Luận văn quản lý sản xuất nông nghiệp thích ứng với xâm nhập mặn trên địa bàn huyện nhơn trạch tỉnh đồng nai

Luận văn phân tích quản lý sản xuất nông nghiệp thích ứng xâm nhập mặn tại Nhơn Trạch, Đồng Nai. Đề xuất giải pháp bền vững cho vùng.

Trường đại học

Học Viện Khoa Học Xã Hội

Chuyên ngành

Quản Lý Kinh Tế

Tác giả

Nguyễn Văn Nhân

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận văn thạc sĩ

2021

102
1
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết

2. Tổng quan nghiên cứu

3. Mục tiêu nghiên cứu

4. Đối tượng nghiên cứu

5. Phạm vi và giới hạn nghiên cứu

6. Phương pháp nghiên cứu

7. Kết cấu đề tài

1. Chương 1: MỘT SỐ CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ SẢN XUẤT NÔNG NGHIỆP THÍCH ỨNG VỚI XÂM NHẬP MẶN

1.1. Một số khái niệm

1.1.1. Biến đổi khí hậu và xâm nhập mặn

1.1.2. Quản lý và quản lý nhà nước về nông nghiệp

1.1.3. Quản lý sản xuất nông nghiệp thích ứng với xâm nhập mặn

1.2. Các yếu tố tác động đến quản lý sản xuất nông nghiệp

1.3. Tác động của xâm nhập mặn đến sản xuất nông nghiệp

1.3.1. Tác động tiêu cực

1.3.2. Tác động tích cực

1.4. Vai trò của nhà nước và các bên liên quan khác trong sản xuất nông nghiệp thích ứng với xâm nhập mặn

1.4.1. Vai trò của nhà nước

1.4.2. Vai trò của các bên liên quan khác

1.5. Tiêu chí đánh giá sản xuất nông nghiệp thích ứng xâm nhập mặn

1.5.1. Tiêu chí về tăng trưởng kinh tế

1.5.2. Tiêu chí về chuyển dịch cơ cấu sản xuất nông nghiệp thích ứng với xâm nhập mặn

1.5.3. Tiêu chí về hiệu quả sản xuất nông nghiệp

1.6. Kinh nghiệm quản lý sản xuất nông nghiệp thích ứng với xâm nhập mặn ở một số địa phương và bài học rút ra

1.6.1. Kinh nghiệm của huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình

1.6.2. Kinh nghiệm của huyện Trần Đề, tỉnh Sóc Trăng

1.6.3. Kinh nghiệm của huyện Thới Bình, tỉnh Cà Mau

1.6.4. Bài học kinh nghiệm rút ra

2. Chương 2: THỰC TRẠNG QUẢN LÝ SẢN XUẤT NÔNG NGHIỆP THÍCH ỨNG VỚI XÂM NHẬP MẶN TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN NHƠN TRẠCH, TỈNH ĐỒNG NAI

2.1. Khái quát về huyện Nhơn Trạch

2.1.1. Vị trí địa lý, phạm vi lãnh thổ

2.1.2. Đặc điểm tự nhiên

2.1.3. Đặc điểm kinh tế xã hội

2.2. Tác động của xâm nhập mặn đến SX nông nghiệp huyện Nhơn Trạch

2.2.1. Biểu hiện của xâm nhập mặn

2.2.2. Tác động ảnh hưởng của xâm nhập mặn đến sản xuất nông nghiệp

2.3. Thực trạng quản lý sản xuất nông nghiệp trong điều kiện xâm nhập mặn ở huyện Nhơn Trạch giai đoạn 2015-2019

2.3.1. Hệ thống sản xuất nông nghiệp

2.3.2. Cơ cấu lao động- việc làm trong SX nông nghiệp huyện Nhơn Trạch

2.3.3. Quản lý sản xuất nông nghiệp

2.3.4. Kết quả sản xuất nông nghiệp

2.4. Đánh giá sản xuất nông nghiệp trong điều kiện xâm nhập mặn ở huyện Nhơn Trạch giai đoạn 2015-2019

2.4.1. Những mặt đạt được

2.4.2. Những tồn tại, hạn chế

2.4.3. Nguyên nhân

3. Chương 3: QUAN ĐIỂM, ĐỊNH HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP QUẢN LÝ SẢN XUẤT NÔNG NGHIỆP THÍCH ỨNG VỚI XÂM NHẬP MẶN TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN NHƠN TRẠCH, TỈNH ĐỒNG NAI

3.1. Dự báo diễn biến xâm nhập mặn trong thời gian tới

3.2. Quan điểm và định hướng sản xuất nông nghiệp thích ứng với xâm nhập mặn của tỉnh Đồng Nai và huyện Nhơn Trạch

3.2.1. Định hướng và mục tiêu pháp triển sản xuất nông nghiệp thích ứng với xâm nhập mặn

