Luận văn định mức tiêu hao điện năng trạm bơm tưới hợp tác xã Gia Lộc, Hải Dương

Phân tích chi tiết định mức tiêu hao điện năng tại trạm bơm tưới Gia Lộc, Hải Dương. Tìm hiểu các yếu tố ảnh hưởng và giải pháp tối ưu hóa tiêu thụ điện năng.

Trường đại học

Đại học Thủy Lợi

Tác giả

Bùi Quý Tuấn

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ

2013

159
0
0

Phí lưu trữ

45 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan về nghiên cứu định mức tiêu hao điện năng trạm bơm tưới

Nghiên cứu xây dựng định mức tiêu hao điện năng của các trạm bơm tưới do khối hợp tác xã quản lý tại huyện Gia Lộc, tỉnh Hải Dương là đề tài có ý nghĩa thực tiễn cao. Huyện Gia Lộc nằm trong vùng nông nghiệp trọng điểm của tỉnh Hải Dương. Đời sống người dân chủ yếu phụ thuộc vào sản xuất nông nghiệp. Hệ thống trạm bơm tưới đóng vai trò then chốt trong việc cung cấp nước cho đồng ruộng. Tuy nhiên, việc quản lý điện năng tiêu hao tại các trạm bơm còn nhiều bất cập. Chi phí tiền điện chiếm tỷ trọng lớn trong giá thành sản xuất. Các hợp tác xã quản lý trạm bơm chưa có định mức cụ thể. Điều này gây khó khăn cho công tác lập dự toán và kiểm soát chi phí. Nghiên cứu này nhằm xây dựng định mức tiêu hao điện năng khoa học. Kết quả giúp tối ưu hóa chi phí vận hành hệ thống thủy lợi nông thôn. Đồng thời nâng cao hiệu quả quản lý của các hợp tác xã nông nghiệp.

1.1. Đặc điểm tự nhiên và kinh tế huyện Gia Lộc

Huyện Gia Lộc thuộc tỉnh Hải Dương, có diện tích tự nhiên khoảng 110 km². Dân số toàn huyện đạt gần 150.000 người. Tỷ lệ dân số nông thôn chiếm phần lớn, khoảng 80% tổng dân số. Lao động nông nghiệp chiếm tỷ trọng cao trong cơ cấu kinh tế. Nông nghiệp là ngành kinh tế chủ lực của huyện. Các loại cây trồng chính gồm lúa nước, rau màu và cây công nghiệp. Hệ thống thủy lợi phục vụ tưới tiêu cho hàng nghìn hecta đất canh tác. Điều kiện khí hậu nhiệt đới gió mùa với lượng mưa trung bình năm khoảng 1.600-1.800 mm.

1.2. Hiện trạng hệ thống trạm bơm tưới tại địa phương

Hệ thống trạm bơm tưới tại huyện Gia Lộc do các hợp tác xã nông nghiệp quản lý. Các trạm bơm chủ yếu sử dụng động cơ điện để vận hành. Công suất trạm bơm dao động từ vài chục đến hàng trăm kW. Tuổi đời thiết bị trung bình từ 15-25 năm, nhiều trạm đã xuống cấp. Hiệu suất vận hành thấp hơn so với thiết kế ban đầu. Công tác bảo dưỡng, sửa chữa chưa được thực hiện định kỳ. Việc đo đạc, thống kê điện năng tiêu hao còn thủ công. Chưa có định mức tiêu hao điện năng chuẩn để đối chiếu và đánh giá hiệu quả vận hành.

II. Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến tiêu hao điện năng trạm bơm

Tiêu hao điện năng của trạm bơm tưới phụ thuộc vào nhiều yếu tố khác nhau. Yếu tố đầu tiên là công suất thiết kế và hiệu suất của máy bơm. Máy bơm có hiệu suất cao sẽ tiêu hao ít điện năng hơn cho cùng lưu lượng bơm. Yếu tố thứ hai là điều kiện vận hành thực tế. Cột nước hút và cột nước đẩy ảnh hưởng trực tiếp đến công suất tiêu thụ. Mực nước nguồn thay đổi theo mùa vụ làm thay đổi cột nước hút. Yếu tố thứ ba là tình trạng kỹ thuật của thiết bị. Các trục trặc kỹ thuật làm giảm hiệu suất và tăng tiêu hao điện. Yếu tố thứ tư là thời gian vận hành theo mùa vụ. Vụ chiêm và vụ mùa có nhu cầu tưới khác nhau. Yếu tố thứ năm là đặc điểm địa hình và khoảng cách dẫn nước. Địa hình phức tạp đòi hỏi công suất bơm lớn hơn. Việc phân tích các yếu tố này là cơ sở để xây dựng định mức tiêu hao điện năng chính xác.

