Chương 1: Cơ sở khoa học quản lý nhà nước về Công giáo - Chương 2: Thực trạng hoạt động và quản lý nhà nước về Công giáo tại huyện Kim Sơn, tỉnh Ninh Bình - Chương 3: Phương hướng và giải pháp hoàn thiện quản lý nhà nước đối với hoạt động Công giáo trên địa bàn huyện Kim Sơn, tỉnh Ninh Bình. 7 Chƣơng 1 CƠ SỞ KHOA HỌC QUẢN LÝ NHÀ NƢỚC VỀ CÔNG GIÁO 1. Một số khái niệm liên quan đến đề tài 1. Tôn giáo, tổ chức tôn giáo, hoạt động tôn giáo * Tôn giáo Tôn giáo được hình thành và phát triển trong các cộng đồng dân tộc khác nhau; vì thế, tôn giáo rất đa dạng và phong phú; tùy cách tiếp cận nghiên cứu khác nhau sẽ có các quan niệm khác nhau về tôn giáo.
Tiếp cận từ góc độ pháp lý, Khoản 5, Ðiều 2, Luật TNTG giải thích: “Tôn giáo là niềm tin của con người tồn tại với hệ thống quan niệm và hoạt động bao gồm đối tượng tôn thờ, giáo lý, giáo luật, lễ nghi và tổ chức” [16, tr. * Tổ chức tôn giáo Khoản 12, Ðiều 2, Luật TNTG giải thích:“Tổ chức tôn giáo là tập hợp tín đồ, chức sắc, chức việc, nhà tu hành của một tôn giáo được tổ chức theo một cơ cấu nhất định được Nhà nước công nhận nhằm thực hiện các hoạt động tôn giáo” [16, tr. * Hoạt động tôn giáo Khoản 11, Ðiều 2, Luật TNTG giải thích: “Hoạt động tôn giáo là hoạt động truyền bá tôn giáo, sinh hoạt tôn giáo và quản lý tổ chức của tôn giáo” [16, tr. Công giáo và hoạt động Công giáo * Công giáo Công giáo là tôn giáo có nguồn gốc Kitô.
Kitô giáo ra đời vào khoảng thế kỷ thứ nhất, Công nguyên, ở phía Ðông Ðế quốc La Mã cổ đại. Ðế quốc được hình thành bởi việc xâm chiếm các quốc gia láng giềng nhỏ hơn, trong đó có lãnh thổ của dân tộc Do Thái. Trước những mâu thuẫn gay gắt trong xã hội đó, nhiều cuộc chiến tranh đã nổ ra của tầng lớp nô lệ, các dân tộc bị áp bức nhưng đều bị đàn áp đẫm máu, các dân tộc nhỏ gần như bị diệt vong. 8 Trong hoàn cảnh đó, dân tộc Do Thái bị ly tán bởi chiến tranh đã gửi gắm những niềm mong ước của mình vào một thế lực siêu nhiên, một “Đấng cứu thế” để giải phóng dân tộc, giải phóng đất nước, xây dựng lại vương quốc và Kitô giáo ra đời trong hoàn cảnh như vậy.
Trong quá trình phát triển, Kitô giáo đã có những cuộc đại phân ly để hình thành nên các tôn giáo khác có cùng nguồn gốc Kitô như: Chính Thống giáo (1054), Tin Lành (1517), Anh giáo (1534) và biến cố này đã mang đến cho Kitô giáo truyền thống một tên gọi mới là Công giáo. Tên gọi Công giáo xuất phát từ chữ Catholique, có nghĩa là tôn giáo chung, tôn giáo phổ quát, phổ biến cho toàn thế giới. Cho đến nay, việc xác định thời gian xuất hiện tên gọi Công giáo vẫn chưa có sự thống nhất. Có tài liệu cho rằng, tên Công giáo có từ thế kỷ thứ II, nhưng đến cuộc đại phân ly lần thứ nhất (năm 1054) thì tên gọi Công giáo mới được sử dụng phổ biến [6, tr.
