việc là những mong muốn, khao khát của người lao động được kích thích để họ nỗ lực hoạt động nhằm đạt được những mục tiêu nhất định của cá nhân và tổ chức”. Động lực làm việc gắn liền với công việc, với tổ chức, doanh nghiệp.
Mỗi người lao động khi làm việc trong doanh nghiệp đều cần phải thực hiện những công việc nhất định. Nếu không có động lực, người lao động vẫn có thể hoàn thành công việc. Tuy nhiên, khi người lao động khao khát, mong muốn, tự nguyện làm việc thì sẽ dẫn tới năng suất, chất lượng và hiệu quả công việc cao hơn. Mỗi người lao động đảm nhiệm một công việc khác nhau có thể có động lực làm việc khác nhau để làm việc tích cực hơn.
Có thể rút ra một cách hiểu chung nhất về động lực làm việc: Động lực làm việc là những yếu tố bên trong kích thích con người tích cực làm việc trong điều kiện cho phép tạo ra năng suất, hiệu quả cao. Biểu hiện của động lực là sự sẵn sàng, nỗ lực, say mê làm việc nhằm đạt được mục tiêu của doanh nghiệp cũng như bản thân người lao động. Tạo động lực làm việc Vấn đề tạo động lực làm việc cho người lao động nói chung và cho người lao động trong doanh nghiệp nói riêng đã được nhiều nhà khoa học quan tâm nghiên cứu. Theo Nguyễn Hữu Lam (2006), tạo động lực làm việc là các biện pháp và cách ứng xử của tổ chức và của nhà quản lý nhằm tạo ra sự khao khát và tự nguyện của người lao động cố gắng phấn đấu để đạt được các mục tiêu của doanh nghiệp.
Theo tác giả Bùi Anh Tuấn và Phạm Thúy Hương (2013), tạo động lực làm việc được hiểu là hệ thống các chính sách, biện pháp, thủ thuật quản lý tác động đến người lao động nhằm làm cho người lao động có động lực trong công việc. Theo tác giả Mai Thanh Lan và Nguyễn Thị Minh Nhàn (2016), tạo động lực làm việc là quá trình xây dựng, triển khai thực hiện và đánh giá các chương trình, biện pháp tác động vào những mong muốn, khát khao của người lao động nhằm thúc đẩy họ làm việc để đạt được các mục tiêu của cá nhân và tổ chức, doanh nghiệp. Từ các khái niệm trên có thể hiểu rằng tạo động lực làm việc cho người lao động chính là việc các nhà quản trị vận dụng một hệ thống các chính sách, biện pháp, cách thức quản lý tác động tới người lao động nhằm làm cho người lao động có động lực trong công việc, thúc đẩy họ hài lòng hơn với công việc và mong muốn được đóng góp 8 cho tổ chức, doanh nghiệp. Nội dung tạo động lực làm việc cho người lao động trong doanh nghiệp 1.
Xác định và phân loại nhu cầu của người lao động a. Xác định nhu cầu của người lao động Việc xác định nhu cầu luôn cần thiết vì nhu cầu của con người luôn có chiều hướng thay đổi theo nhiều yếu tố chủ quan và khách quan khác nhau. Ở mỗi giới tính, tuổi tác, vị trí, trình độ chuyên môn khác nhau sẽ khác nhau về nhu cầu cũng như mong muốn đối với công việc của mỗi người lao động. Khi người lao động có sự thay đổi về nhu cầu nhưng doanh nghiệp không có sự thay đổi đáp ứng phù hợp thì sẽ dẫn đến sự không có động lực làm việc ở người lao động.