2.1. Ảnh hưởng của hiệu suất thiết bị đến điện năng tiêu thụ

Hiệu suất máy bơm là yếu tố quyết định đến lượng điện năng tiêu thụ. Máy bơm mới có hiệu suất đạt 70-85% tùy theo loại và công suất. Sau nhiều năm vận hành, hiệu suất giảm xuống còn 50-65%. Hiệu suất động cơ điện cũng giảm theo thời gian sử dụng. Tổng hiệu suất hệ thống bằng tích các hiệu suất thành phần. Hiệu suất thấp làm tăng điện năng tiêu hao trên một đơn vị lưu lượng bơm. Việc đánh giá hiệu suất thực tế cần dựa trên đo đạc lưu lượng và cột áp. Từ đó tính toán công suất thực tế so với công suất danh định.

2.2. Ảnh hưởng của điều kiện vận hành mùa vụ

Điều kiện vận hành thay đổi theo mùa vụ trong năm tại huyện Gia Lộc. Vụ chiêm (đông-xuân) từ tháng 10 đến tháng 5 năm sau. Vụ mùa (hè-thu) từ tháng 5 đến tháng 10. Lượng mưa phân bố không đều giữa các tháng. Mực nước sông, kênh thay đổi theo mùa. Vào mùa khô, mực nước hạ thấp, cột nước hút tăng. Điều này làm tăng công suất bơm cần thiết và điện năng tiêu thụ. Vào mùa mưa, nhu cầu tưới giảm nhưng hệ thống phải thoát nước. Định mức cần tính đến sự khác biệt giữa các mùa vụ.

III. Phương pháp xây dựng định mức tiêu hao điện năng trạm bơm tưới

Phương pháp xây dựng định mức tiêu hao điện năng dựa trên thu thập dữ liệu thực tế. Bước đầu tiên là khảo sát, đo đạc tại các trạm bơm mẫu. Các thông số cần đo gồm lưu lượng bơm, cột áp, công suất điện tiêu thụ. Thời gian đo đạc kéo dài ít nhất một năm để bao quát các mùa vụ. Bước thứ hai là phân tích số liệu thống kê. Sử dụng phương pháp hồi quy để xác định mối quan hệ giữa các biến số. Bước thứ ba là xây dựng mô hình tính toán định mức. Định mức được tính theo đơn vị kWh/m³ nước bơm. Cần xác định định mức riêng cho từng loại trạm bơm và mùa vụ. Bước thứ tư là kiểm chứng mô hình bằng số liệu thực tế. So sánh kết quả tính toán với số liệu đo đạc để hiệu chỉnh. Phương pháp đảm bảo tính khoa học và khả thi trong thực tiễn áp dụng.

3.1. Thu thập và xử lý số liệu thực tế tại các trạm bơm

Việc thu thập số liệu được thực hiện tại các trạm bơm đại diện trên địa bàn huyện Gia Lộc. Các trạm bơm mẫu được chọn theo tiêu chí công suất và loại hình quản lý. Số liệu bao gồm: lưu lượng bơm (m³/h), cột áp tổng (m), công suất điện (kW), thời gian vận hành (giờ). Thiết bị đo đạc gồm đồng hồ đo lưu lượng, đồng hồ đo điện năng, áp kế. Số liệu được ghi nhận theo ngày, tuần và tổng hợp theo tháng. Xử lý số liệu bằng phần mềm thống kê để loại bỏ sai số. Dữ liệu được phân loại theo mùa vụ và loại trạm bơm.

3.2. Xây dựng công thức tính định mức tiêu hao điện năng

Định mức tiêu hao điện năng được tính theo công thức: E = Q × H × t / (367 × η). Trong đó: E là điện năng tiêu thụ (kWh), Q là lưu lượng bơm (m³/s), H là cột áp tổng (m), t là thời gian vận hành (giờ), η là hiệu suất tổng của hệ thống. Hệ số 367 là hằng số quy đổi. Định mức tiêu hao điện năng trên một đơn vị thể tích: N = E / V. Trong đó V là tổng lưu lượng bơm trong kỳ (m³). Kết quả định mức được biểu thị bằng kWh/m³. Công thức áp dụng cho từng loại trạm bơm và mùa vụ cụ thể.

