Phần mở đầu; Phần tổng quan tình hình nghiên cứu của đề tài; Phần kết luận, phụ lục và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn đƣợc kết cấu bao gồm ba chƣơng, cụ thể nhƣ sau: Chƣơng 1. Cơ sở lý luận về tạo động lực làm việc cho công chức trong cơ quan hành chính nhà nƣớc. Thực trạng công tác tạo động lực làm việc cho công chức tại Cơ quan Tổng cục Địa chất và Khoáng sản Việt Nam. Giải pháp tạo động lực làm việc cho công chức tại Cơ quan Tổng cục Địa chất và Khoáng sản Việt Nam.
CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TẠO ĐỘNG LỰC LÀM VIỆC CHO CÔNG CHỨC TRONG CƠ QUAN HÀNH CHÍNH NHÀ NƢỚC Công chức là công dân Việt Nam, đƣợc tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nƣớc, tổ chức chính trị - xã hội ở trung ƣơng, cấp tỉnh, cấp huyện; trong cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân mà không phải là sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân quốc phòng; trong cơ quan, đơn vị thuộc Công an nhân dân mà không phải là sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên nghiệp và trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nƣớc, tổ chức chính trị - xã hội (sau đây gọi chung là đơn vị sự nghiệp công lập), trong biên chế và hƣởng lƣơng từ ngân sách nhà nƣớc; đối với công chức trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập thì lƣơng đƣợc bảo đảm từ quỹ lƣơng của đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định của pháp luật. Động lực lao động là những nhân tố bên trong kích thích con ngƣời tích cực làm việc trong điều kiện cho phép tạo ra năng suất, hiệu quả cao. Biểu hiện của động lực là sự sẵn sàng, nỗ lƣc, say mê làm việc nhằm đạt đƣợc mục tiêu của tổ chức cũng nhƣ bản thân ngƣời lao động. Tạo động lực trong lao động là hệ thống các chính sách, biện pháp, các thủ iii thuật quản lý tác động đến ngƣời lao động nhằm khuyến khích, động viên, khích lệ, khơi dậy niềm khát khao, tinh thần tự nguyện, tự giác của ngƣời lao động, làm cho ngƣời lao động nỗ lực, phấn đấu cho mục tiêu hoàn thành công việc đƣợc giao với kết quả tốt nhất, qua đó tăng năng suất, hiệu quả và thành công của tổ chức.
Có 03 yếu tố tạo ra động lực thực sự trong công việc: thứ nhất là tính tự chủ, khao khát đƣợc làm chủ cuộc sống của chính bản thân mình; thứ hai là tính làm chủ, đó chính là sự thôi thúc trong chính bản thân mình về việc không ngừng nỗ lực, phấn đấu để hoàn thiện bản thân mình và bổ sung nguồn kiến thức ở bất cứ lĩnh vực nào trong cuộc sống; thứ ba là mục đích của mỗi cá nhân khao khát đƣợc cống hiến điều gì đó tốt đẹp cho xã hội ở bất cứ lĩnh vực nào. Để nghiên cứu tác giả có tìm hiểu một số các lý thuyết cơ bản về tạo động lực nhƣ sau: - Thuyết nhu cầu của Abraham Maslow cho rằng con ngƣời có năm nhu cầu cần đƣợc thỏa mãn đó là: nhu cầu sinh học, nhu cầu an toàn, nhu cầu xã hội, nhu cầu tự trọng, nhu cầu tự khẳng định. Các nhu cầu này đƣợc ông sắp xếp thep thứ tự tăng dần, khi mỗi một nhu cầu cấp dƣới đƣợc thoả mãn thì sẽ xuất hiện nhu cầu ở cấp cao hơn, quan trọng hơn và khi nhu cầu đƣợc thoả mãn thì động lực sẽ xuất hiện. - Thuyết hai yếu tố của Fredereck Herzberg đã phát hiện hai nhóm yếu tố ảnh hƣởng tới sự thỏa mãn trong công việc của nhân viên.
