Luận văn thạc sĩ nghiên cứu giải pháp phòng chống lũ hệ thống sông Đáy

Nghiên cứu chi tiết về giải pháp phòng chống lũ hệ thống sông Đáy. Phân tích các biện pháp kỹ thuật, quản lý nước và bảo vệ cộng đồng khỏi các trận lũ lụt.

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ

2010

152
0
0

Phí lưu trữ

45 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan về hệ thống sông Đáy và nguy cơ lũ lụt

Hệ thống sông Đáy là lưu vực sông lớn ở miền Bắc Việt Nam, chảy qua nhiều tỉnh thành gồm Hà Nội, Hòa Bình, Ninh Bình, Nam Định. Lưu vực sông có diện tích rộng lớn, chịu ảnh hưởng trực tiếp từ chế độ mưa mùa nhiệt đới. Hàng năm, vào mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 10, lưu vực sông Đáy phải đối mặt với nguy cơ lũ lụt nghiêm trọng. Lũ trên sông Đáy gây thiệt hại lớn về người và tài sản, ảnh hưởng đến sản xuất nông nghiệp và đời sống dân sinh. Đặc biệt, các huyện Chương Mỹ, Mỹ Đức thuộc Hà Nội là những vùng thường xuyên chịu ảnh hưởng nặng nề. Nghiên cứu đề xuất giải pháp phòng chống lũ cho hệ thống sông Đáy có ý nghĩa quan trọng trong việc bảo vệ tính mạng và tài sản của người dân.

1.1. Địa hình và đặc điểm lưu vực sông Đáy

Lưu vực sông Đáy có địa hình phức tạp, từ vùng đồi núi cao ở thượng nguồn đến vùng đồng bằng thấp trũng ở hạ du. Thượng lưu sông Đáy chảy qua vùng núi cao thuộc tỉnh Hòa Bình, tốc độ dòng chảy lớn. Trung lưu chảy qua vùng bán sơn địa, lòng sông thu hẹp. Hạ lưu chảy qua vùng đồng bằng châu thổ rộng lớn, thoát nước chậm. Sự chênh lệch địa hình lớn giữa thượng và hạ lưu là nguyên nhân chính gây ra lũ lụt khi mưa lớn kéo dài.

1.2. Tầm quan trọng của nghiên cứu phòng chống lũ

Nghiên cứu phòng chống lũ hệ thống sông Đáy phục vụ nhiều mục đích thiết thực. Thứ nhất, bảo vệ tính mạng và tài sản của hàng triệu người dân sống dọc hai bên bờ sông. Thứ hai, giảm thiểu thiệt hại cho sản xuất nông nghiệp, công nghiệp và cơ sở hạ tầng. Thứ ba, hỗ trợ quy hoạch phát triển kinh tế xã hội bền vững cho các tỉnh trong lưu vực. Kết quả nghiên cứu cung cấp cơ sở khoa học cho việc xây dựng hệ thống công trình thủy lợi và quy trình vận hành phòng chống lũ hiệu quả.

II. Phân tích đặc điểm mưa lũ và nguyên nhân gây lũ hệ thống sông Đáy

Đặc điểm mưa lũ trên lưu vực sông Đáy thể hiện rõ tính mùa vụ và phân bố không đều theo không gian. Lượng mưa tập trung chủ yếu vào mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 10, chiếm khoảng 80-85% tổng lượng mưa cả năm. Các trận mưa lớn thường kéo dài từ 1 đến 7 ngày, với cường độ rất cao. Số lần mưa 1 ngày lớn nhất nằm trong 3 ngày lớn nhất chiếm khoảng 30%, trường hợp 3 ngày lớn nhất trong 5 ngày lớn nhất chiếm 70%. Lượng mưa 1 ngày lớn nhất đạt từ 300-550mm, ba ngày lớn nhất đạt 450-770mm, năm ngày lớn nhất đạt từ 500-836mm. Năm xuất hiện mưa lớn thường không đồng bộ giữa các vùng thượng lưu và hạ lưu. Nguyên nhân gây lũ bao gồm mưa tập trung cường độ cao, địa hình dốc, khả năng thoát nước hạn chế ở vùng hạ du.