IV. Kết luận và ứng dụng định mức tiêu hao điện năng vào thực tiễn

Nghiên cứu đã xây dựng thành công định mức tiêu hao điện năng cho các trạm bơm tưới. Định mức được xác định cho từng loại công suất và mùa vụ cụ thể. Kết quả cho thấy điện năng tiêu hao trung bình từ 0,15-0,45 kWh/m³ nước bơm. Mức tiêu hao cao hơn vào mùa khô do cột nước hút tăng. Các trạm bơm công suất nhỏ có định mức tiêu hao cao hơn trạm lớn. Định mức là cơ sở để các hợp tác xã lập kế hoạch và dự toán chi phí.Ứng dụng định mức giúp đánh giá hiệu quả vận hành của từng trạm bơm. Phát hiện các trạm bơm có tiêu hao bất thường để kịp thời sửa chữa. Nâng cao ý thức tiết kiệm điện năng trong sản xuất nông nghiệp. Kết quả nghiên cứu có thể áp dụng cho các huyện khác trong tỉnh Hải Dương. Góp phần hiện đại hóa công tác quản lý thủy lợi nông thôn.

4.1. Ý nghĩa của định mức tiêu hao điện năng đối với hợp tác xã

Định mức tiêu hao điện năng mang lại nhiều lợi ích cho các hợp tác xã nông nghiệp. Thứ nhất, giúp lập dự toán chi phí vận hành chính xác hơn. Thứ hai, làm cơ sở để tính giá thành bơm tưới cho nông dân. Thứ ba, đánh giá hiệu quả sử dụng thiết bị và phát hiện hư hỏng. Thứ tư, so sánh hiệu suất giữa các trạm bơm trong hệ thống. Thứ năm, đề xuất phương án nâng cấp, cải tạo trạm bơm kém hiệu quả. Định mức cũng hỗ trợ cơ quan quản lý trong việc giám sát và hỗ trợ kỹ thuật. Các hợp tác xã có thể sử dụng định mức để đàm hợp đồng dịch vụ thủy lợi.

4.2. Khuyến nghị áp dụng và phát triển nghiên cứu

Để áp dụng hiệu quả định mức tiêu hao điện năng, cần thực hiện một số giải pháp. Trước hết, trang bị thiết bị đo đạc hiện đại cho các trạm bơm. Đào tạo nhân viên vận hành về kỹ năng quản lý năng lượng. Xây dựng hệ thống theo dõi, giám sát tiêu hao điện năng trực tuyến. Định kỳ kiểm định hiệu suất máy bơm và động cơ điện. Nghiên cứu mở rộng áp dụng cho các loại trạm bơm khác. Cập nhật định mức theo sự thay đổi của thiết bị và điều kiện vận hành. Đẩy mạnh hợp tác nghiên cứu giữa trường đại học và địa phương.Ứng dụng công nghệ IoT trong quản lý hệ thống thủy lợi nông thôn.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI. Nếu bạn thấy nội dung không chính xác hoặc có vấn đề, vui lòng Báo lỗi nội dung.

21/04/2026
Luận văn nghiên cứu xây dựng định mức tiêu hao điện năng của các trạm bơm tưới do khối hợp tác xã quản lý tại huyện gia lộc tỉnh hải dương

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ TÌNH HÌNH KINH TẾ XÃ HỘI CỦA HUYỆN GIA LỘC, TỈNH HẢI DƯƠNG Hiện nay, trên thế giới đã có nhiều nghiên cứu về đổi mới cơ chế, chính sách quản lý khai thác công trình thủy lợi. Đặc biệt là ở các nước tiên tiến thì các cơ chế chính sách quản lý cơ bản đã được hoàn thiện và phát huy hiệu quả rất cao như ở Nhật, Israel, Mỹ, Pháp Italy. Ở Việt nam, hiện nay nhiệm vụ đổi mới cơ chế, chính sách quản lý được cho rằng là nhiệm vụ hàng đầu để nâng cao hiệu quả hoạt động của các công trình thủy lợi, trong đó xây dựng bộ định mức kinh tế kỹ thuật được xác định là nhiệm vụ tiên phong làm cơ sở để hoàn thiện mô hình tổ chức, đổi mới phương thức quản lý, xóa bỏ cơ chế “xin cho” thực hiện cơ chế “đấu thầu, đặt hàng” theo định mức. Định mức tiêu hao điện năng bơm tưới là một định mức quan trọng nhất nằm trong bảy định mức thuộc bộ ĐMKTKT.