3.3. Một số giải pháp quản lý sản xuất nông nghiệp thích ứng với xâm nhập mặn trên địa bàn huyện Nhơn Tạch

3.3.1. Về quy hoạch phát triển

3.3.2. Về chuyển đổi cơ cấu sản xuất

3.3.3. Về huy động các nguồn lực ứng phó xâm nhập mặn

3.3.4. Về tăng cường năng lực bộ máy quản lý và đội ngũ cán bộ quản lý

3.3.5. Về phối hợp các bên liên quan

KẾT LUẬN

Tài liệu tham khảo

Phụ lục

Tóm tắt

I. Tổng quan luận văn quản lý sản xuất nông nghiệp Nhơn Trạch

Luận văn “Quản lý sản xuất nông nghiệp thích ứng với xâm nhập mặn trên địa bàn huyện Nhơn Trạch, tỉnh Đồng Nai” của tác giả Nguyễn Văn Nhân (2021) là một công trình nghiên cứu chuyên sâu, giải quyết vấn đề cấp thiết mà nền nông nghiệp địa phương đang đối mặt. Huyện Nhơn Trạch, với vị trí địa lý đặc thù ven sông và gần biển, đang chịu tác động ngày càng nghiêm trọng của biến đổi khí hậu, biểu hiện rõ rệt qua hiện tượng xâm nhập mặn. Tình trạng này đe dọa trực tiếp đến sinh kế cho nông dân, làm suy giảm năng suất cây trồng và gây mất ổn định cho phát triển kinh tế - xã hội Nhơn Trạch. Nghiên cứu này không chỉ phân tích thực trạng mà còn đề xuất các giải pháp chiến lược nhằm xây dựng một nền canh tác bền vững, có khả năng chống chịu và thích ứng. Trọng tâm của luận văn là tìm ra phương thức quản lý sản xuất nông nghiệp hiệu quả, từ việc điều chỉnh quy hoạch sử dụng đất đến áp dụng các kỹ thuật canh tác tiên tiến, nhằm giảm thiểu thiệt hại và tận dụng cơ hội mới. Việc nghiên cứu và áp dụng các giải pháp này là yêu cầu sống còn để đảm bảo an ninh lương thực và nâng cao đời sống người dân trong bối cảnh thách thức môi trường ngày càng gia tăng. Nội dung luận văn cung cấp một cái nhìn toàn diện, từ cơ sở lý luận, kinh nghiệm thực tiễn tại các địa phương khác đến phân tích sâu sắc tại Nhơn Trạch, tạo cơ sở khoa học vững chắc cho các nhà hoạch định chính sách.

1.1. Bối cảnh cấp thiết của việc thích ứng với biến đổi khí hậu

Việt Nam được xác định là một trong những quốc gia chịu ảnh hưởng nặng nề nhất từ biến đổi khí hậunước biển dâng. Huyện Nhơn Trạch, tỉnh Đồng Nai, với hệ thống sông ngòi chằng chịt và vị trí gần cửa biển, trở thành một trong những khu vực dễ bị tổn thương nhất. Hiện tượng xâm nhập mặn ngày càng diễn ra với tần suất cao và mức độ nghiêm trọng hơn, len lỏi sâu vào nội đồng, gây ra tình trạng nhiễm mặn đất nông nghiệp và làm cạn kiệt nguồn nước ngọt. Theo kết quả khảo sát vụ lúa Đông Xuân 2016-2017, trên địa bàn huyện đã có 880 ha lúa bị nhiễm mặn, gây thiệt hại nặng nề. Do đó, việc nghiên cứu và triển khai các giải pháp quản lý sản xuất nông nghiệp thích ứng với xâm nhập mặn không chỉ là một lựa chọn mà là một yêu cầu bắt buộc để bảo vệ nền sản xuất và ổn định cuộc sống người dân.

1.2. Mục tiêu nghiên cứu quản lý nông nghiệp trước xâm nhập mặn

Nghiên cứu của Nguyễn Văn Nhân (2021) đặt ra các mục tiêu rõ ràng. Thứ nhất, hệ thống hóa cơ sở lý luận và thực tiễn về quản lý sản xuất nông nghiệp trong điều kiện xâm nhập mặn. Thứ hai, phân tích và đánh giá đúng thực trạng tác động của xâm nhập mặn đến nông nghiệp huyện Nhơn Trạch giai đoạn 2015-2019, chỉ ra những thành tựu, hạn chế và nguyên nhân. Cuối cùng, đề xuất các quan điểm, định hướng và giải pháp khả thi nhằm hoàn thiện công tác quản lý, giúp nông nghiệp Nhơn Trạch phát triển ổn định, nâng cao hiệu quả kinh tế và thích ứng thành công với những thách thức từ biến đổi khí hậu, góp phần đảm bảo sinh kế cho nông dân một cách bền vững.

