Luận Văn: Quản Trị Tài Sản Bằng Tiền Tại Công Ty Cổ Phần Thương Mại Và Dịch Vụ Kỹ Thuật Nội Bài

Luận văn quản trị tài sản bằng tiền của công ty cổ phần thương mại và dịch vụ kỹ thuật Nội Bài, phân tích hiệu quả quản lý tài chính doanh nghiệp.

Trường đại học

Đại học Thương mại

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

khóa luận tốt nghiệp

2016

58
1
0

Phí lưu trữ

30 Point

Tóm tắt

I. Cơ sở lý thuyết về quản trị tài sản bằng tiền của doanh nghiệp

Quản trị tài sản bằng tiền là một khái niệm quan trọng trong lĩnh vực quản lý tài sản. Nó không chỉ bao gồm việc đảm bảo có đủ lượng tiền mặt tối ưu mà còn liên quan đến việc kiểm soát chi tiêu, thu hồi nợ và dự báo nhu cầu tiền mặt. Theo Phạm Quang Trung (2009), quản trị tài sản bằng tiền là quá trình quản lý lưu lượng tiền mặt tại quỹ và tài khoản thanh toán. Việc quản lý hiệu quả tài sản bằng tiền giúp doanh nghiệp duy trì tính thanh khoản và đảm bảo hoạt động kinh doanh diễn ra suôn sẻ. Các thuật ngữ liên quan như tiền mặt, tiền gửi ngân hàng và chứng khoán khả mại cũng cần được hiểu rõ để có cái nhìn toàn diện về quản trị tài chính.

1.1 Khái niệm quản trị tài sản bằng tiền

Quản trị tài sản bằng tiền là việc đảm bảo luôn có đủ lượng tiền mặt tối ưu tại mỗi thời điểm nhất định. Việc này đòi hỏi doanh nghiệp phải theo dõi chặt chẽ lượng tiền cần thiết và hiện có. Nếu không, doanh nghiệp có thể gặp rủi ro trong hoạt động kinh doanh. Quản trị tài sản bằng tiền bao gồm các hoạt động như thu hồi nợ, kiểm soát chi tiêu và dự báo nhu cầu tiền mặt. Điều này giúp doanh nghiệp có thể bù đắp thâm hụt ngân sách và đầu tư vào các khoản tiền nhàn rỗi một cách hiệu quả.

1.2 Nội dung lý thuyết quản trị tài sản bằng tiền

Nội dung lý thuyết quản trị tài sản bằng tiền bao gồm hoạch định ngân sách, dự báo thu chi và kiểm soát tài sản bằng tiền. Hoạch định ngân sách tài sản bằng tiền là kế hoạch ngắn hạn xác định nguồn thu và nhu cầu chi tiêu. Dự báo thu chi tài sản bằng tiền cần dựa vào các phương pháp định tính và định lượng để đảm bảo tính chính xác. Kiểm soát tài sản bằng tiền giúp doanh nghiệp duy trì tính thanh khoản và đảm bảo khả năng chi trả các nghĩa vụ tài chính đúng hạn.

II. Thực trạng quản trị tài sản bằng tiền của Công ty Cổ phần Thương mại và Dịch vụ Kỹ thuật Nội Bài

Công ty Cổ phần Thương mại và Dịch vụ Kỹ thuật Nội Bài đã gặp nhiều thách thức trong việc quản lý tài sản bằng tiền. Tình hình tài chính của công ty trong ba năm gần đây cho thấy sự biến động lớn về giá trị tài sản bằng tiền. Năm 2014, các khoản tiền và tương đương tiền tăng 24.748 đồng so với năm 2013, nhưng đến năm 2015 lại giảm 94,01%. Điều này cho thấy công ty cần có những biện pháp cụ thể để cải thiện quản trị tài chính. Việc phân tích dữ liệu sơ cấp và thứ cấp đã chỉ ra những điểm mạnh và yếu trong công tác quản trị tài sản bằng tiền của công ty.