Việc nghiên cứu xây dựng ĐMKTKT, hay giá nước trong quản lý, khai thác và bảo vệ công trình thủy lợi đã có nhiều tổ chức và nhà khoa học trong nước nghiên cứu, điển hình như: Nghiên cứu xác định phương pháp lập định mức tiêu thụ điện năng cho công tác bơm tiêu trong hệ thống công trình lợi của tác giả Trương Đức Toàn, Đặng Ngọc Hạnh, năm 2009; Nghiên cứu xây dựng các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả kinh tế xã hội trong các dự án đầu tư xây dựng nâng cấp hiện đại hóa công trình thủy lợi – Trung tâm Nghiên cứu kinh tế, năm 2004; Nghiên cứu sửa đổi hệ thống chỉ tiêu định mức kinh tế kỹ thuật trong công tác quản lý khai thác công trình thủy lợi, tỉnh Hải Dương, năm 2007; Nghiên cứu xây dựng định mức kinh tế kỹ thuật cho công tác quản lý, khai thác và bảo vệ công trình thủy lợi do khối hợp tác xã quản lý trên địa bàn tỉnh Hải Dương, tác giả Lê Văn Chín, 2012. Nghiên cứu xây dựng định mức tiêu hao điện năng bơm tưới do khối hợp tác xã quản lý trên địa bàn huyện Yên Mỹ, tỉnh Hưng Yên, tác giả Nguyễn Mạnh Cường, 2013. Tuy nhiên, các nghiên cứu này chưa đi sâu vào đánh giá ảnh hưởng của sự thay đổi các yếu tố khí 5 tượng đến định mức tiêu hao điện năng mà chỉ kể đến ảnh hưởng của sự thay đổi lượng mưa còn chưa kể đến ảnh hưởng của sự thay đổi các yếu tố như nhiệt độ, gió, số giờ nắng, độ ẩm. ĐẶC ĐIỂM TỰ NHIÊN VÀ DÂN SINH KINH TẾ VÙNG NGHIÊN CỨU 1.

Vị trí địa lý, phạm vi hành chính 1. Vị trí địa lý, phạm vi hành chính tỉnh Hải Dương Hải Dương là một tỉnh nằm ở Đồng bằng sông Hồng, thuộc Vùng kinh tế trọng điểm Bắc bộ, Việt Nam.Vị trí địa lý: 20°43' đến 21°14' độ vĩ Bắc; 106°03' đến 106°38' độ kinh Đông Trung tâm hành chính của tỉnh là thành phố Hải Dương nằm cách thủ đô Hà Nội 57 km về phía Tây, cách thành phố Hải Phòng 45 km về phía Đông. + Phía Tây Bắc giáp tỉnh Bắc Ninh, + Phía Bắc giáp tỉnh Bắc Giang, + Phía Đông Bắc giáp tỉnh Quảng Ninh + Phía Đông giáp thành phố Hải Phòng, + Phía Nam giáp tỉnh Thái Bình + Phía Tây giáp tỉnh Hưng Yên. Về hành chính, Hải Dương bao gồm 01 thành phố trực thuộc, 01 thị xã và 10 huyện với 264 xã, phường, thị trấn: Thành phố Hải Dương bao gồm 15 phường và 6 xã; thị xã Chí Linh bao gồm 8 phường và 12 xã; huyện Kinh Môn bao gồm 3 thị trấn và 22 xã; huyện Kim Thành bao gồm 1 Thị trấn và 20 xã; huyện Nam Sách bao gồm 1 thị trấn và 19 xã; huyện Thanh Hà bao gồm 1 thị trấn và 24 xã; huyện Cẩm Giàng bao gồm 2 thị trấn và 17 xã; huyện Bình Giang bao gồm 1 thị trấn và 17 xã; huyện Tứ Kỳ bao gồm 1 thị trấn và 25 xã; huyện Gia Lộc bao gồm 1 thị trấn và 22 xã; huyện Ninh Giang bao gồm 1 thị trấn và 27 xã; huyện Thanh Miện bao gồm 1 thị trấn và 18 xã.