2.1. Đặc điểm mưa gây lũ trên lưu vực sông Đáy

Mưa gây lũ trên lưu vực sông Đáy có những đặc điểm riêng biệt cần được phân tích kỹ lưỡng. Lượng mưa 1 ngày lớn nhất tại các trạm quan trắc dao động từ 300mm đến 550mm. Lượng mưa 3 ngày lớn nhất đạt từ 450mm đến 770mm tùy theo vị trí trạm. Các trận mưa lớn thường tập trung trong thời gian ngắn từ 3 đến 5 ngày. Vùng thượng lưu sông Đáy và sông Hoàng Long thường chịu mưa lớn hơn vùng hạ du. Năm 2008 và 1984 là những năm ghi nhận mưa lịch sử gây lũ lớn.

2.2. Nguyên nhân gây ra lũ lụt nghiêm trọng

Lũ lụt nghiêm trọng trên hệ thống sông Đáy xuất phát từ nhiều nguyên nhân khách quan và chủ quan. Nguyên nhân khách quan bao gồm mưa lớn tập trung với cường độ cao trong thời gian ngắn. Địa hình lưu vực dốc từ thượng nguồn về hạ lưu làm nước chảy nhanh. Nguyên nhân chủ quan gồm hệ thống đê điều chưa hoàn thiện, khả năng thoát nước ở vùng hạ du hạn chế. Diện tích rừng đầu nguồn bị thu hẹp làm giảm khả năng giữ nước. Quy hoạch sử dụng đất chưa hợp lý cũng góp phần gia tăng nguy cơ ngập lụt.

III. Đề xuất các giải pháp phòng chống lũ hệ thống sông Đáy

Các giải pháp phòng chống lũ hệ thống sông Đáy được đề xuất trên cơ sở phân tích đặc điểm tự nhiên và thực trạng công trình hiện có. Giải pháp thứ nhất là công trình phân lũ sông Đà vào sông Tích, nhằm giảm lưu lượng đỉnh lũ đổ về hạ du sông Đáy. Giải pháp thứ hai là hệ thống chậm lũ Lương Phú với 362 ống bê tông chứa thuốc nổ đặt ở mái và chân đê hữu Đà. Giải pháp thứ ba là hệ thống 25 đường tràn điều tiết lũ tại huyện Chương Mỹ và Mỹ Đức, cho phép chủ động phân lũ vào vùng đệm. Giải pháp thứ tư là nâng cấp hệ thống đê điều và cống thoát nước. Giải pháp thứ năm là quy hoạch vùng thoát lũ và xây dựng bản đồ ngập lụt để hỗ trợ công tác phòng chống và cứu hộ.

3.1. Công trình phân lũ và chậm lũ

Hệ thống công trình phân lũ và chậm lũ đóng vai trò quan trọng trong việc giảm đỉnh lũ. Công trình phân lũ sông Đà vào sông Tích giúp chuyển hướng một phần lưu lượng từ sông Đà sang sông Tích, giảm áp lực cho hạ lưu. Đầu mối chậm lũ Lương Phú được xây dựng năm 2002 với 362 ống bê tông chứa 22-25 tấn thuốc nổ. Khi cần thiết, hệ thống nổ mìn sẽ phá đê tạo đường thoát lũ vào vùng đệm đã quy hoạch. Thời gian đóng mở hoàn toàn khoảng 10,5 giờ, cho phép kiểm soát quá trình xả lũ.

3.2. Hệ thống đường tràn điều tiết lũ

Hệ thống đường tràn điều tiết lũ gồm 25 đường tràn phân bố tại huyện Chương Mỹ và Mỹ Đức. Huyện Chương Mỹ có 18 đường tràn với chiều dài từ 300m đến 800m, cao trình từ +6,5m đến +9,8m. Huyện Mỹ Đức có 7 đường tràn với chiều dài từ 300m đến 500m, cao trình khoảng +6,5m. Các đường tràn được bố trí dọc theo sông Đáy và các nhánh sông phụ, cho phép chủ động phân lũ vào vùng đồng trũng khi mực nước vượt ngưỡng cho phép. Hệ thống này giúp bảo vệ các khu vực dân cư và sản xuất quan trọng.

