Chương II QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ HOẠT ĐỘNG TÔN GIÁO ■ ■ I. NHỮNG VẤN ĐỂ CHUNG VÊ TÔN GIÁO 1. Nguồn gốc, đặc điểm và vai trò của tôn giáo 1. Nguồn gốc kinh tế xã hội của tôn giáo L oài người n gay từ khi bước sa n g thời k ỳ đ ổ đ á m ớ i đã biết cách tổ chức một hình thái xã hội ổn định, đó là mô hình xã hội thị tộc.
Cùng với nó, con người cũng luôn tìm cách lao động sản xuất và tác động vào thiên nhiên để duy trì sự sống. Ý thức về tôn giáo bắt đầu được hình thành từ đây. Thoạt tiên nó xuất hiện dưới hình thức totem giáo “Totem giáo là hình thức đầu tiên của sự nhận thức tôn giáo về mối quan hệ họ hàng”, “totem giáo là sự nhân cách hoá tập thể, bằng hình thức con thú hoặc cây cỏ thần thoại”. Bản chất của totem giáo bắt nguồn từ nhân sinh quan tập thổ, với quan điểm cho rằng nguồn gốc của con người là một loài động thực vật nào đó.
Hình thức totem giáo vẫn còn dấu ấn trong nhiều cộng đồng dân tộc với việc thờ phụng những con vật thiêng. Trong xã hội thị tộc đồng thời xuất hiện quan niệm “Vạn vật hữu linh” (Mọi vật đều chứa đựng sự linh thiêng). Quan niệm này được hình thành do con người không thể lý giải được các hiộn tượng bí ẩn của tự nhiên. Từ đó xuất hiện tín ngưỡng bái vật giáo, “bái vật giáo là sự sùng bái tất cả các vị thần có trong bất cứ một đối tượng vật chất vô tri, kể cả thân thể con người và động vật ở trên mặt đất” (việc thờ linga và yoni của đồng bào Chãm; hình thức dán bùa vào các nông cụ vào dịp tết nguyên đán.
đều là dấu tích của bái vật giáo). Khi con người bước vào xã hội bộ lạc thì xuất hiộn việc tôn thờ thần bộ lạc - thường là những người anh hùng có công với bộ lạc. Trong lễ nghi hiến tế dâng lễ vật lên thẩn có kèm theo nhảy múa, nhập thân sức mạnh cùa thẩn linh vào con người. Đó là hình thức Saman giáo.
Theo Anghen “Trong đời sống xã hội, văn hoá các dân tộc, tín ngưỡng tôn giáo luôn có sự kế thừa của các thời đại trước. Những biểu tượng tôn giáo ban đầu phần nhiều là biểu tượng chung ở trong từng nhóm dân tộc, sau khi các nhóm đó được phân chia ra, những biểu tượng ấy tiếp tục phát triển theo đặc thù ở vùng dân tộc phù hợp với điều kiện sinh hoạt của dân tộc đó”. Khi xã hội có sự phân chia giai cấp, nhân loại bước vào giai đoạn lịch sử cận đại, hiện đại, tôn giáo bắt đầu mang tính khu vực, tính toàn cầu. Đây là 48 xu thế của các tôn giáo lớn như Thiên chúa giáo, Phật giáo, Hồi giáo.
Nguồn gốc nhận thức của tôn giáo ở một giai đoạn lịch sử nhất định, nhận thức của con người về tự nhiên, .Jíã hội và chính bản thân mình còn có hạn. Ngay cả khi khoa học xuất hiện với những lý giải về mọi hiện tượng thì vẫn có những vấn đề chưa thổ giải đáp được. Những gì khoa học chưa tìm ra tôn giáo đều thay thế. Nguồn gốc nhận thức của tôn giáo còn gắn liền với đặc điểm nhận thức của con người với thế giới khách quan, đó là một quá trình phức tạp và đầy mâu thuẫn.