II. Thách thức từ xâm nhập mặn đến sản xuất nông nghiệp

Tác động của xâm nhập mặn đến sản xuất nông nghiệp tại huyện Nhơn Trạch là một thực tế không thể phủ nhận, gây ra những thách thức đa chiều. Hiện tượng này không chỉ là một vấn đề môi trường mà còn là một bài toán kinh tế - xã hội nan giải. Tình trạng nhiễm mặn đất nông nghiệp làm thay đổi cấu trúc đất, giảm độ phì nhiêu và ức chế khả năng hấp thụ dinh dưỡng của cây trồng, đặc biệt là cây lúa. Nguồn nước ngọt phục vụ tưới tiêu bị nhiễm mặn nghiêm trọng, dẫn đến tình trạng hạn hán và thiếu nước ngọt ngay cả trong những khu vực có lượng mưa tương đối. Hậu quả trực tiếp là sự sụt giảm mạnh về năng suất cây trồng, chất lượng nông sản kém, thậm chí mất trắng toàn bộ vụ mùa. Theo thống kê, nhiều diện tích trồng lúa ven sông Đồng Nai đã phải bỏ hoang do không thể canh tác. Điều này tác động tiêu cực đến chuỗi cung ứng lương thực và làm suy giảm hiệu quả kinh tế của ngành nông nghiệp. Quan trọng hơn, nó đe dọa trực tiếp đến sinh kế cho nông dân, những người có nguồn thu nhập chính phụ thuộc vào đất đai. Bài toán đặt ra cho công tác quản lý sản xuất nông nghiệp thích ứng với xâm nhập mặn là phải tìm ra lời giải đồng bộ, vừa giải quyết vấn đề trước mắt, vừa có tầm nhìn dài hạn.

2.1. Thực trạng nhiễm mặn đất nông nghiệp và nguồn nước ngọt

Theo số liệu đo đạc của Sở Tài nguyên và Môi trường Đồng Nai được trích dẫn trong luận văn, nồng độ mặn trên các sông chính như sông Đồng Nai và sông Thị Vải đã vượt ngưỡng cho phép đối với cây trồng trong nhiều thời điểm của mùa khô. Bảng 2.1 của nghiên cứu cho thấy kết quả đo nồng độ muối tại sông Vàm Giồng vào tháng 3/2017 là 2.90‰. Tình trạng nhiễm mặn đất nông nghiệp cũng diễn ra tương ứng, làm giảm khả năng sinh trưởng của cây. Việc xâm nhập sâu của nước mặn không chỉ ảnh hưởng đến cây trồng mà còn tác động tiêu cực đến hoạt động nuôi trồng thủy sản nước ngọt, buộc người dân phải thay đổi hoặc đối mặt với rủi ro dịch bệnh và thua lỗ.

2.2. Hậu quả kinh tế xã hội đối với sinh kế cho nông dân

Hậu quả từ xâm nhập mặn không dừng lại ở những con số về năng suất. Nó gây ra một vòng luẩn quẩn về kinh tế và xã hội. Thu nhập của các hộ nông dân giảm sút, nhiều gia đình lâm vào cảnh khó khăn, buộc phải tìm kiếm các công việc phi nông nghiệp hoặc di cư. Sự bất ổn trong sản xuất nông nghiệp cũng ảnh hưởng đến an ninh lương thực tại chỗ và làm gia tăng áp lực lên hệ thống an sinh xã hội. Công tác quản lý sản xuất nông nghiệp đứng trước thách thức lớn trong việc ổn định đời sống người dân và tái cơ cấu lại nền kinh tế nông thôn. Việc thiếu các chính sách hỗ trợ nông nghiệp kịp thời và hiệu quả càng làm cho vấn đề trở nên trầm trọng hơn, ảnh hưởng đến sự phát triển kinh tế - xã hội Nhơn Trạch nói chung.

III. Giải pháp chuyển đổi cơ cấu cây trồng vật nuôi tối ưu

Để đối phó với thách thức từ xâm nhập mặn, giải pháp cốt lõi và mang tính chiến lược là thực hiện chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi một cách linh hoạt và khoa học. Thay vì kiên trì với các mô hình truyền thống dễ bị tổn thương, công tác quản lý sản xuất nông nghiệp cần định hướng người dân sang các mô hình mới có khả năng thích ứng cao hơn. Quá trình này đòi hỏi sự kết hợp giữa tri thức bản địa và tiến bộ khoa học kỹ thuật. Trọng tâm là việc xác định và phát triển các loại giống cây trồng chịu mặn, có giá trị kinh tế cao, phù hợp với điều kiện thổ nhưỡng đã thay đổi của Nhơn Trạch. Đồng thời, cần nhân rộng các mô hình nông nghiệp thông minh, điển hình là mô hình luân canh lúa - tôm, đã chứng tỏ hiệu quả kinh tế vượt trội tại các tỉnh Đồng bằng sông Cửu Long. Mô hình này không chỉ giúp nông dân “sống chung với mặn” mà còn biến thách thức thành cơ hội, tạo ra sản phẩm có giá trị cao hơn. Việc chuyển đổi thành công sẽ giúp giảm áp lực lên nguồn nước ngọt, cải tạo đất và tạo ra một hệ thống canh tác bền vững, góp phần ổn định sinh kế cho nông dân và nâng cao giá trị trên cùng một đơn vị diện tích.