IV. Kết luận và ứng dụng thực tiễn của giải pháp phòng chống lũ

Nghiên cứu đề xuất các giải pháp phòng chống lũ hệ thống sông Đáy đã hoàn thành với nhiều kết quả có giá trị thực tiễn. Hệ thống giải pháp tổng hợp bao gồm công trình phân lũ, chậm lũ và đường tràn điều tiết đã được tính toán kỹ lưỡng dựa trên số liệu mưa lũ lịch sử. Các giải pháp này phù hợp với điều kiện tự nhiên và kinh tế xã hội của lưu vực sông Đáy. Kết quả nghiên cứu cung cấp cơ sở khoa học cho việc quy hoạch và đầu tư hệ thống phòng chống lũ. Ứng dụng thực tiễn của đề tài giúp giảm thiểu thiệt hại do lũ lụt gây ra, bảo vệ tính mạng và tài sản của nhân dân. Đồng thời, nghiên cứu cũng đặt nền móng cho các công trình nghiên cứu chuyên sâu hơn về quản lý tài nguyên nước lưu vực sông Đáy trong bối cảnh biến đổi khí hậu.

4.1. Kết quả đạt được của đề tài nghiên cứu

Đề tài đã đạt được nhiều kết quả quan trọng trong việc đề xuất giải pháp phòng chống lũ. Thứ nhất, phân tích đầy đủ đặc điểm mưa lũ và nguyên nhân gây lũ trên lưu vực sông Đáy. Thứ hai, đề xuất hệ thống giải pháp công trình bao gồm phân lũ, chậm lũ và đường tràn điều tiết. Thứ ba, tính toán khả năng thoát lũ và hiệu quả giảm đỉnh lũ của từng công trình. Thứ tư, xây dựng cơ sở dữ liệu về mưa lũ phục vụ công tác dự báo và cảnh báo. Các kết quả này có tính ứng dụng cao trong thực tế sản xuất.

4.2. Khuyến nghị và hướng phát triển tiếp theo

Trên cơ sở kết quả đạt được, đề tài đưa ra một số khuyến nghị cho việc triển khai thực tế. Cần ưu tiên đầu tư xây dựng các công trình phân lũ và chậm lũ theo quy hoạch đã đề xuất. Nâng cấp hệ thống đê điều hiện có đạt tiêu chuẩn phòng chống lũ thiết kế. Xây dựng hệ thống cảnh báo lũ sớm dựa trên dữ liệu mưa thời gian thực. Hướng phát triển tiếp theo bao gồm nghiên cứu ảnh hưởng của biến đổi khí hậu đến chế độ mưa lũ và đề xuất giải pháp thích ứng phù hợp.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI. Nếu bạn thấy nội dung không chính xác hoặc có vấn đề, vui lòng Báo lỗi nội dung.

21/04/2026
Luận văn nghiên cứu đề xuất các giải pháp phòng chống lũ hệ thống sông đáy

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ VÙNG NGHIÊN CỨU  1. ĐẶC ĐIỂM TỰ NHIÊN VÙNG NGHIÊN CỨU. Phạm vi nghiên cứu. Lưu vực sông Đáy nằm ở phía Tây Nam đồng bằng Bắc Bộ, toạ độ địa lý: Từ 200- 21020’ vĩ độ Bắc và từ 1050- 106030’ kinh độ Đông, bao gồm địa phận 4 P P P P P P P P tỉnh và 1 Thành phố là: TP.

Hà Nội mở rộng (gồm các quận, huyện phía hữu sông Hồng TP. Hà Nội cũ, tỉnh Hà Tây), tỉnh Hà Nam, Nam Định, Ninh Bình và 4 huyện Kim Bôi, Lạc Thủy, Yên Thủy, Lương Sơn tỉnh Hòa Bình. Có diện tích tự nhiên 798.446ha, trong đó diện tích sản xuất nông nghiệp 353.473ha chiếm 44% diện tích tự nhiên.912,7 nghìn người chiếm khoảng 1/3 dân số vùng Bắc Bộ. * Toàn lưu vực được giới hạn: Phía Bắc và phía Đông là sông Hồng kể từ ngã ba Trung Hà tới cửa Ba Lạt với chiều dài 242 km.

