MỞ ĐẦU 1.1 Tính cấp thiết của đề tài Phát triển sản xuất, đẩy mạnh xuất khẩu các mặt hàng nông sản là một chủ trương kinh tế lớn của Đảng và Nhà nước ta trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Là một trong những mặt hàng xuất khẩu chủ lực của nước ta, cây chè mang lại hiệu quả kinh tế cao không chỉ trong sản xuất chế biến để xuất khẩu, đáp ứng nhu cầu trong nước mà còn góp phần tích cực ổn định đời sống kinh tế xã hội, xóa đói giảm nghèo, đưa văn minh công nghiệp tới vùng sâu, vùng xa. Vì vậy, nghiên cứu những vấn đề liên quan đến việc sản xuất cây chè có ý nghĩa quan trọng trong việc tồn tại, phát triển của ngành chè. Cây chè (Camellia sinensis O.Kuntze) là cây công nghiệp dài ngày, có chu kỳ sản xuất, kinh doanh từ 30 - 50 năm, mau cho sản phẩm, đem lại hiệu quả kinh tế cao và ổn định (Trịnh Xuân Ngọ, 2009) [8].
Chè là loại cây trung tính ưa sáng nhưng không gay gắt, không ưa nước nhưng cũng cần nước ở mức độ vừa phải, chịu được hạn và rét. Cây chè rất thích hợp với vùng đồi núi, trung du Bắc Bộ và Tây Nguyên nước ưta. Cây chè có phạm vi thích ứng rộng, nhưng là một cây lấy lá, chất lượng chè búp tươi phụ thuộc vào điều kiện đất đai, thời tiết khí hậu. Nói chung chè trồng ở vùng trung du, miền núi có chất lượng cao hơn.
Ở vùng này, cây chè được trồng theo phương thức nông lâm kết hợp, tận dụng tối đa không gian và diện tích canh tác nhằm tạo ra sản phẩm chè chất lượng cao (Lê Tất Khương, 2003) [5]. Theo Hiệp hội chè Việt Nam năm 2012, nước ta có khoảng 124.000 ha chè (trong đó vùng miền núi phía Bắc chiếm 68,94% diện tích chè của cả nước), lượng chè xuất khẩu trên 160.000 tấn (chiếm 76% trên tổng sản lượng chè), với kim ngạch xuất khẩu đạt 243 triệu USD, xu hướng trong thời gian n 2 tới của ngành chè Việt Nam là tăng giá trị và chất lượng sản phẩm. Trong những năm qua, nhờ việc ứng dụng thành công nhiều tiến bộ kỹ thuật trong sản xuất chè như giống mới, kỹ thuật canh tác đã làm cho năng suất, sản lượng chè tăng lên rõ rệt, nhiều nương chè đạt năng suất từ 15 - 20 tấn/ha, có những nương chè đạt > 25 tấn/ha (Lê Tất Khương, 2003) [5]. Đã từ lâu chè được coi là một trong những thứ nước uống cần thiết cho con người, chè là một đồ uống hấp dẫn và thực sự có lợi cho sức khỏe.
Một số nghiên cứu khoa học gần đây ở cả phương Đông và phương Tây đã cho thấy rằng, uống chè đều đặn có thể giảm mỡ trong máu, ngăn chặn tích tụ cholesteron và phóng xạ… Vùng chè Tân Cương với thương hiệu nổi tiếng, chè được trồng ở trong vùng đang chiếm lĩnh thị trường trong nước và ngoài nước. Cây chè được trồng trên đất vùng chè Tân Cương đã được khoảng thời gian dài. Điều này cho thấy, cây chè đã gắn bó với con người và vùng đất nơi đây từ rất lâu đời và không chỉ góp phần hình thành nên nét văn hóa trà đặc trưng mà còn trở thành nguồn thu nhập chính, giúp người dân bản địa xóa nghèo và vươn lên làm giàu.Tập trung phát triển cây chè, cây kinh tế mũi nhọn một cách bền vững là mục tiêu mà vùng chè Tân Cương đã, đang đạt được tiến tới phát triển mạnh hơn về sau. Vùng chè Tân Cương - tỉnh Thái Nguyên có rất nhiều tiềm năng để phát triển ngành chè.