3.1. Lựa chọn các giống cây trồng chịu mặn cho năng suất cao

Một trong những bước đi đầu tiên và quan trọng nhất trong chuyển đổi cơ cấu cây trồng là nghiên cứu, thử nghiệm và phổ biến các giống cây trồng chịu mặn. Các viện nghiên cứu nông nghiệp đã phát triển nhiều giống lúa, rau màu, cây ăn quả có khả năng chịu được nồng độ muối nhất định mà vẫn đảm bảo năng suất cây trồng. Chính quyền địa phương cần phối hợp với các nhà khoa học để đưa những giống này vào sản xuất tại Nhơn Trạch. Việc xây dựng các mô hình trình diễn, tổ chức tập huấn kỹ thuật và có chính sách hỗ trợ nông nghiệp về giống, vật tư sẽ khuyến khích nông dân mạnh dạn áp dụng, thay thế dần các giống cây trồng truyền thống không còn phù hợp.

3.2. Xây dựng mô hình nông nghiệp thông minh lúa tôm bền vững

Bài học kinh nghiệm từ huyện Thới Bình (Cà Mau) và Trần Đề (Sóc Trăng) cho thấy mô hình lúa - tôm là một hướng đi hiệu quả cho các vùng bị xâm nhập mặn. Mô hình này tận dụng mùa mưa để trồng lúa (nước ngọt) và mùa khô để nuôi tôm (nước lợ, mặn). Hệ thống canh tác này giúp cải tạo đất nhiễm phèn, mặn, giảm sử dụng phân bón hóa học và thuốc bảo vệ thực vật, tạo ra sản phẩm sạch. Việc áp dụng mô hình nông nghiệp thông minh này tại Nhơn Trạch không chỉ mang lại hiệu quả kinh tế cao gấp nhiều lần so với độc canh lúa mà còn là một giải pháp canh tác bền vững, hài hòa với tự nhiên và thích ứng tốt với biến đổi khí hậu.

IV. Bí quyết quản lý tài nguyên nước và hệ thống thủy lợi

Bên cạnh các giải pháp về sinh học và cơ cấu sản xuất, quản lý tài nguyên nước và hoàn thiện hạ tầng thủy lợi là yếu tố mang tính then chốt trong kế hoạch quản lý sản xuất nông nghiệp thích ứng với xâm nhập mặn. Một hệ thống thủy lợi hiệu quả đóng vai trò như “xương sống”, giúp chủ động điều tiết nguồn nước, ngăn mặn, trữ ngọt và cung cấp nước tưới tiêu kịp thời. Tại Nhơn Trạch, việc đầu tư nâng cấp, kiên cố hóa hệ thống thủy lợi nội đồng là nhiệm vụ cấp bách. Các công trình cống, đập ngăn mặn cần được rà soát, sửa chữa và xây mới tại các vị trí xung yếu để kiểm soát sự xâm nhập của nước biển vào sâu trong các kênh rạch. Đồng thời, cần xây dựng các hồ chứa nước ngọt quy mô nhỏ để tích trữ nước mưa, phục vụ cho sản xuất trong mùa khô. Song song với giải pháp công trình, các giải pháp phi công trình như áp dụng kỹ thuật canh tác tiên tiến tiết kiệm nước cũng cần được đẩy mạnh. Việc kết hợp đồng bộ giữa hạ tầng vững chắc và phương pháp canh tác thông minh sẽ tối ưu hóa việc sử dụng nguồn nước ngọt quý giá, giảm thiểu tác động của hạn hán và thiếu nước ngọt.

4.1. Cải tạo và nâng cấp hệ thống thủy lợi nội đồng ngăn mặn

Thực trạng cho thấy nhiều công trình thủy lợi tại Nhơn Trạch đã xuống cấp hoặc chưa được đầu tư đồng bộ. Luận văn đề xuất cần rà soát lại toàn bộ quy hoạch sử dụng đất và quy hoạch thủy lợi. Ưu tiên nguồn lực để xây dựng các cống ngăn mặn hai chiều, nạo vét kênh mương để tăng khả năng trữ nước ngọt và tiêu thoát nước hiệu quả. Việc vận hành hệ thống thủy lợi nội đồng một cách khoa học, dựa trên các kịch bản dự báo xâm nhập mặn, sẽ giúp bảo vệ các vùng sản xuất trọng điểm, đặc biệt là các diện tích trồng lúa và cây ăn quả còn lại, đảm bảo an toàn cho sản xuất.

4.2. Áp dụng kỹ thuật canh tác tiên tiến tiết kiệm nước ngọt

Việc quản lý tài nguyên nước không chỉ trông chờ vào công trình. Người nông dân cần được hướng dẫn các kỹ thuật canh tác tiên tiến giúp giảm lượng nước tưới mà vẫn đảm bảo năng suất. Các phương pháp như tưới nhỏ giọt, tưới phun sương cho cây màu, hay kỹ thuật “ướt khô xen kẽ” cho cây lúa đã được chứng minh hiệu quả. Bên cạnh đó, việc che phủ đất bằng rơm rạ, màng phủ nông nghiệp cũng giúp giữ ẩm cho đất, giảm bốc hơi nước. Việc áp dụng các kỹ thuật này không chỉ tiết kiệm nước mà còn giúp giảm chi phí sản xuất, nâng cao hiệu quả kinh tế cho người nông dân trong bối cảnh nguồn nước ngọt ngày càng khan hiếm.