Phía Tây Bắc là sông Đà từ Ngòi Lát tới Trung Hà với chiều dài 33 km. Phía Tây và Tây Nam là đường phân lưu giữa sông Hồng và sông Mã bởi các dãy núi Cúc Phương, Tam Điệp, núi Mai An Tiêm đến sông Càn, phân chia ranh giới giữa tỉnh Ninh Bình và Thanh Hoá. Ranh giới lưu vực kết thúc tại cửa sông Càn đổ ra biển. Phía Đông và Đông Nam là biển Đông có chiều dài bờ biển khoảng 95 km từ cửa Ba Lạt đến cửa sông Càn.

LUẬN VĂN THẠC SĨ KỸ THUẬT - 15 - BẢN ĐỒ LƯU VỰC SÔNG ĐÁY VÀ VÙNG PHỤ CẬN TỶ LỆ 1/50. Bản đồ lưu vực sông Đáy và vùng phụ cận 1. Đặc điểm địa hình. Nhìn chung toàn lưu vực có địa hình biến đổi khá phức tạp, chia cắt mạnh nhất là khu vực đầu nguồn thuộc các chi lưu như sông Bôi, sông Đập, sông Lãng, sông Tích, sông Thanh Hà.

Cao độ biến đổi thấp dần từ Tây Bắc xuống Đông Nam và từ Tây sang Đông. Có thể chia ra 3 dạng địa hình: Vùng núi, vùng bán LUẬN VĂN THẠC SĨ KỸ THUẬT - 16 - sơn địa và vùng đồng bằng. Bề rộng trung bình của lưu vực khoảng 60km. Các khu vực nằm ở bờ tả sông Tích và bờ tả sông Đáy hầu hết là đồng bằng phì nhiêu, cao độ biến đổi cao thấp không đều nhưng hướng chính là thấp dần ra biển và cũng hình thành những vùng trũng theo dạng lòng máng như sông Nhuệ, sông Sắt và cao dần ra phía sông Đáy, sông Hồng.

Cao độ ruộng đất từ sông Hồng đến quốc lộ 6 trung bình là 4 ÷ 6m, nơi cao nhất 9 ÷ 10m. Từ quốc lộ 6 đến Phủ Lý cao độ trung bình từ 3 ÷ 1,5m, dưới Phủ Lý ra biển trung bình từ 0,5 ÷ 3,0m nhưng cao độ tập trung nhất là 0,5 ÷ 1,5m, tuy nhiên có nơi khá trũng. Bên hữu ngạn sông Đáy và sông Tích bao gồm cả 3 dạng địa hình đồi núi, bán sơn địa và đồng bằng, địa hình chia cắt mạnh, cao độ ruộng đất biến đổi lớn từ 25m ÷ 0,5m. Vùng đồi núi chiếm 60 ÷ 70% diện tích tự nhiên, các dãy núi có cao độ từ 500m ÷ 1500m, có nhiều núi đá vôi với các hang động Karst phát triển mạnh.

Dải đồng bằng ven bờ hữu cũng bị chia cắt khá phức tạp do các nhánh sông suối. Sau dải đồng bằng là vùng bán sơn địa giầu tiềm năng trải dài từ Ba Vì cho tới Tam Điệp. Một số diện tích ruộng đất theo cao độ đặc trưng trong lưu vực TT Cao độ (m) Diện tích (ha) 1 0,0 ÷ 1,0 72.045 Về cao độ đất nông nghiệp ở vùng núi và bán sơn địa có điều kiện cấp và thoát nước bằng tự chảy bởi các công trình đập dâng, hồ chứa, kênh tách lũ núi vv. Các khu vực đồng bằng về mùa khô hầu hết phải dùng động lực để cấp nước trừ một số diện tích đầu nguồn sông Đáy và khu vực giáp biển lợi dụng thủy triều.

LUẬN VĂN THẠC SĨ KỸ THUẬT - 17 - Mùa mưa tiêu úng hầu hết phải dùng động lực, tuy nhiên vẫn có thể lợi dụng tự chảy tuỳ theo thời gian và điều kiện khí tượng thủy văn. Đặc điểm địa chất. Là một lưu vực mà phần lớn diện tích là thuộc đồng bằng châu thổ sông Hồng. Do quá trình chuyển động kiến tạo đã qua với các kỷ Permier, Trias, Đệ tam, Đệ tứ; cùng với tác động mạnh mẽ của điều kiện tự nhiên, nhiệt độ, nóng, ẩm, mưa làm phong hoá tạo ra nền địa chất nham thạch, đất đai không đồng nhất trên toàn bộ lưu vực sông.