Một mặt hình thức phản ánh hiện thực càng đa dạng phong phú bao nhiêu thì con người có cơ hội nhận thức đầy đủ và sâu sắc vẻ thế giới khách quan bấy nhieu. Nhưng cũng chính vì vậy mà khi nhận thức bị tuyệt đối hoá, vai trò của chủ thể nhận thức bị cường điệu sẽ dẫn đến thiếu khách quan, mất cơ sở thực tế dễ dẫn đến xây dựng những biểu tượng tôn giáo. Nguồn gốc tâm lý của tôn giáo: Con người khi đối diện với những điều thần bí không thể lý giải được thường mang trong mình sự sợ hãi, bên cạnh đó sự ngưỡng mộ, lòng biết ơn, kính trọng cũng được thể hiện qua tín ngưởng, tôn giáo. Tín ngưỡng tôn giáo đã góp phần bù đắp, xoa dịu, an ủi nha cầu tinh thần của một bộ phận nhân dân.
Vì thế tôn giáo dù chỉ là hạnh phúc hư ảo, song người ta vẫn cần đến nó. T&TG 49 Tóm lại, tôn giáo là một hiện tượng xã hội mang tính lịch sử, sự ra đời, tồn tại và mất đi của tôn giáo là do trình độ phát triển ỉẹinh tế, xã hội, văn hoá quy định chứ không thể từ ý muốn chủ quan của con người. Khái niệm về tôn giáo Cơ sở của khái niệm: Tín ngưỡng được coi là gốc của tôn giáo, đó là loại niềm tin đặc biệt. Nó cũng bắt nguồn từ thực tiễn kinh tế xã hội, từ nhận thức, từ nguồn gốc tâm lý tình cảm.
Ví dụ như ớ Việt Nam, tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên được hình thành từ thực tế cuộc sống gia đình nông nghiệp phụ quyền, cha mẹ rất có công trong việc xây dựng cho con cái, đặc biệt là con trai, nên cha mẹ được thờ phụng khi chết. Mọi tín ngưỡng, tôn giáơ đều có chung một thế giới trong trí tưởng tượng khác hoàn toàn với thế giới hiện thực mà con người đang sống. Chính tính chất đa dạng của tôn giáo đã khiến nố có nhiều định nghĩa. Phơbach (1804-1872) giải thích tôn giáo như là sự phản ánh tổn tại của chính bản thân con người.
Ông cho rằng tôn giáo là sự sùng bái thần tượng con nguời đã khách quan hoá bản thân nhưng lại không nhận ra khách thể chính là bản chất con người. Nói cách khác, tôn giáo là thái độ của con người đối với chính mình nhưng lại làm như đấy là bản chất khác của mình, nó xa lạ, thậm chí. đối lập với mình. Còn Anghen lại cho rằng “Tất cả các tôn giáo chẳng qua chỉ là sự phản ánh hư ảo vào đầu óc của con người của 50 những lực lượng bên ngoài chi phối cuộc sống hàng ngày của họ, chỉ là sự phản ánh trong đó những lực lượng ỏ trần thế đã mang hình thức về lực lượng siêu trần thế”.
Đesplend quan niệm “Tôn giáo là những gì con người muốn thu lượm thêm, vì nó là một phần văn hoá do con người sáng tạo nên. tôn giáo là một sản phẩm xã hội mang tính xã hội và văn hoá”. Mac “Sự khốn cùng của tôn giáo, một mặt là biểu hiện của hiện thực, mặt khác là sự phản kháng chống lại sự khốn cùng của hiện thực ấy. Tôn giáo là tiếng thở dài của quần chúng bị áp bức, là trái tim của thế giới không có trái tim, cũng như nó là tinh thần của những điểu kiện xã hội không có tinh thần, tôn giáo là thuốc phiện của nhân dân”.
Các định nghĩa về tôn giáo đều bộc lộ tính hai mặt của nó: - Mặt thứ nhất là vai trò của tôn giáo trong việc hợp thức hoá trật tự xã hội đã được thiết lập cũng như những hoàn cảnh xã hội dành cho nó. - Mặt thứ hai là vai trò phê phán, phản bác và thậm chí cách mạng của tôn giáo. Ngày nay nhiều định nghĩa về văn hoá đều cho rằng tín ngưỡng, tôn giáo là một bộ phận của vãn hoá. Chính vì thế Tổ chức Văn hoá giáo dục khoa học của Liên hợp quốc (Unesco) đã định nghĩa về văn hoá: “Văn hoá là tổng thể các hệ thống giá trị, bao gồm các mặt tình cảm, tri thức, vật chất, tinh thần của xã hội.