Trước đây chè chủ yếu được trồng từ hạt, giống chè hạt cho năng suất cũng như chất lượng kém, làm giảm khả năng cạnh tranh các sản phẩm chè của vùng chè Tân Cưng nói riêng và sản phẩm chè trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên nói chung so với các sản phẩm chè của các nước khác. Trong những năm gần đây, các nông hộ chè đã tăng cường đổi mới kỹ thuật, đầu tư vốn để nâng cao chất lượng và hiệu quả từ sản xuất chè. Tuy nhiên, việc đầu tư cũng đi kèm với việc tăng chi phí sản xuất, tăng giá thành n 3 và hạn chế khả năng cạnh tranh, tiêu thụ của sản phẩm chè Tân Cương. Do đó việc phân tích chi phí, thu nhập từ sản xuất chè là rất cần thiết.
Xuất phát từ thực tế trên, được sự đồng ý của nhà trường, của ban chủ nhiệm khoa Kinh tế và Phát triển nông thôn, giáo viên hướng dẫn, em tiến hành nghiên cứu đề tài: “Phân tích chi phí sản xuất và thu nhập từ sản xuất chè của các hộ nông dân vùng chè Tân Cương, tỉnh Thái Nguyên”. Nhằm đánh giá được hiệu quả của việc đầu tư chi phí trong quá trình sản xuất dẫn tới thu nhập thu được từ cây chè của các hộ nông dân vùng chè Tân Cương, tỉnh Thái Nguyên.2 Mục tiêu của đề tài Phân tích chi phí sản xuất và các yếu tố ảnh hưởng đến thu nhập từ sản xuất chè của các hộ nông dân vùng chè Tân Cương, tỉnh Thái Nguyên. Từ đó đề xuất các giải pháp trong việc nâng cao thu nhập từ cây chè góp phần nâng cao đời sống người dân một cách bền vững.3 Ý nghĩa của đề tài 1.1 Ý nghĩa khoa học: + Đánh giá thực trạng phát triển cây chè tại vùng chè Tân Cương. + Đánh giá chi phí, thu nhập của các hộ dân sản xuất chè tại vùng chè Tân Cương.
+ Đề xuất giải pháp phát triển cây chè tại vùng Tân Cương. + Đưa ra một số giải pháp khắc phục nhưng hạn chế hiện tại đang làm ảnh hưởng đến giá trị kinh tế từ cây chè của nông dân trồng chè vùng chè Tân Cương. + Thành công của đề tài sẽ đánh giá trong quá trình phát triển kinh tế nông hộ từ cây chè, thì những chi phí và thu nhập có thật sự đạt hiệu quả nhất, đóng góp cho định hướng phát triển cây chè vùng chè Tân Cương. + Việc đánh giá được chi phí, lợi nhuận từ sản xuất chè sẽ nâng cao hiệu quả kinh tế, giảm thiểu tối đa những chi phí không cần thiết, n 4 1.2 Ý nghĩa thực tiễn: + Giúp cho sinh viên làm quen với thực tế sản xuất, biết áp dụng lí thuyết vào thực tế, tích lũy kinh nghiệm cho bản thân.
+ Các kết quả nghiên cứu là cơ sở khoa học cho các nghiên cứu tiếp theo. + Học được cách sắp xếp, bố trí công việc trong học tập nghiên cứu một cách khoa học. + Tạo cho sinh viên một tác phong làm việc tự lập, có kỷ luật khi ra thực tế. n 5 PHẦN 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 2.1 Một số khái niệm cơ bản 2.1 Khái niệm chi phí Trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh, doanh nghiệp phải khai thác và sử dụng các nguồn lao động,vật tư, tài sản, tiền vốn để thực hiện việc sản xuất, chế tạo sản phẩm, cung cấp lao vụ, dịch vụ.