Nhóm thứ nhất, bao gồm các yếu tố then chốt mang tính chất thúc đẩy nhƣ: sự thành đạt, sự thừa nhận thành tích, bản chất bên trong của công việc, trách nhiệm lao động, sự thăng tiến. Nhóm thứ hai, bao gồm các yếu tố thuộc về môi trƣờng tổ chức, mang tính chất duy trì và có thể định lƣợng đƣợc nhƣ: tiền lƣơng, điều kiện làm việc, các chế độ và chính sách quản trị của tổ chức, sự giám sát công việc, các mối quan hệ của con ngƣời trong tổ chức. - Thuyết kỳ vọng của Victor Vroom chỉ ra ba vấn đề: Quan niệm của mỗi ngƣời là làm việc chăm chỉ có thể mang lại những kết quả thực hiện khác nhau; với mức thực hiện khác nhau sẽ đạt đƣợc những kết quả và phần thƣởng khác nhau; lƣợng giá trị khác nhau tƣơng ứng với mỗi kết quả thực hiện công việc. Các yếu tố tạo động lực đƣợc nhóm thành ba nhóm chính nhƣ sau: Các yếu tố thuộc bản thân ngƣời lao động bao gồm những yếu tố nhƣ: nhu cầu, lợi ích và mục tiêu của ngƣời lao động; tính cách cá nhân, trình độ văn hoá, iv chuyên môn, tay nghề,… Các yếu tố thuộc về công việc nhƣ tính hấp dẫn của công việc hay vị trí ngành nghề, lĩnh vực hoạt động của tổ chức phù hợp với ngƣời lao động sẽ tạo ra sự thỏa mãn của họ, ngƣợc lại nếu không phù hợp sẽ tạo nên sự chán nản, thụ động và thiếu hiệu quả.
Các yếu tố gắn với tổ chức lao động nhƣ cơ cấu tổ chức bộ máy, văn hoá, khả năng tổ chức lao động và môi trƣờng, điều kiện lao động và đặc biệt là yếu tố ngƣời lãnh đạo có ảnh hƣởng đến động lực làm việc của ngƣời lao động. Các công cụ tạo động lực đƣợc chia thành 02 nhóm nhƣ sau: - Nhóm các yếu tố tài chính bao gồm: tiền lƣơng, phúc lợi. - Nhóm các yếu tố phi tài chính bao gồm: môi trƣờng làm việc, đào tạo và phát triển, đánh giá cán bộ, quy hoạch và bổ nhiệm cán bộ, khen thƣởng và kỷ luật, phong cách của lãnh đạo,. Chính vì động lực làm việc có ảnh hƣởng quan trọng đến hiệu quả làm việc của tổ chức hành chính, nên tạo động lực làm việc luôn đƣợc quan tâm ở bất cứ tổ chức nào.
Đây đƣợc coi là một trong những chức năng quan trọng của nhà quản lý, là yếu tố mang tính quyết định hiệu quả làm việc và khả năng cạnh tranh của tổ chức. Hơn nữa đội ngũ CBCC là ngƣời thể chế hóa các đƣờng lối, chủ trƣơng, chính sách của Đảng và Nhà nƣớc thành quy định của pháp luật để đƣa vào cuộc sống, xây dựng bộ máy quản lý và các quy định về sử dụng các nguồn lực trong quá trình quản lý, nói cách khác, CBCC ngƣời đề ra các quy định và họ cũng chính là ngƣời thực thi các quy định đó. Do đó, để nâng cao hiệu quả hoạt động của tổ chức hành chính nhà nƣớc trƣớc hết cần phải quan tâm tạo động lực làm việc cho họ. CHƢƠNG 2: THỰC TRẠNG TẠO ĐỘNG LỰC LÀM VIỆC CHO CÔNG CHỨC TẠI CƠ QUAN TỔNG CỤC ĐỊA CHẤT VÀ KHOÁNG SẢN VIỆT NAM Tổng cục Địa chất và Khoáng sản Việt Nam là cơ quan trực thuộc Bộ Tài nguyên và Môi trƣờng, thực hiện chức năng tham mƣu, giúp Bộ trƣởng Bộ Tài nguyên và Môi trƣờng quản lý nhà nƣớc và tổ chức thực thi pháp luật về địa chất và khoáng sản trong phạm vi cả nƣớc; quản lý, thực hiện các dịch vụ công về địa chất v và khoáng sản theo quy định của pháp luật.