V. Kết quả thực tiễn quản lý nông nghiệp tại Nhơn Trạch

Việc đánh giá thực trạng công tác quản lý sản xuất nông nghiệp thích ứng với xâm nhập mặn tại Nhơn Trạch giai đoạn 2015-2019 cho thấy những kết quả bước đầu nhưng cũng bộc lộ nhiều tồn tại. Về mặt tích cực, nhận thức của chính quyền và người dân về tác động của biến đổi khí hậu đã được nâng lên. Một số mô hình chuyển đổi cơ cấu cây trồng tự phát đã xuất hiện, chẳng hạn như chuyển từ đất lúa kém hiệu quả sang nuôi trồng thủy sản nước lợ, mang lại thu nhập cao hơn. Huyện cũng đã có những nỗ lực trong việc đầu tư vào hệ thống thủy lợi nội đồng. Tuy nhiên, các giải pháp triển khai còn manh mún, thiếu đồng bộ và chưa có một chiến lược tổng thể, dài hạn. Việc áp dụng khoa học kỹ thuật, đặc biệt là các giống cây trồng chịu mặnmô hình nông nghiệp thông minh, còn rất hạn chế. Hiệu quả kinh tế của các mô hình chuyển đổi chưa ổn định và tiềm ẩn nhiều rủi ro do thiếu sự liên kết trong sản xuất và tiêu thụ. Công tác quản lý vẫn còn những bất cập, chưa thực sự tạo ra động lực mạnh mẽ để người dân thay đổi tập quán canh tác lâu đời, dẫn đến quá trình thích ứng diễn ra chậm chạp.

5.1. Đánh giá hiệu quả kinh tế từ các mô hình sản xuất mới

Phân tích các số liệu về sản lượng và diện tích cây trồng, vật nuôi trong giai đoạn 2015-2019 (Bảng 2.5, 2.7, 2.8) cho thấy sự chuyển dịch nhất định. Diện tích trồng lúa có xu hướng giảm, trong khi diện tích và sản lượng nuôi trồng thủy sản tăng lên. Điều này phản ánh sự thích ứng tự nhiên của người dân trước tình trạng nhiễm mặn đất nông nghiệp. Tuy nhiên, sự gia tăng về hiệu quả kinh tế chưa bền vững. Năng suất cây trồng vẫn bấp bênh, phụ thuộc nhiều vào thời tiết. Các mô hình mới chủ yếu là nhỏ lẻ, thiếu sự đầu tư bài bản và kết nối vào chuỗi giá trị nông sản, do đó giá trị gia tăng không cao.

5.2. Những tồn tại và nguyên nhân trong công tác quản lý địa phương

Luận văn đã chỉ ra những hạn chế cốt lõi trong công tác quản lý tại Nhơn Trạch. Nguyên nhân chủ yếu bao gồm: (1) Quy hoạch sử dụng đất chưa theo kịp diễn biến của xâm nhập mặn; (2) Chính sách hỗ trợ nông nghiệp chưa đủ mạnh và thiếu cụ thể để khuyến khích chuyển đổi; (3) Năng lực của đội ngũ cán bộ nông nghiệp còn hạn chế; (4) Sự phối hợp giữa các ban ngành và giữa nhà nước với người dân, doanh nghiệp chưa chặt chẽ. Những tồn tại này làm giảm hiệu lực của các chủ trương, chính sách, khiến các giải pháp thích ứng khó đi vào thực tiễn và phát huy hiệu quả như mong đợi.

VI. Định hướng phát triển nông nghiệp Nhơn Trạch đến 2030

Để nông nghiệp Nhơn Trạch có thể phát triển bền vững trong bối cảnh biến đổi khí hậu ngày càng phức tạp, việc xây dựng một định hướng chiến lược dài hạn là vô cùng cần thiết. Tầm nhìn đến năm 2030 là phát triển một nền nông nghiệp thông minh, có giá trị gia tăng cao, thích ứng hiệu quả với xâm nhập mặn. Trọng tâm của định hướng này là sự thay đổi trong tư duy quản lý sản xuất nông nghiệp, chuyển từ bị động đối phó sang chủ động thích ứng và kiến tạo. Điều này đòi hỏi sự vào cuộc quyết liệt của cả hệ thống chính trị, với vai trò dẫn dắt của nhà nước. Cần phải có một khung chính sách hỗ trợ nông nghiệp đủ mạnh, đi cùng với một bản quy hoạch sử dụng đất linh hoạt, khoa học. Mục tiêu không chỉ dừng lại ở việc đảm bảo sinh kế cho nông dân mà còn phải hướng đến việc xây dựng các chuỗi giá trị nông sản hoàn chỉnh cho các sản phẩm đặc thù của vùng đất nhiễm mặn. Việc liên kết “4 nhà” (Nhà nước - Nhà khoa học - Nhà doanh nghiệp - Nhà nông) sẽ là chìa khóa để hiện thực hóa tầm nhìn này, đưa nông nghiệp Nhơn Trạch vượt qua thách thức và phát triển.