Với các lớp bồi tích, trầm tích, phù sa khá dày thể hiện một bồn địa mới được hình thành. trải qua thời kỳ biển lấn lần 1, lần 2 và thời kỳ phát triển kế thừa, biển lùi, miền trũng võng chuyển sang một thời kỳ bình ổn và lấp đầy tạo ra một đồng bằng rộng lớn ngập nước đó là đồng bằng sông hồng trong đó có phần thuộc lưu vực sông Đáy. Với điều kiện địa mạo và cấu tạo địa chất có thể nói lưu vực sông Đáy về địa chất thủy văn được chia làm 2 hệ chứa nước khác nhau. - Thành hệ chứa nước trong trầm tích đệ tứ và trong Mácma.

- Nước chứa trong trầm tích hạt thô. Nói chung nước chứa trong hệ thứ nhất có thể khai thác quy mô nhỏ tưới cho hoa màu và cây trái, nước trong hệ thứ 2 trữ lượng phong phú phân bố khắp nơi có thể khai thác dùng cho sinh hoạt. ĐẶC ĐIỂM KHÍ TƯỢNG THUỶ VĂN. Đặc điểm khí hậu Trên lưu vực sông Đáy có tổng số 13 trạm khí tượng và 24 trạm đo mưa, nhưng tới nay chỉ còn 24 trạm đo, trong đó có 8 trạm khí tượng còn hoạt động đó là Ba Vì, Sơn Tây, Hà Nội, Hà Đông, Phủ Lý, Nho Quan, Ninh Bình, Nam Định.

Có những trạm đo mưa đã được quan trắc từ rất sớm như trạm Láng (1886), Hà Đông (1936), Sơn Tây (1933), Nam Định (1911), Nho Quan (1935), Ninh Bình (1930), Văn Lý (1927), Lâm Sơn (1919). Tuy nhiên giai LUẬN VĂN THẠC SĨ KỸ THUẬT - 18 - đoạn trước khi hoà bình lập lại 1954 số liệu quan trắc thường bị gián đoạn bởi chiến tranh tài liệu không được liên tục, chất lượng không tốt, hạn chế cho việc sử dụng. Dưới đây là một số trạm khí tượng cơ bản trên lưu vực sông Đáy và vùng phụ cận. Lưới trạm quan trắc vùng nghiên cứu Các yếu tố quan TT Trạm Thời gian trắc 1 Ba Thá Đo mưa 1960 – 2008 2 Hà Đông Khí tượng 1936-1946,1957-2008 3 Mỹ Đức Khí tượng 1962-2008 4 Quốc Oai Đo mưa 1960-2007 5 Sơn Tây Khí tượng 1933-1946, 1956-2008 6 Thạch Thất Đo mưa 1960-2008 7 Vân Đình Đo mưa 1960-2006 8 Xuân Mai Đo mưa 1962-2007 9 Láng Khí tượng 1886-2008 10 Phú Xuyên Đo mưa 1960-2007 11 Thanh Oai Đo mưa 1961-2006 12 Ba Vì Khí tượng 1960-2007 13 Thường Tín Đo mưa 1960-2007 14 Phủ Lý Khí tượng 1960-2008 15 Kim Bôi Khí tượng 1960-2008 16 Hưng Thi Đo mưa 1961-2007 17 Lâm Sơn Đo mưa 1960-2007 18 Chi Nê Khí tượng 1960-2008 19 Yên Thuỷ Đo mưa 1960-2000 20 Bến Đế Đo mưa 1960-2007 21 Nam Định Khí tượng 1911 – 1946,1960-2007 22 Ninh Bình Khí tượng 1960 – 2008 23 Văn Lý Khí tượng 1960 – 2000 24 Kim Sơn Khí tượng 1961 – 2000 1.