2.1 Phân tích thực trạng quản trị tài sản bằng tiền

Phân tích thực trạng quản trị tài sản bằng tiền tại công ty cho thấy một số điểm mạnh như khả năng thu hồi nợ tốt và kiểm soát chi tiêu hợp lý. Tuy nhiên, công ty cũng gặp phải nhiều vấn đề như sự biến động lớn trong giá trị tài sản bằng tiền và thiếu hụt trong việc dự báo nhu cầu tiền mặt. Những yếu điểm này cần được khắc phục để nâng cao hiệu quả quản trị tài sản bằng tiền.

2.2 Các cơ hội và thách thức

Công ty Cổ phần Thương mại và Dịch vụ Kỹ thuật Nội Bài đang đứng trước nhiều cơ hội và thách thức trong việc quản trị tài sản bằng tiền. Cơ hội đến từ việc mở rộng thị trường và tăng cường hợp tác với các đối tác. Tuy nhiên, thách thức lớn nhất là sự cạnh tranh gay gắt trong ngành và sự biến động của thị trường tài chính. Công ty cần có những chiến lược cụ thể để tận dụng cơ hội và vượt qua thách thức này.

III. Đề xuất kiến nghị về quản trị tài sản bằng tiền

Để nâng cao hiệu quả quản trị tài sản bằng tiền, công ty cần thực hiện một số giải pháp cụ thể. Đầu tiên, cần xây dựng một hệ thống dự báo tài sản bằng tiền chính xác hơn, áp dụng mô hình Baumol để xác định lượng tài sản bằng tiền dự trữ tối ưu. Thứ hai, công ty cần cải thiện quy trình thu hồi nợ và kiểm soát chi tiêu để giảm thiểu tình trạng chiếm dụng vốn. Cuối cùng, việc đào tạo nhân viên về kỹ thuật quản lý tài sản cũng là một yếu tố quan trọng để nâng cao hiệu quả công tác quản trị tài sản bằng tiền.

3.1 Định hướng phát triển

Công ty cần xác định rõ định hướng phát triển liên quan đến quản trị tài sản bằng tiền. Việc này bao gồm việc xây dựng các kế hoạch tài chính dài hạn và ngắn hạn, đồng thời đảm bảo rằng các quyết định tài chính được đưa ra dựa trên các phân tích chính xác và kịp thời.

3.2 Giải pháp hoàn thiện công tác dự báo

Giải pháp hoàn thiện công tác dự báo tài sản bằng tiền cần được thực hiện thông qua việc áp dụng các mô hình dự báo hiện đại và cải thiện quy trình thu thập dữ liệu. Điều này sẽ giúp công ty có cái nhìn rõ ràng hơn về nhu cầu tiền mặt trong tương lai và từ đó có những quyết định tài chính hợp lý.

13/02/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ QUẢN TRỊ TÀI SẢN BẰNG TIỀN CỦA DOANH NGHIỆP 1.1 Một số khái niệm, thuật ngữ 1. Khái niệm quản trị tài sản bằng tiền + Quản trị tài sản bằng tiền là việc đảm bảo luôn có đủ lượng tiền mặt tối ưu tại mỗi thời điểm nhất định. Quản lý tốt tài sản bằng tiền đòi hỏi vào bất cứ lúc nào bạn cũng phải biết doanh nghiệp đang cần bao nhiêu tiền, lượng tiền doanh nghiệp hiện có cũng như tiền đang ở đâu. Nếu không theo dõi được tiền, việc kinh doanh của bạn có thể sẽ thất bại.