6.1. Vai trò của chính sách hỗ trợ nông nghiệp và quy hoạch sử dụng đất

Trong tương lai, chính sách của nhà nước phải đóng vai trò kiến tạo. Cần có các cơ chế cụ thể về tín dụng, bảo hiểm nông nghiệp, hỗ trợ giống và đào tạo kỹ thuật để nông dân yên tâm chuyển đổi cơ cấu cây trồng. Công tác quy hoạch sử dụng đất phải được rà soát và điều chỉnh lại, phân định rõ các vùng sản xuất chuyên canh phù hợp với mức độ nhiễm mặn: vùng trồng lúa chịu mặn, vùng chuyên canh cây ăn quả thích ứng, vùng nuôi trồng thủy sản lợ - mặn. Một quy hoạch tốt sẽ là cơ sở để đầu tư hạ tầng đồng bộ và thu hút doanh nghiệp vào lĩnh vực nông nghiệp.

6.2. Tầm nhìn chuỗi giá trị nông sản thích ứng biến đổi khí hậu

Phát triển bền vững đòi hỏi phải vượt ra khỏi khâu sản xuất. Cần tập trung xây dựng chuỗi giá trị nông sản cho các sản phẩm chủ lực sau chuyển đổi như tôm, cá, và các loại nông sản chịu mặn. Điều này bao gồm việc đầu tư vào công nghệ sau thu hoạch, chế biến, xây dựng thương hiệu và tìm kiếm thị trường đầu ra ổn định. Việc hình thành các hợp tác xã, tổ hợp tác kiểu mới sẽ giúp kết nối các hộ sản xuất nhỏ lẻ với doanh nghiệp, tạo ra các vùng nguyên liệu lớn, đảm bảo chất lượng và truy xuất nguồn gốc, từ đó nâng cao hiệu quả kinh tế và sức cạnh tranh cho nông sản Nhơn Trạch.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI. Nếu bạn thấy nội dung không chính xác hoặc có vấn đề, vui lòng Báo lỗi nội dung.

04/10/2025
Luận văn quản lý sản xuất nông nghiệp thích ứng với xâm nhập mặn trên địa bàn huyện nhơn trạch tỉnh đồng nai

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1: MỘT SỐ CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ QUẢN LÝ SẢN XUẤT NÔNG NGHIỆP THÍCH ỨNG VỚI XÂM NHẬP MẶN 1.1 Một số khái niệm: 1.1 Biến đổi khí hậu và xâm nhập mặn Biến đổi khí hậu: Có nhiều quan niệm về biến đổi khí hậu được đưa ra, nhìn chung biến đổi khí hậu được hiểu như sau: Theo Bộ Tài nguyên và Môi trường Việt Nam, biến đổi khí hậu là sự nóng lên toàn cầu và mực nước biển dâng, nguyên nhân chủ yếu do các loại khí nhà kính được phát thải từ hoạt động của con người [4]. Quan điểm của Viện Môi Trường và Phát Triển Quốc Tế (IIED) cho rằng, biến đổi khí hậu là sự thay đổi hình thái thời tiết và nhiệt độ trong một khoảng thời gian ngắn, trung, hoặc dài hạn mà đã xảy ra hoặc dự báo sẽ xảy ra phần lớn do hiệu ứng khí nhà kính được sản sinh ra từ hoạt động của con người. Hay biến đổi khí hậu là sự biến đổi các giá trị trung bình nhiều năm của các yếu tố khí tượng, như nhiệt độ, lượng mưa, độ ẩm, lượng nước bốc hơi của khí quyển trên trái đất [19]. Công ước khung của Liên Hiệp Quốc đưa ra khái niệm: biến đổi khí hậu là do hoạt động của con người gây ra một cách trực tiếp hoặc gián tiếp làm thay đổi thành phần của khí quyển toàn cầu và do sự biến động tự nhiên của khí hậu quan sát được trong thời kỳ có thể so sánh được [9].

Biểu hiện của biến đổi khí hậu đó là sự thay đổi về nhiệt độ, xói mòn, xâm nhập mặn và các hiện tượng thời tiết cực đoan … Nguyên nhân của biến đổi khí hậu do hai yếu tố chủ quan và yếu tố khách quan. Nguyên nhân khách quan là do sự biến đổi của tự nhiên như: sự biến đổi các hoạt động của mặt trời, sự thay đổi quỹ đạo trái đất, sự thay đổi vị trí và quy mô các châu lục, sự biến đổi các dòng hải lưu, sự lưu chuyển trong nội bộ hệ thống khí quyển. Nguyên nhân chủ quan là do con người, xuất phát từ sự thay đổi mục đích sử 9 dụng đất và nguồn nước, và sự gia tăng lượng phát thải khí CO2 và khí nhà kính từ các hoạt động con người. Các nghiên cứu rằng nguyên nhân do con người là chủ yếu: biến đổi khí hậu 90% do con người tạo ra [19].