Tỉnh có hệ thống giao thông đường sắt, đường bộ, đường thuỷ rất thuận lợi, có quốc lộ 5 chạy qua tỉnh, quốc lộ 18 chạy qua phía Bắc tỉnh, phần qua tỉnh dài 20 km, quốc lộ 183 chạy dọc tỉnh nối quốc lộ 5 và quốc lộ 18 dài 22 km, tuyến đường 6 sắt Hà Nội - Hải Phòng chạy song song với đường quốc lộ 5 có 7 ga đỗ đón trả khách nằm trên địa bàn tỉnh. Tuyến đường sắt Kép - Phả Lại cung cấp than cho nhà máy điện Phả Lại. Hệ thống giao thông thuỷ có 16 tuyến dài 400 km do trung ương và tỉnh quản lý cho tàu thuyền trọng tải 400 – 500 tấn qua lại dễ dàng. Vị trí địa lý và hệ thống giao thông trên đã tạo điều kiện cho Hải Dương giao lưu kinh tế với các tỉnh, thành phố trong nước và quốc tế rất thuận lợi, Hải Dương có cơ hội tham gia vào phân công lao động trên phạm vi toàn vùng Bắc Bộ, đặc biệt là trao đổi hàng hoá với các tỉnh, thành phố trong cả nước và xuất khẩu.

Hải Dương được chia làm 2 vùng: vùng đồi núi và vùng đồng bằng. Vùng đồi núi nằm ở phía bắc tỉnh, chiếm 11% diện tích tự nhiên gồm 13 xã thuộc huyện Chí Linh và 18 xã thuộc huyện Kinh Môn; là vùng đồi núi thấp, phù hợp với việc trồng cây ăn quả, cây lấy gỗ và cây công nghiệp ngắn ngày. Vùng đồng bằng còn lại chiếm 89% diện tích tự nhiên do phù sa sông Thái Bình bồi đắp, đất màu mỡ, thích hợp với nhiều loại cây trồng, sản xuất được nhiều vụ trong năm. Vị trí địa lý, phạm vi hành chính huyện Gia Lộc Gia Lộc là một huyện nằm phía Tây Nam của tỉnh Hải Dương, với tổng diện tích 112,4 km².

Đơn vị hành chính huyện có một thị trấn và 22 xã: Đoàn Thượng, Đồng Quang, Đức Xương, Gia Hòa, Gia Khánh, Gia Lương, Gia Tân, Gia Xuyên, Hoàng Diệu, Hồng Hưng, Lê Lợi, Liên Hồng, Nhật Tân, Phạm Trấn, Phương Hưng, Quang Minh, Tân Tiến, Thống Kênh, Thống Nhất, Toàn Thắng, Trùng Khánh, Yết Kiêu. Đặc điểm địa chất - địa hình và các quá trình địa mạo Tỉnh Hải Dương là một tỉnh đồng bằng Bắc Bộ nằm ở cửa ngõ phía Đông thủ đô Hà Nội, Hải Dương có một vị trí giao thông khá thuận lợi cả về đường bộ, đường sắt và đường thuỷ, tạo điều kiện cho tỉnh một cơ hội giao lưu kinh tế và tiếp nhận văn minh đô thị của cả vùng Bắc Bộ. Địa hình thấp dần từ Tây Bắc xuống Đông Nam, có thể chia thành 2 vùng chính: + Vùng núi: Chiếm 11% diện tích thuộc 13 xã huyện Chí Linh, 10 xã huyện Kinh Môn + Vùng đồng bằng chiếm 89% diện tích tự nhiên, địa hình nghiêng và thấp dần 7 từ Tây Bắc xuống Đông Nam. Huyện Gia Lộc có cao độ trung bình từ 2,0 - 2,5m, thoải dần từ Tây Bắc xuống Đông Nam, theo hướng chung của tỉnh Hải Dương.

Địa hình này không cản trở đến việc cơ giới hóa và thủy lợi hóa trong quá trình phát triển nông nghiệp. Kết quả khảo sát địa chất công trình xây dựng trạm bơm Quán Phấn thuộc địa phận xã Gia Xuyên, huyện Gia Lộc cho thấy đặc điểm địa tầng như sau: Lớp 1: Đất lấp chiều dày lớp đất dao động từ 0. Lớp đất có thành phần chủ yếu là đất sét pha lẫn tạp chất. Lớp 2: Sét pha màu xám vàng, xám xanh trạng thái dẻo mềm.