Phạm Quang Trung (2009), Giáo trình quản trị tài chính doanh nghiệp, NXB Kinh tế quốc dân) + Quản trị tài sản bằng tiền là một quá trình bao gồm việc thu hồi nợ, kiểm soát chi tiêu, bù đắp thâm hụt ngân sách, dự báo nhu cầu tiền mặt của doanh nghiệp, đầu tư những khoản tiền nhàn rỗi và trả tiền cho các ngân hàng cung cấp những hoạt động thuộc quá trình quản trị tài sản bằng tiền kể trên. + Quản trị tài sản bằng tiền là quá trình bao gồm quản lý lưu lượng tiền mặt tại quỹ và tài khoản thanh toán ở ngân hàng, kiểm soát chi tiêu, dự báo nhu cầu tiền mặt của doanh nghiệp, bù đắp thâm hụt ngân sách, giải quyết tình trạng thừa, thiếu tiền mặt trong ngắn hạn cũng như dài hạn 1. Các thuật ngữ có liên quan  Khái niệm tiền mặt, tiền mặt trong sản xuất kinh doanh + Tiền là vật ngang giá chung có tính thanh khoản cao nhất dùng để trao đổi lấy hàng hóa và dịch vụ nhằm thỏa mãn bản thân và mang tính dễ thu nhận (nghĩa là mọi người đều sẵn sàng chấp nhận sử dụng) và thường được Nhà nước phát hành bảo đảm giá trị bởi các tài sản khác như vàng, kim loại quý, trái phiếu, ngoại tệ. Lê Thị Mận (2011), Lý thuyết tài chính tiền tệ, NXB Lao động-xã hội) + Cũng là một khái niệm khác về tiền mặt, tác giả Dương Hữu Hạnh có nói: “Trung bình khoảng độ 1,5% các tài sản của doanh nghiệp được giữ dưới hình thức tiền mặt, tiền mặt được định nghĩa như tiền tồn quỹ và tiền ký gửi không kỳ hạn của doanh nghiệp ở ngân hàng.

Tiền mặt “Cash” thường được gọi là tài sản không sinh lợi 5 (non earning asset) bao gồm tiền hiện có tại công ty và tiền gửi không kỳ hạn tại ngân hàng. Tiền này dùng để trả lương lao động, mua nguyên vật liệu, các tài sản cố định, trả tiền thuế, trả nợ, trả tiền cổ tức…”. (Nguồn: Dương Hữu Hạnh, Tài chính công ty – Các nguyên tắc căn bản và các áp dụng, NXB Phương Đông) + Tiền ra đời từ nhu cầu kinh tế thực tế của loài người khi mà nền sản xuất đạt đến một trình độ nhất định và con người đã có thể tự do đi lại trong một phạm vi lãnh thổ rộng lớn. Khi đó, thay vì phải chuẩn bị hành lý cồng kềnh cho chuyến đi dài ngày, con người chỉ cần mang theo một lượng nhỏ kim loại quý hoặc tiền được ưa chuộng ở nhiều nơi để đổi cho mình những yếu phẩm cần thiết.

Từ đó các hoạt động thương mại đã ra đời, tiền tệ được quy ước và ban hành, quản lý bởi nhà nước. Đổi lại, nhà nước có quyền thu thuế từ các hoạt động thương mại. Nói một cách chặt chẽ thì tiền chỉ là những gì mà luật pháp bắt buộc phải công nhận là một phương tiện thanh toán.  Khái niệm tiền gửi ngân hàng Tiền gửi ngân hàng: Bao gồm tiền Việt Nam, tiền ngoại tệ, vàng bạc đá quý, kim loại quý, ngân phiếu… mà doanh nghiệp đã mở tài khoản tại ngân hàng để phục vụ cho việc giao dịch, thanh toán trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh  Chứng khoán khả mại Chứng khoán khả mại: Là số chứng khoán được công ty sở hữu (như trái phiếu kho bạc ngắn hạn, cổ phiếu và trái phiếu) có khả năng chuyển đổi thành tiền.2 Nội dung lý thuyết quản trị tài sản bằng tiền 1.1 Nội dung quản trị tài sản bằng tiền a.

Hoạch định ngân sách tài sản bằng tiền Ngân sách tài sản bằng tiền là một kế hoạch ngắn hạn dùng để xác định nguồn thu tiền và nhu cầu chi tiêu tiền.  Dự báo các khoản thu tiền  Dự báo tiêu thụ sản phẩm Dự toán tiêu thụ sản phẩm là điểm khởi đầu của hầu hết các dự báo tài chính trong doanh nghiệp, và nó tác động trực tiếp đến việc dự báo các khoản thu tiền của doanh nghiệp. Các phương pháp dự báo tiêu thụ sản phẩm bao gồm: 6 + Các phương pháp định tính: Phương pháp lấy ý kiến của ban quản lý điều hành, phương pháp lấy ý kiến hỗn hợp của lực lượng bán hàng, phương pháp nghiên cứu thị trường người tiêu dùng, phương pháp chuyên gia (Delphi). + Các phương pháp định lượng: Phương pháp số bình quân, phương pháp san bằng hàm mũ, phương pháp phân tích chuỗi thời gian, phương pháp dự báo với mô hình kinh tế lượng.