Chính lượng phát thải nhà kính từ các hoạt động giao thông, công nghiệp, sử dụng năng lượng,… đang góp phần làm tăng thêm sự nóng lên toàn cầu và nước biển dâng. Ước tính lượng phát thải của Việt Nam đạt 120,8 triệu tấn và với tình hình phát triển kinh tế hiện nay, lượng phát thải này sẽ còn tăng mạnh trong thời gian tới [9]. Ngoài ra các hoạt động canh tác cũng làm góp phần làm suy thoái môi trường tự nhiên. Xâm nhập mặn: Theo Tổ chức Khí tượng Thế giới [8], chỉ có 2,5% tổng lượng nước trên trái đất là nước ngọt, còn lại là nước mặn.

Nguồn nước ngọt lớn nhất nằm dưới lòng đất và một phần nước mặt nằm rải rác ở nhiều khu vực trên thế giới. Nước ngầm được sử dụng rộng rãi để bổ sung cho nguồn nước mặt nhằm đáp ứng nhu cầu nước ngày càng tăng. Tuy nhiên, một trong những vấn đề đối với hệ thống nước ngầm ở những vùng ven biển chính là xâm nhập mặn. Xâm nhập mặn là quá trình thay thế nước ngọt trong các tầng chứa nước ở ven biển bằng nước mặn do sự dịch chuyển của khối nước mặn vào tầng nước ngọt.

Theo Nguyễn Chu Hồi (2001), sự xâm nhập mặn của nước biển sông được giải thích là do mùa khô, nước sông cạn kiệt khiến nước biển theo các sông, kênh dẫn tràn vào gây mặn. Hiện tượng tự nhiên này xảy ra hằng năm và do đó có thể dự báo trước. Nhưng bên cạnh đó, những vùng đất ven biển cũng có nguy cơ nhiễm mặn do thẩm thấu hoặc do tiềm sinh. Xâm nhập mặn làm giảm nguồn nước ngọt dưới lòng đất ở các tầng chứa nước ven biển do cả hai quá trình tự nhiên và con người gây ra.

Độ mặn là thước đo hàm lượng muối hòa tan trong nước. Thường được biểu diễn bằng phần nghìn (ppt) hoặc tỷ lệ phần trăm (%).1 khái quát về các loại nước của Việt Nam và Bảng 1.2 là phân loại nước mặn đối với con người và cây trồng. Phân loại nước ở Việt Nam theo hàm lượng muối (đơn vị đo: ppt) Nước ngọt Nước lợ Nước mặn Nước muối <1 1-10 >10 hoặc <30 >50 Nguồn: https://vi.org/wiki/N%C6%B0%E1%BB%9Bc_m%E1%BA%B7n Bảng 1. Phân loại nước mặn đối với con người và cây trồng Kiểu nước mặn Hàm lượng (ppt) Nước biển 35 Độ mặn uống được tối đa cho người 3 Độ mặn thích hợp cho người 0,5 tới 0,75 Sinh vật trong sa mạc Nhỏ hơn 15; tối đa 25 - Nhỏ hơn 0,75: không có rủi ro mặn hóa - 0,75 - 1,5: giảm năng suất các cây trồng nhạy cảm mặn Nước tưới (đối với tưới tiêu và các điều - 1,5 - 3,5: giảm năng suất nhiều loại các kiện đất đai tối ưu) cây trồng - 3,5 - 6,5: chỉ có cây trồng chịu mặn - 6,5 - 8,0: giảm năng suất các cây trồng chịu mặn Nguồn: https://vi.org/wiki/N%C6%B0%E1%BB%9Bc_m%E1%BA%B7n Những yếu tố ảnh hưởng đến xâm nhập mặn: Trong tự nhiên, bề mặt phân cách giữa nước ngọt và nước mặn hiếm khi ổn định.

Quá trình bổ sung nước hoặc khai thác nguồn nước ngầm đều dẫn đến sự dịch chuyển bề mặt phân cách giữa nước ngọt và nước mặn từ vị trí này sang vị trí khác. Sự dịch chuyển đó có thể làm mực nước dâng lên hoặc hạ xuống tùy thuộc vào việc nước ngọt đổ vào tầng ngậm nước tăng hay giảm. Do đó, sự thay đổi lượng nước ngầm gây ảnh hưởng trực tiếp đến xâm nhập mặn. Tình trạng này sẽ tăng nhanh hơn nếu giảm bổ sung nước ngầm.