Phân bố ở độ sâu từ 0.0m Lớp 3: Sét pha, màu xám vàng, xám ghi, trạng thái dẻo chảy. Phân bố dưới lớp 1 và lớp 2 của địa tầng khảo sát, xuất hiện tại các hố khoan. Độ sâu và bề dày của lớp từ 0.0m - Khối lượng thể tích tự nhiên (γ) 1.84 g/cm2; - Khối lượng thể tích khô (γc) 1.37 g/cm2; - Khối lượng riêng (∆) 2.69 g/cm2; - Lực dính kết (c) 0.143 KG/cm2; - Cường độ chịu tải quy ước (Ro) 0.88 KG/cm2; - Mô đun tổng biến dạng (Eo) 45 KG/cm2. Lớp 4: Cát pha, màu xám đen.

Phân bố ở độ sâu từ 1.0m, chiều dày lớp đất dao động từ 3.8m - Khối lượng thể tích tự nhiên (γ) 1.82 g/cm2; - Khối lượng thể tích khô (γc) 1.38 g/cm2; - Khối lượng riêng (∆) 2.66 g/cm2; - Lực dính kết (c) 0.058 KG/cm2; - Cường độ chịu tải quy ước (Ro) = 0.86 KG/cm2; - Mô đun tổng biến dạng (Eo)= 38 KG/cm2. Lớp 5: Sét pha xen kẹp cát, màu xám ghi, xám đen. Phân bố dưới cùng của địa tầng khảo sát, chiều dày lớp đất dao động từ 2. 8 - Khối lượng thể tích tự nhiên (γ) 1.77 g/cm2; - Khối lượng thể tích khô (γc) 1.29 g/cm2; - Khối lượng riêng (∆) 2.67 g/cm2; - Lực dính kết (c) 0.095 KG/cm2; - Cường độ chịu tải quy ước (Ro) = 0.72 KG/cm2; - Mô đun tổng biến dạng (Eo)= 25 KG/cm2.

Thổ nhưỡng và đặc điểm nền đáy các khu vực tưới tiêu nghiên cứu Toàn tỉnh Hải Dương có 18 loại đất, với 4 nhóm đất chính: - Nhóm đất phù sa có diện tích 76.025 ha chiếm 45,7% diện tích lãnh thổ. Loại đất này được hình thành từ phù sa của sông Hồng và sông Thái Bình. Tầng mặt có màu nâu xám, tầng dưới xám. Thành phần cơ giới từ trung bình đến thịt nặng hoặc sét.

Độ ph từ 4 - 4,5 mùn ở tầng mặt giàu (>2%) đạm tổng số tầng mặt giàu, lân tổng số nghèo. - Nhóm phù sa úng nước có diện tích 1.633 ha, phân bố chủ yếu ở huyện Cẩm Giàng, Bình Giang, Gia Lộc, Tứ Kỳ, Kinh Môn, Chí Linh. Đây là loại đất ở vùng thấp trũng. Đất thường chua (ph <4,5) giàu mùn, đạm, nghèo lân và kali - Nhóm phù sa ngòi suối nằm ở hai bên các suối nhỏ thuộc huyện Chí Linh có diện tích 322 ha.

- Nhóm đất xám bạc màu trên đá cát có diện tích 3.456 ha phân bố chủ yếu ở Chí Linh, Kinh Môn Nước dưới đất rất phong phú, chúng tàng chữ trong các lớp đất thuộc phạm vi khảo sát, nguồn cung cấp chủ yếu là nước mặt và nước mưa. Huyện Gia Lộc có thổ nhưỡng thuộc nhóm phù sa úng nước. Đất thường chua (ph<4.5) giàu mùn, đạm, nghèo lân và kali. Đặc điểm khí hậu, khí tượng Toàn tỉnh Hải Dương có 13 trạm khí tượng và đo mưa là Bến Tắm, Phả Lại, Chí Linh, Nam Sách, Kim Thành, Cẩm Giàng, Hải Dương, Thanh Hà, Tứ Kỳ, Gia Lộc, Ninh Giang, An Thổ, Thanh Miện.

Hải Dương nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa Đông Bắc Bộ. Một năm có bốn mùa rõ rệt.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