Hiện tại Tổng cục Địa chất và Khoáng sản Việt Nam có 20 đơn vị trực thuộc trong phạm vi cả nƣớc với khoảng 2.500 cán bộ công nhân viên. Cơ quan Tổng cục Địa chất và Khoáng sản Việt Nam bao gồm 6 vụ chức năng và 2 văn phòng với 93 cán bộ công chức. Từ những lý luận cơ bản về động lực, tạo động lực và một số học thuyết điển hình về tạo động lực làm việc cho ngƣời lao động nhƣ: thuyết nhu cầu của Maslow, thuyết hai yếu tố của F.Herzberg, thuyết kỳ vọng của Vroom, tác giả đã vận dụng học thuyết hai yếu tố của F.Herzberg để phân tích làm rõ đâu là yếu tố duy trì, đâu là yếu tố thúc đẩy động lực của các công chức Cơ quan Tổng cục. Kết quả khảo sát về mức độ tác động của các yếu tố tới động lực của công chức có điểm khác biệt so với các yếu tố trong học thuyết hai yếu tố của F.
Cụ thể, Herzberg cho rằng tiền lƣơng và môi trƣờng làm việc là yếu tố duy trì nhƣng các công chức Cơ quan Tổng cục lại cho rằng tiền lƣơng, môi trƣờng làm việc tác động nhiều đến động lực của họ, với họ những yếu tố này nếu Cơ quan TC làm tốt sẽ có tác dụng thúc đẩy động lực.Herzberg xếp cơ hội đƣợc đào tạo, phát triển nghề nghiệp là yếu tố thúc đẩy nhƣng các công chức của Cơ quan TC lại đánh giá yếu tố này là yếu tố duy trì, có tác động vừa phải đến động lực của công chức. Nếu làm tốt yếu tố này cũng khó nâng cao động lực của công chức nhƣng nếu làm không tốt các công chức sẽ có những thái độ tiêu cực. Kết quả nghiên cứu cho thấy động lực của công chức Cơ quan Tổng cục là không cao. Nguyên nhân của tình trạng này là công tác tạo động lực của Cơ quan Tổng cục Địa chất và Khoáng sản Việt Nam chƣa tốt, còn nhiều bất cập và hạn chế.
Đầu tiên phải kể đến là công tác tiền lƣơng của khối quản lý hành chính nói chung và cơ quan TC nói riêng. Trong thực hiện công tác đánh giá cán bộ còn nhiều hạn chế. Thực tế, công tác này đƣợc thực hiện một cách rất hình thức. Chƣa xây dựng đƣợc hệ thống tiêu chuẩn đánh giá công chức, nội dung đánh giá chƣa đầy đủ và phƣơng pháp đánh giá chƣa khoa học.
Việc đánh giá tốt là cơ sở tạo niềm tin của nhân viên đối với kết quả đánh giá của lãnh đạo. Đánh giá còn mang tính bình quân chủ nghĩa, công chức hoàn thành tốt nhiệm vụ thì không đƣợc đánh giá cao, ngƣợc lại có những công vi chức hiệu quả công tác thấp nhƣng kết quả đánh giá lại hoàn thành nhiệm vụ. Vì vậy tạo nên sự nghi ngờ, chán nản trong bộ phận công chức. Do công tác đánh giá cán bộ còn nhiều hạn chế nên dẫn đến công tác khen thƣởng, kỷ luật không làm cho công chức cơ quan hài lòng.
Nguyên nhân là do khen thƣởng chƣa đúng với thành tích của công chức, mang tính chất chủ nghĩa bình quân, chƣa căn cứ vào mức độ thành tích và hiệu quả công tác. Thêm nữa, việc khen thƣởng của cơ quan đƣợc thực hiện một năm một lần vào dịp cuối năm nên việc khen thƣởng, động viên không kịp thời, do đó tác dụng của việc khen thƣởng bị giảm đi rất nhiều.