- Căn cứ xác định nhu cầu của người lao động dựa vào các yếu tố sau: Yếu tố từ người lao động: Để nắm rõ được người lao động có được thỏa mãn các nhu cầu hay không thì ta cần phải xác định rõ được năng lực chuyên môn của người lao động trong doanh nghiệp mình. Những người có năng lực chuyên môn tốt thường hay có xu hướng, mong muốn được thể hiện bản thân, cơ hội thăng tiến cao trong công việc. Thái độ của người lao động đối với công việc: là căn cứ giúp ta xác định rõ nhu cầu của NLĐ, thái độ thể hiện NLĐ có yêu thích công việc không, có hài lòng hay bất mãn gì, lý do tại sao? Để xác định nhu cầu chính xác cần phải phân tích trên nền tảng các giá trị cảm xúc mà người lao động có được trong những thời điểm cụ thể. Tùy theo tình huống mà nhu cầu của các cá nhân sẽ khác nhau.
Có những người sẵn sàng hy sinh, chấp nhận chịu đựng sự đói khổ để tạo uy tín cá nhân, hoặc có khi cá nhân chỉ mới được thỏa mãn nhu cầu cơ bản, nhưng họ lại có các nhu cầu được tôn trọng. Ngược lại có những người đang ở mức nhu cầu được tôn trọng lại muốn quay về được sống ở mức an toàn cá nhân. Độ tuổi, giới tính, tính cách, sở thích. của người lao động cũng là yếu tố giúp doanh nghiệp xác định được nhu cầu của người lao động.
Ví dụ ở độ tuổi trẻ người lao động luôn có sở thích tham gia các hoạt động hướng ngoại, team building,. nhưng ở độ tuổi trung niên thì lại không. Yếu tố từ công việc: công việc cũng là một trong những căn cứ xác định nhu cầu của người lao động, khi có sự chuyển đổi giữa công việc này sang công việc khác người lao động có xu hướng thay đổi bản thân để thích ứng với môi trường và công việc, dẫn đến nhu cầu của người lao động cũng có sự thay đổi theo. Trong xã hội phát triển như hiện nay, bất kỳ NLĐ nào cũng muốn bản thân mình được mọi người tôn trọng, họ làm việc không hoàn toàn vì thu nhập mà họ còn mong muốn mình có chỗ đứng nhất định trong xã hội.
Một công việc giúp họ có cơ hội thăng tiến rõ ràng, tốt sẽ có ảnh hưởng mạnh đến động lực làm việc của NLĐ. 9 - Phương pháp xác định nhu cầu của người lao động Việc xác định nhu cầu của NLĐ có thể được thực hiện bằng nhiều phương pháp khác nhau, như: phỏng vấn, bảng hỏi, thảo luận, quan sát và phân tích thông tin có sẵn. mỗi phương pháp có những ưu nhược điểm khác nhau nhưng nhìn chung đều có thể giúp cho doanh nghiệp xác định được người lao động của mình có nhu cầu nào được đáp ứng, nhu cầu nào chưa được đáp ứng và mong muốn được đáp ứng nhu cầu nào. Phân loại nhu cầu của người lao động Để nắm rõ nhu cầu của người lao động cũng như dễ dàng thực hiện đáp ứng nhu cầu đó, doanh nghiệp cần phải phân loại các nhu cầu đó theo các nhóm tương đồng với nhau, hay theo các tiêu chí cụ thể: - Phân loại nhu cầu của người lao động theo thâm niên, độ tuổi Nhu cầu của mỗi người luôn là khác nhau ở mức độ thỏa mãn, nhưng những người ở cùng độ tuổi, trình độ, hay thâm niên công tác sẽ có nhiều điểm tương đồng trong mức độ thỏa mãn nhu cầu.
Theo thâm niên công tác nhu cầu có sự khác nhau ở các nhóm: Nhóm lao động mới vào nghề: là những người làm việc theo sự chỉ dẫn của trưởng bộ phận hoặc những đồng nghiệp lâu năm. Họ thường có nhu cầu về mức thu nhập, sự hòa nhập với tổ chức và mong muốn có cơ hội được học hỏi đào tạo. Nhóm lao động có thâm niên (>2 năm): nhóm lao động này đã thành thạo, am hiểu về công việc. có nhu cầu về mức thu nhập tương xứng với năng lực bản thân, mong muốn học hỏi và được thể hiện mình.