Nó không đơn thuần bó hẹp trong sáng tác nghệ thuật, mà bao gồm cả phương thức 51 sống, những quyền cơ bản của con người, truyền thống tín ngưỡng”. Mỗi tôn giáo được cấu thành và tồn tại gồm 4 yếu tố: + Giáo chủ: Thiên chúa giáo giáo chủ là đức chúa Ba ngôi; Hồi giáo giáo chủ là Thánh Ala; phật giáo coi Thích ca Mâu ni là giáo chủ. + Giáo lý: Bao gồm các kinh sách giải thích về sáng thế, các kinh sách về giới luật, hành đạo. + Giáo hội: là tổ chức của các tín đồ theo đạo.
Đây là yếu tố niềm tin, điều kiện để duy trì và mở rộng tôn giáo. + Giáo đường: Nơi tôn thờ thần tượng, nơi giảng kinh thuyết pháp cùa mỗi tôn giáo. Xét về bản chất của tôn giáo có thể thấy: Con người tư duy thế nào, Thượng đế cùa họ cũng vậy; con người có bao nhiêu giá trị thì Thượng đế của họ cũng có bấy nhiêu. Ý kiến về Thượng đế là sự tự ý thức của con người; sự nhận thức về Thượng đế thường là sự nhận thức về con người.
Durkheim phát hiện “Tất cả những niềm tin mang tính tôn giáo đã được biết đến dù đơn giản hay phức tạp, đều có một tính chung; chúng giả định một sự phân loại các sự vật, hiện thực hay tâm tưởng mà con người hình dung được thành hai loại đối lập nhau. thể hiện chính xác thành hai từ: Cái thế tục và cái thiêng liêng”. Trong đó cái thiêng được hiểu như là sự bí ẩn và cấm kị, tiềm ẩn trong tiềm thức của con người. Đứng trước nó con người cảm thấy bất lực, yếu đuối, phải cầu viện đến sức mạnh siêu 52 nhiên của nó để mang lại cảm giác yên lành.
Từ đó có thể thấy đối tượng của tôn giáo là thế giới siêu nhiên, mang tính thiêng liêng, được chấp nhận một cách trực giác và tác động qua lại một cách siêu thực (hay hư ảo) với con người nhằm lý giải những vấn đề của trần thế cũng như thế giới bên kia. Thế giới đó được thể hiện thông qua những nội dung và hành vi tôn giáo, tức là những nghi lễ, việc thờ cúng, kiêng kị. được một sô' đông người tuân theo. Hình thức biểu hiện của tôn giáo rất đạ dạng, tùy thuộc vào thời kỳ lịch sử, vào trình độ phát triển kinh tế, hoàn cảnh địa lý - văn hoá, tâm lý xã hội của các dân tộc khác nhau.
Sự đa dạng của văn hoá xuất phát từ hai khuynh hướng phát triển: * Các tôn giáo độc thần như đạo Do Thái, đạo Hồi, đạo Thiên Chúa, coi chỉ có một đấng sáng thế, toàn năng duy nhất, phủ nhận các tôn giáo khác. * Các tôn giáo đa/phiếm thần: là các tôn giáo dân tộc (Chủ yếu xuất hiện ở Phương Đông) như Ấn Độ giáo, Đạo thờ cúng tổ tiên, Đạo Phật. Ở đó suy tôn nhiều vị thần linh là những người sáng lập hoặc có công phát triển đạo, thiên về thờ cúng nhiên thần và nhân thần. Các tín đồ dễ chấp nhận các đối tượng thờ cúng của các tôn giáo khác nhau, ngược lại cũng sẵn sàng tham gia nghi lễ của các tôn giáo khác.