Các đặc trưng khí hậu a) Chế độ nhiệt: Nhiệt độ trung bình nhiều năm là 23,30C ÷ 23,40C. P P P P Nhiệt độ trung bình mùa Đông thường dưới 200C. Nhiệt độ trung bình tháng I P P LUẬN VĂN THẠC SĨ KỸ THUẬT - 19 - thấp nhất trong năm đạt từ >160c, nhiệt độ cao nhất tuyệt đối từ 390C ÷ P P P P 42,80C, nhiệt độ thấp nhất tuyệt đối từ 20C ÷ 60C. Nhiệt độ trung bình tháng, năm, tối cao, tối thấp tại các trạm Đơn vị: oC P P Tháng Trạm 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 Năm Loại T0C P P 16,7 17,5 20,0 24,0 27,0 28,3 28,8 28,3 27,1 24,6 21,3 17,8 23,4 Ba Vì Tmax 30,6 34,4 37,0 38,3 39,1 39,6 39,3 38,5 36,6 34,7 32,2 30,1 39,6 Tmin 4 6,1 7 12,4 17,1 20,1 19,9 22,3 17,3 14,3 6,8 2,8 2,8 T0C 16,3 17,4 20,2 23,9 26,9 28,6 28,9 28,3 27,2 24,8 21,4 17,8 23,5 Sơn P P Tmax 31,4 33,3 38,0 37,8 40,5 41,0 39,7 38,7 36,7 37,7 34,0 31,2 41,0 Tây Tmin 4,6 5,4 4,5 13 17,3 20,4 19,5 19,8 17,2 15,4 9,2 5,1 4,5 T0C P P 16,9 17,9 20,2 24,0 26,7 28,9 29,0 28,2 27,0 24,9 21,6 18,0 23,6 Hà Tmax 31,3 35,2 36,5 37,9 38,8 39,5 38,9 37,3 35,6 34,6 32,6 38,8 39,5 Đông Tmin 5,4 6,1 9,7 13,3 16,5 20,5 17,0 13,9 10,7 4,8 8,4 3,6 3,6 T0C P P 16,7 17,5 20,1 24,1 27,5 29,0 29,3 28,6 27,6 25,2 21,6 18,2 23,8 Láng Tmax 33,1 35,1 37,2 38,8 42,8 40,4 40,0 39,0 37,1 35,7 34,7 31,9 42,8 Tmin 2,7 5 7 9,8 15,4 20 21 20,9 16,1 12,4 6,8 5,1 2,7 T0C 16,9 17,6 20,0 23,8 26,9 29,0 29,1 28,2 27,0 24,7 22,0 18,0 23,6 Phủ P P Tmax 32,8 33,9 37,3 38,9 39,1 39,4 39,4 37,8 36 34,4 34,1 30,4 39,4 Lý Tmin 5,2 5,9 6,9 12,2 17,1 19,4 20,8 21,8 16,3 14 9,5 5,5 5,2 0 TC P P 16,7 17,3 19,8 23,5 27,3 29,0 29,3 28,6 27,5 24,9 21,8 18,4 23,7 Nam Tmax 32,3 35,2 36,7 38,3 39,5 40,1 39,4 37,8 35,8 36,4 34,4 31,3 40,1 Định Tmin 5,5 5,8 9,0 12,1 17,2 19,2 21,3 22,5 16,7 14,6 9,0 5,1 5,1 T0C P P 16,3 17,0 19,7 23,4 27,3 28,2 29,2 28,4 27,2 24,8 21,5 17,4 23,4 Ninh Tmax 32,4 33,3 36,6 37,5 39,2 39,0 39,3 37,9 35,4 33,3 31,4 30,0 39,3 Bình Tmin 5,7 6,3 10,1 13,0 17,7 19,1 21,6 21,9 16,8 14,8 10,6 5,8 5,7 T0C 16,5 16,7 19,0 22,8 27,1 28,8 29,4 28,7 27,6 25,0 21,8 18,5 23,5 Văn P P Tmax 32,0 29,1 34,0 31,7 36,5 37,6 37,6 35,9 33,8 32,4 31,6 28,0 37,6 Lý Tmin 6,5 6,5 10,2 12,3 17,5 19,6 21,5 22,3 16,7 14,1 10,4 6,4 6,4 b) Số giờ nắng: số giờ nắng trong năm của vùng nghiên cứu khoảng 1400 ÷1700 giờ/năm, phân bố không đồng đều theo mùa, mùa hè bình quân 6 LUẬN VĂN THẠC SĨ KỸ THUẬT - 20 - đến 7 giờ/ngày, mùa đông khoảng 1,5 giờ/ngày.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