11 Những thay đổi do biến đổi khí hậu như lượng mưa và nhiệt độ, thay đổi mục đích sử dụng đất cũng có thể làm thay đổi đáng kể tốc độ bổ sung nước ngầm cho các hệ thống tầng ngậm nước, gây ảnh hưởng đến quá trình xâm nhập mặn [5]. Ảnh hưởng của biến đổi khí hậu: Biến đổi khí hậu có thể ảnh hưởng sâu sắc đến chu trình thủy văn thông qua thay đổi mô hình lượng mưa, lượng nước bốc hơi và độ ẩm của đất. Lượng mưa có thể tăng hoặc giảm và phân bố không đồng đều trên toàn cầu. Hiện tượng này sẽ làm thay đổi lượng nước ngầm được bổ sung, đồng thời thay đổi tốc độ xâm nhập mặn vào tầng ngậm nước ven biển.

Vì vậy, thông tin về các tác động của biến đổi khí hậu ở địa phương hoặc khu vực, các quá trình thủy văn và tài nguyên nước ven biển trở nên rất quan trọng. Ảnh hưởng của quá trình thay đổi mục đích sử dụng đất: Các hoạt động thay đổi mục đích sử dụng đất và quản lý đất cũng có thể làm thay đổi trực tiếp đến hệ thống thủy văn, chế độ bốc hơi nước và dòng chảy. Do đó, sử dụng đất cũng đóng vai trò quan trọng trong việc đánh giá nguồn nước ngầm [8]. Đối với các cửa sông tiếp giáp với biển, hiện tượng xâm nhập mặn từ biển vào các sông xảy ra khá phổ biến, đặc biệt vào mùa khô.

Khi đó lượng nước từ sông đổ ra biển giảm, thủy triều từ biển sẽ mang nước mặn lấn sâu vào lòng sông làm cho nước sông bị nhiễm mặn. Nồng độ mặn sẽ giảm dần khi càng tiến sâu vào đồng bằng [17]. Mức độ xâm nhập mặn vào sâu trong nội đồng phụ thuộc vào nhiều yếu tố: - Lượng nước từ thượng nguồn đổ về, lưu lượng càng giảm, nước mặn càng tiến sâu vào đất liền. - Biên độ triều vùng cửa sông: vào giai đoạn triều cường, nước mặn càng lấn sâu vào.

- Địa hình: Địa hình bằng phẳng là yếu tố thuận lợi cho sự xâm nhập mặn. 12 - Các yếu tố khí tượng: Gió từ biển hướng vào đất liền, nhiệt độ cao, mưa ít,. sẽ là tác nhân làm nước mặn lấn sâu vào nội địa. - Hoạt động kinh tế của con người: Nhu cầu sử dụng nước ngọt vào mùa khô tăng sẽ làm giảm nguồn nước ngầm, làm tăng nguy cơ xâm nhập mặn [17].2 Quản lý và quản lý nhà nước về nông ghiệp Quản lý: Hoạt động quản lý bắt nguồn từ sự phân công, hợp tác lao động, phát sinh khi cần có sự nỗ lực tập thể để thực hiện mục tiêu chung.

Quản lý diễn ra ở mọi tổ chức, từ phạm vi nhỏ đến phạm vi lớn, từ đơn giản đến phức tạp. Với ý nghĩa phổ biến thì quản lý là hoạt động nhằm tác động một cách có tổ chức và định hướng của chủ thể quản lý lên đối tượng quản lý để điều chỉnh các quá trình xã hội và hành vi của con người, nhằm duy trì tính ổn định và phát triển của đối tượng quản lý theo những mục tiêu đã định. Quản lý bao gồm các yếu tố sau: - Chủ thể quản lý: là tác nhân tạo ra các tác động quản lý. Chủ thể có thể là một cá nhân hoặc tổ chức.

- Khách thể quản lý: chịu sự tác động hay chịu sự điều chỉnh của chủ thể quản lý, đó là hành vi của con người và các quá trình xã hội. - Đối tượng quản lý: tiếp nhận sự tác động của chủ thể quản lý. Tùy theo từng loại đối tượng khác nhau mà người ta chia thành các dạng quản lý khác nhau. - Mục tiêu quản lý: là cái đích cần phải đạt tới tại một thời điểm nhất định do chủ thể quản lý định trước.

Quản lý là một hoạt động phức tạp và nó phụ thuộc vào nhiều yếu tố khác nhau. Các yếu tố đó là: con người; hệ thống và tư tưởng chính trị; tổ chức; thông tin; văn hóa… Quản lý nhà nước: Quản lý nhà nước xuất hiện cùng với sự xuất hiện của Nhà nước. Quản lý nhà nước thay đổi phụ thuộc vào chế độ chính trị, trình độ phát triển kinh tế - xã hội của mỗi quốc gia qua các giai đoạn lịch sử. 13 Có thể hiểu quản lý nhà nước là một dạng quản lý xã hội đặc biệt, mang tính quyền lực nhà nước và sử dụng pháp luật nhà nước để điều chỉnh các hành vi của con người trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội do các cơ quan trong bộ máy nhà nước thực hiện, nhằm thỏa mãn nhu cầu hợp pháp của con người, duy trì sự ổn định và phát triển của xã hội.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