 Xây dựng dự báo thu tài sản bằng tiền Số lượng tiêu thụ sản phẩm dự kiến là một yếu tố đầu vào quyết định đến doanh thu bán hàng của doanh nghiệp. Lúc này, doanh thu dự kiến được tính: Doanh thu Số lượng sản phẩm Đơn giá = x dự kiến tiêu thụ dự kiến bán dự kiến Bên cạnh tiền thu được từ việc tiêu thụ sản phẩm, số tiền thu được còn từ các hoạt động khác. Chú ý rằng việc xây dựng dự báo thu tài sản bằng tiền không chỉ quan tâm đến số tiền thu được mà còn cả thời gian dự kiến thu tiền.  Dự báo các khoản chi tài sản bằng tiền  Phân loại chi phí Phân loại chi phí là cần thiết để xây dựng phương thức dự báo chi tài sản bằng tiền.

+ Phân loại theo cách ứng xử của chi phí: Chi phí bất biến, chi phí khả biến, chi phí hỗn hợp + Phân loại theo chức năng hoạt động: Chi phí sản xuất, ngoài sản xuất  Chi phí tiêu chuẩn Chi phí tiêu chuẩn (còn gọi là chi phí định mức) là chi phí dự tính để sản xuất một sản phẩm hay thực hiện một dịch vụ cho khách hàng. Hệ thống chi phí tiêu chuẩn là cơ sở để các nhà quản lý lập dự toán chi phí hoạt động và kiểm soát chi phí.  Xây dựng dự báo chi tiền mặt + Dự báo chi phí sản xuất: Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp, chi phí nhân công trực tiếp, chi phí sản xuất chung + Dự báo chi phí ngoài sản xuất: Về nguyên tắc, việc dự báo chi phí ngoài sản xuất, ở đây chủ yếu là chi phí bán hàng và quản lý doanh nghiệp, cũng được chia thành hai bộ phận là chi phí khả biến và chi phí bất biến. + Xây dựng dự báo chi tiền mặt: Việc dự báo chi phí chỉ là cơ sở để xây dựng kế 7 hoạch chi tiêu tiền mặt của doanh nghiệp.

Việc dự báo doanh nghiệp phải chi tiền mặt bao nhiêu tại thời điểm nào còn phải xem xét đến chính sách chi trả tiền cho khách hàng, cho nhân viên.  Dự báo ngân sách tài sản bằng tiền  Phương pháp lập mô hình dự báo ngân sách tài sản bằng tiền + Phương pháp lịch thu chi: Chỉ có những khoản thực thu và thực chi tiền mới được ghi nhận. Ngân lưu ròng sẽ bằng tổng ngân lưu vào trừ tổng ngân lưu ra. Lưu ý rằng trong phương pháp lịch thu chi chưa tính đến đầu tư ngắn hạn và huy động vốn ngắn hạn, đó là những hoạt động diễn ra sau khi doanh nghiệp biết mình thừa hay thiếu tiền mặt.

+ Phương pháp điều chỉnh kế toán thực tế phát sinh Theo phương pháp này, doanh thu và chi phí được ghi nhận trong báo cáo khi chúng thực tế phát sinh. Từ đó ta sẽ tính được lợi nhuận bằng doanh thu trừ đi chi phí. Bước tiếp theo là điều chỉnh lợi nhuận để ra chỉ tiêu ngân lưu ròng. Phương pháp này chỉ phù hợp với dự báo trung dài hạn còn với thời gian ngắn hạn thì nó không đủ chi tiết để đảm bảo độ chính xác.