Hiện nay, còn có những cách gọi khác nhau về Công giáo trong các cơ quan Ðảng, Nhà nước và Chính quyền địa phương như: Thiên Chúa giáo, đạo Công giáo. Cách gọi này không phù hợp vì, Thiên Chúa giáo là danh từ chung chỉ các tôn giáo cùng thờ Thiên Chúa (Công giáo, Tin lành, Chính thống giáo); nếu gọi như vậy sẽ không phân biệt được đâu là Công giáo với các tôn giáo có nguồn gốc Kitô. Cách gọi đạo Công giáo cũng không đúng vì “giáo và đạo” là hai từ cùng chỉ một nghĩa là lớn, là con đường lớn, nên tên gọi chính xác nhất phải là Công giáo. Vì vậy, cần thống nhất trong cán bộ, đảng viên chỉ dùng tên gọi Công giáo trong các văn bản cũng như giao tiếp đối với tôn giáo này [6, tr.
* Hoạt động Công giáo Khoản 11, Ðiều 2, Luật TNTG giải thích: “Hoạt động tôn giáo là hoạt động truyền bá tôn giáo, sinh hoạt tôn giáo và quản lý tổ chức của tôn giáo” [16, tr. 9 Công giáo được xác định là một tôn giáo. Theo cách hiểu trên thì hoạt động Công giáo bao gồm những nội dung cơ bản sau: - Hoạt động đăng ký sinh hoạt tôn giáo tập trung; đăng ký hoạt động Công giáo; - Hoạt động công nhận, thành lập, chia tách, sáp nhập, hợp nhất tổ chức Công giáo trực thuộc Công giáo; - Hoạt động phong phẩm, bổ nhiệm, bầu cử, suy cử, thuyên chuyển, cách chức, bãi nhiệm Hồng y, Giám mục, Linh mục.; - Hoạt động thành lập, quản lý, giải thể các trường thần học, mở lớp bồi dưỡng những người chuyên hoạt động trong lĩnh vực Công giáo; - Hoạt động sinh hoạt Công giáo trong nước; - Hoạt động sinh hoạt Công giáo có yếu tố nước ngoài; - Hoạt động trong lĩnh vực xuất bản, giáo dục, y tế, bảo trợ xã hội, từ thiện nhân đạo có liên quan đến yếu tố Công giáo; - Hoạt động quản lý tài sản; cải tạo, trùng tu, nâng cấp, xây mới công trình kiến trúc Công giáo; - Hoạt động quan hệ quốc tế của tổ chức Công giáo, chức sắc và tín đồ Công giáo. Chức sắc, chức việc, tín đồ, cơ sở tôn giáo - Khoản 8, Ðiều 2, Luật tín ngưỡng, tôn giáo giải thích: “Chức sắc là tín đồ được tổ chức tôn giáo phong phẩm hoặc suy cử để giữ phẩm vị trong tổ chức”[16, tr.
- Khoản 9, Ðiều 2, Luật tín ngưỡng, tôn giáo giải thích:“Chức việc là người được tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc, tổ chức được cấp chứng nhận đăng ký hoạt động tôn giáo bổ nhiệm, bầu cử hoặc suy cử để giữ chức vụ trong tổ chức” [16, tr. - Khoản 6, Ðiều 2, Luật tín ngưỡng, tôn giáo giải thích:“Tín đồ là người tin, theo một tôn giáo và được tổ chức tôn giáo đó thừa nhận” [16, tr. 10 - Khoản 14, Ðiều 2 Luật tín ngưỡng, tôn giáo giải thích: “Cơ sở tôn giáo gồm chùa, nhà thờ, nhà nguyện, thánh thất, thánh đường, trụ sở của tổ chức tôn giáo, cơ sở hợp pháp khác của tổ chức tôn giáo [16, tr. Quản lý nhà nước về tôn giáo Theo nghĩa rộng, QLNN về tôn giáo là quá trình sử dụng quyền lực nhà nước (quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp) của các cơ quan nhà nước theo quy định của pháp luật để tác động, điều chỉnh, hướng các hoạt động tôn giáo của tổ chức, cá nhân tôn giáo diễn ra phù hợp với pháp luật nhằm đạt được mục tiêu cụ thể trong quản lý.