Trong quá trình đó doanh nghiệp phải bỏ ra các hao phí về lao động sống và lao động vật hoá cho hoạt động kinh doanh của mình, chi phí bỏ ra cho hoạt động sản xuất kinh doanh được gọi là chi phí sản xuất. Chi phí sản xuất là biểu hiện bằng tiền của toàn bộ hao phí về lao động sống, lao động vật hoá và các chi phí cần thiết khác mà doanh nghiệp chỉ ra để tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh trong một thời kỳ.2 Các cách phân loại chi phí sản xuất chủ yếu Chi phí sản xuất kinh doanh trong các doanh nghiệp bao gồm rất nhiều loại, nhiều khoản khác nhau cả về nội dung, tính chất, công dụng, vai trò, vị trí. trong quá trình kinh doanh. Do đó để thuận lợi cho công tác quản lý và hạch toán cần phải tiến hành phân loại các chi phí sản xuất từ các mục đích và yêu cầu khác nhau của quản lý, chi phí sản xuất cũng được tuân theo những tiêu thức khác nhau.3 Phân loại chi phí sản xuất theo tính chất kinh tế Lý thuyết chung về chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm Để phục vụ cho việc tập hợp, quản lý chi phí theo nội dung kinh tế ban đầu đồng nhất của nó mà không xét đến công dụng cụ thể, địa điểm phát sinh chi phí, chi phí được phân theo yếu tố chi phí sau: n 6 * Yếu tố nguyên liệu, vật liệu: bao gồm giá trị nguyên vật liệu chính và vật liệu phụ, phụ tùng thay thế, công cụ, dụng cụ.
sử dụng cho sản xuất kinh doanh(loại trừ giá trị vật liệu dùng không hết nhập lại kho và phế liêụ thu hồi). * Yếu tố tiền lương và các khoản phụ cấp lương: yếu tố này phản ánh tổng số tiền lương và phụ cấp mang tính chất lương phải trả cho toàn bộ công nhân viên chức. * Yếu tố nhiên liệu, động lực: sử dụng vào quá trình sản xuất kinh doanh trong kỳ (trừ một số không dùng hết nhập lại kho và phế liệu thu hồi). * Yếu tố bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, kinh phí công đoàn: tính theo tỷ lệ quy định trên tổng số tiền lương và phụ cấp lương phải trả công nhân viên chức.
* Yếu tố khấu hao tài sản cố định: phản ánh tổng số khấu hao tài sản cố định phải trích trong kỳ của tất cả tài sản cố định sử dụng cho sản xuất kinh doanh trong kỳ. * Yếu tố chi phí dịch vụ mua ngoài: phản ánh toàn bộ chi phí dịch vụ mua ngoài dùng cho sản xuất kinh doanh. * Yếu tố chi phí bằng tiền: phản ánh toàn bộ chi phí khác bằng tiền, các yếu tố trên dùng vào hoạt động sản xuất kinh doanh trong kỳ. Phân lại theo nội dung, tính chất kinh tế có tác dụng: + Trong phạm vi doanh nghiệp: phục vụ quản lý chi phí sản xuất, phân tích đánh giá tình hình thực hiện dự toán chi phí sản xuất, làm căn cứ để lập báo cáo chi phí sản xuất theo yếu tố, lập kế hoạch cung ứng vật tư, tiền vốn, sử dụng lao động cho kỳ sau.
+ Trong phạm vi toàn bộ nền kinh tế: cung cấp tài liệu để tính toán thu nhập quốc dân do có sự tách biệt giữa hao phí lao động vật hoá và hao phí lao động sống.4 Phân loại chi phí sản xuất theo công dụng kinh tế chi phí Theo cách phân loại này, những chi phí sản xuất có cùng mục đích, công dụng được sắp xếp vào một khoản mục chi phí, không phân biệt nội dung kinh tế của chi phí. * Khoản mục chi phí nguyên liệu, vật liệu trực tiếp: bao gồm chi phí về nguyên vật liệu chính, vật liệu phụ sử dụng trực tiếp cho hoạt động sản xuất sản phẩm.