 Kế hoạch linh hoạt Lập kế hoạch linh hoạt là việc lập dự báo về khoản thu và chi ở các mức độ hoạt động khác nhau trong phạm vi tối thiểu đến tối đa. Với kế hoạch linh hoạt, doanh nghiệp sẽ chủ động hơn trước những biến động của điều kiện môi trường cũng như kiểm soát mức chênh lệch ngân sách chính xác hơn. Kiểm soát thu chi tài sản bằng tiền Hoạt động của doanh nghiệp có thể chia thành những lĩnh vực khác nhau, trong đó tồn tại những khoản thu, chi tiền mặt đa dạng và có đặc trưng riêng. Ta phân tích các khoản thu - chi tiền mặt trong 3 lĩnh vực hoạt động chính của doanh nghiệp: + Tiền mặt trong hoạt động kinh doanh - điều hành doanh nghiệp + Tiền mặt trong hoạt động đầu tư – phát triển doanh nghiệp + Tiền mặt trong hoạt động tài chính – vốn hoá doanh nghiệp  Tăng tốc độ thu hồi, giảm tốc độ chi tiêu tài sản bằng tiền  Đẩy nhanh tốc độ thu hồi tài sản bằng tiền liên quan đến chính sách tín dụng Ở đây có sự đánh đổi giữa 2 mục tiêu là đẩy nhanh tốc độ thu hồi tài sản bằng 8 tiền và làm gia tăng doanh thu bán hàng.

Chính sách tín dụng của doanh nghiệp được thực hiện thông qua việc kiểm soát 4 biến số: Tiêu chuẩn tín dụng, chính sách chiết khấu, thời hạn bán chịu và chính sách thu tiền.  Giảm tốc độ chi tiền mặt. Nhà quản trị tài chính có thể trì hoãn việc thanh toán, nhưng chỉ trong phạm vi thời gian mà các chi phí tài chính, tiền phạt hay sự xói mòn vị thế tín dụng thấp hơn những lợi nhuận do việc chậm thanh toán đem lại.  Thiết lập hệ thống thanh toán tập trung qua ngân hàng.

Hệ thống thanh toán tập trung qua ngân hàng là một mạng lưới các tài khoản ký thác tại các ngân hàng, những tài khoản này cho phép doanh nghiệp doanh nghiệp duy trì các khoản tiền gửi của họ. Đồng thời, ngân hàng cũng mở các tài khoản chi tiêu cho doanh nghiệp nhằm thực hiện và duy trì khả năng thanh toán, chi trả của họ. Hệ thống ngân hàng và hệ thống hộp thư chuyển tiền nhanh làm cho một khoản tiền từ khi thanh toán đến khi sẵn cho sử dụng ngắn hơn. Tuy nhiên, doanh nghiệp cần phải đánh giá cẩn thận về mặt chi phí khi sử dụng hệ thống này.

 Lựa chọn phương thức chuyển tiền. Có thể dựa vào phương pháp phân tích điểm hoà vốn.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Luận Văn Quản Trị Tài Sản Bằng Tiền Tại Công Ty Cổ Phần Thương Mại Và Dịch Vụ Kỹ Thuật Nội Bài là một nghiên cứu chuyên sâu về quản lý tài sản bằng tiền, tập trung vào thực tiễn tại Công ty Cổ phần Thương Mại và Dịch Vụ Kỹ Thuật Nội Bài. Tài liệu này cung cấp cái nhìn chi tiết về các phương pháp quản trị tài chính hiệu quả, giúp doanh nghiệp tối ưu hóa nguồn lực và nâng cao hiệu suất hoạt động. Độc giả sẽ được tiếp cận với các giải pháp cụ thể, từ việc kiểm soát dòng tiền đến quản lý rủi ro tài chính, mang lại lợi ích thiết thực cho các nhà quản lý và chuyên gia tài chính.

Để mở rộng kiến thức về quản trị doanh nghiệp và tài chính, bạn có thể tham khảo thêm Luận án tiến sĩ tổ chức kế toán quản trị với việc tăng cường quản lý hoạt động kinh doanh trong các doanh nghiệp xây lắp Việt Nam, nghiên cứu về vai trò của kế toán quản trị trong việc nâng cao hiệu quả quản lý. Ngoài ra, Luận văn thạc sĩ quản trị kinh doanh hoàn thiện cơ cấu tổ chức của công ty cổ phần Tấn Phát cung cấp góc nhìn về cải thiện cơ cấu tổ chức, một yếu tố quan trọng trong quản trị doanh nghiệp. Cuối cùng, Luận án tiến sĩ kinh tế hoàn thiện tổ chức công tác kế toán tại các doanh nghiệp xây dựng thuộc Tổng công ty Sông Đà sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn về vai trò của kế toán trong quản lý tài chính doanh nghiệp.