Theo nghĩa hẹp, QLNN về tôn giáo là quá trình chấp hành pháp luật và tổ chức thực hiện pháp luật của các cơ quan trong hệ thống hành pháp (Chính phủ, UBND các cấp) để điều chỉnh các hoạt động tôn giáo diễn ra theo đúng quy định của pháp luật. Căn cứ mục đích nghiên cứu của luận văn, tác giả tiếp cận khái niệm QLNN theo nghĩa hẹp, đó là hoạt động quản lý xã hội của các cơ quan hành pháp Nhà nước; nói cách khác, bằng những công cụ, biện pháp và thẩm quyền được giao, những cơ quan này sẽ tác động vào các mối quan hệ xã hội, các nhóm đối tượng trong xã hội để thực hiện những mục tiêu, nhiệm vụ theo sự phân cấp. Quản lý nhà nước về Công giáo Ban Tôn giáo Chính phủ quan niệm: QLNN đối với hoạt động tôn giáo là quá trình chấp hành pháp luật và tổ chức thực hiện pháp luật của các cơ quan trong hệ thống hành pháp (Chính phủ và UBND các cấp) để điều chỉnh các hoạt động tôn giáo của tổ chức, cá nhân tôn giáo diễn ra theo quy định của pháp luật [6, tr. Hoàng Văn Chức quan niệm: QLNN đối với các hoạt động tôn giáo là quá trình tác động, điều hành, điều chỉnh để các hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo diễn ra đúng quy định của pháp luật [19, tr.
11 Công giáo là một tôn giáo, có tổ chức chặt chẽ, hoạt động hợp pháp tại Việt Nam. Vì vậy, có thể hiểu QLNN về Công giáo thực chất là những tác động, điều hành của các cơ quan nhà nước tới các hoạt động của tổ chức Công giáo, bao gồm: quản lý việc phong chức, phong phẩm, bổ nhiệm, bầu cử, suy cử, điều động, thuyên chuyển nhân sự trong tổ chức Công giáo; quản lý về đại hội, hội nghị của tổ chức tôn giáo; quản lý việc xây dựng, sửa chữa cơ sở thờ tự; quản lý việc kinh doanh, xuất nhập khẩu kinh sách và đồ dùng việc đạo; quản lý hoạt động từ thiện, nhân đạo; quản lý hoạt động quốc tế của tổ chức Công giáo. Sự cần thiết và những yếu tố ảnh hƣởng đến quản lý nhà nƣớc về Công giáo 1. Sự cần thiết quản lý nhà nước về Công giáo * Thứ nhất, thực hiện chức năng quản lý nhà nước Khoản 3, Ðiều 98, Hiến pháp Việt Nam 2013 khẳng định: “Nhà nước thống nhất quản lý về kinh tế, văn hóa, xã hội, giáo dục, y tế, khoa học, công nghệ, môi trường, thông tin, truyền thông, đối ngoại, quốc phòng, an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội” [13].
Công giáo là một hiện tượng lịch sử - xã hội, là sản phẩm mang yếu tố văn hoá do con người sáng tạo ra; là một thực thể xã hội được hình thành, phát triển, tồn tại khách quan, lâu dài cùng với quá trình phát triển của xã hội loài người. Quá trình hình thành và phát triển Công giáo, bên cạnh những mặt tính cực, còn tồn tại một số tiêu cực nhất định, một bộ phận chức sắc, tín đồ Công giáo lợi dụng quyền tự do TNTG để gây mất ổn định chính trị, xã hội. Chính vì vậy, QLNN về Công giáo là cần thiết, khách quan. Nhà nước tiến hành các biện pháp định hướng, điều chỉnh và tác động đến hoạt động Công giáo để phát huy giá trị tích cực, hạn chế tiêu cực; hướng Công giáo hoạt động theo đúng quy định đã được ghi trong Luật TNTG và theo đúng tinh thần Thư chung 1980 của Hội đồng Giám mục Việt Nam:“Sống phúc âm giữa lòng dân tộc để phục vụ hạnh phúc của đồng bào”.
12 Mâu thuẫn giữa nhà nước với tôn giáo là một tất yếu khách quan. Bởi, nhà nước Việt Nam là nhà nước thế tục, hình thái chủ thể của xã hội Việt Nam là duy vật - vô thần nhưng tôn giáo lại là sự kết hợp giữa duy tâm và thần luận. Ðứng trên quan điểm hệ thống, các tôn giáo là tiểu hệ của hệ thống xã hội Việt Nam, các kết cấu thứ bậc trong tiểu hệ thống chỉ quyết định, quy định phương thức hoạt động của riêng nó.