Tổng quan nghiên cứu

Hệ thống thủy lợi Nam Nghệ An đóng vai trò đặc biệt quan trọng đối với an ninh nguồn nước và phát triển kinh tế xã hội của vùng kinh tế trọng điểm phía Nam tỉnh Nghệ An. Nằm kẹp giữa các dãy núi lớn và trải dài trên địa bàn các huyện Nam Đàn, Hưng Nguyên, Nghi Lộc, thành phố Vinh cùng thị xã Cửa Lò, khu vực này phục vụ dân số trên 730.613 người cùng hơn 80% diện tích đất tự nhiên dành cho canh tác nông nghiệp. Theo thiết kế ban đầu, cống đầu mối Nam Đàn cùng hệ thống kênh trục đảm nhận nhiệm vụ cấp nước tưới tự chảy từ sông Lam cho 19.472 ha đất canh tác lúa, hoa màu, nuôi trồng thủy sản kết hợp cấp nước sinh hoạt và công nghiệp.

Tuy nhiên, trong giai đoạn từ năm 1995 đến năm 2014, chuỗi số liệu thủy văn thực đo tại trạm Nam Đàn cho thấy mực nước sông Lam liên tục suy giảm bất thường trong các tháng mùa kiệt. Tình trạng này khiến cống Nam Đàn không thể vận hành lấy nước tự chảy đạt công suất thiết kế. Điển hình vào vụ hè thu năm 2010, hạn hán gay gắt đã khiến 12.000 ha lúa trên toàn tỉnh không thể gieo cấy đúng khung thời vụ, trong đó huyện Nghi Lộc phải chuyển đổi tới 3.000 ha sang vụ mùa. Sự kết hợp giữa biến đổi khí hậu, hiện tượng gió phơn Tây Nam khô nóng kéo dài và tốc độ đô thị hóa nhanh đã làm gia tăng đáng kể áp lực thiếu nước.

Mục tiêu cốt lõi của nghiên cứu là đánh giá toàn diện hiện trạng cấp nước, xác định nhu cầu dùng nước thực tế và ứng dụng mô hình toán thủy lực để xây dựng các kịch bản cấp nước thích ứng. Phạm vi nghiên cứu tập trung vào toàn bộ mạng lưới công trình thủy lợi Nam Nghệ An, trọng tâm là tuyến cống Nam Đàn và hệ thống kênh chính như kênh Thấp dài 23,23 km, kênh Gai, kênh Lam Trà và kênh Hoàng Cần. Kết quả nghiên cứu cung cấp cơ sở khoa học để phục hồi năng lực cấp nước đạt 100% diện tích thiết kế, giảm thiểu nguy cơ thiệt hại kinh tế hàng tỷ đồng do hạn hán cục bộ hàng năm.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu được xây dựng dựa trên nền tảng lý thuyết thủy lực dòng chảy hở không ổn định một chiều (phương trình Saint-Venant) và lý thuyết cân bằng nước hệ thống lưu vực sông. Hệ phương trình Saint-Venant bao gồm phương trình liên tục biểu thị sự bảo toàn khối lượng và phương trình động lượng mô tả sự biến đổi lưu lượng, mực nước theo không gian và thời gian dọc theo các tuyến kênh dẫn. Bên cạnh đó, lý thuyết bốc thoát hơi nước tham chiếu theo tiêu chuẩn quốc tế FAO Penman-Monteith được ứng dụng thông qua phần mềm Cropwat để xác định chính xác nhu cầu nước sinh lý của từng loại cây trồng.

Các khái niệm then chốt được chuẩn hóa trong nghiên cứu bao gồm:

  • Tần suất cấp nước thiết kế (P = 85%): Chỉ số độ tin cậy cấp nước theo Tiêu chuẩn Quốc gia TCVN 4118:2012 đối với các hệ thống thủy lợi phục vụ nông nghiệp.
  • Lượng bốc thoát hơi nước tiềm năng (ET0): Lượng nước bốc hơi từ bề mặt thảm cỏ chuẩn trong điều kiện nguồn nước đầy đủ.
  • Lượng mưa hiệu quả: Phần lượng mưa thực tế được giữ lại trong tầng rễ cây trồng và được cây hấp thụ trực tiếp.
  • Hệ số sử dụng nước hệ thống: Tỷ số giữa lượng nước thực tế cây trồng hấp thụ và tổng lượng nước lấy tại công trình đầu mối.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu sử dụng chuỗi số liệu khí tượng thủy văn liên tục 30 năm (từ năm 1986 đến năm 2015) tại hai trạm quan trắc tiêu biểu: trạm Nam Đàn (tọa độ 18°29' Vĩ Bắc, 105°29' Kinh Đông) đại diện cho tiểu vùng đồi núi, đồng bằng cao và trạm Vinh (tọa độ 18°40' Vĩ Bắc, 105°41' Kinh Đông) đại diện cho vùng đồng bằng ven biển. Cỡ mẫu 30 năm đảm bảo độ tin cậy thống kê và tính đại diện cao cho chuỗi quy luật khí hậu dài hạn.

Phương pháp thống kê xác suất được áp dụng với đường phân phối Pearson loại III kết hợp phương pháp 3 điểm của Alekseev để xác định chính xác lượng mưa thiết kế ứng với tần suất bất lợi P = 85%. Để mô phỏng diễn biến dòng chảy, nghiên cứu ứng dụng mô hình thủy lực Mike 11 do Viện Thủy động lực học Đan Mạch (DHI) phát triển. Lý do lựa chọn Mike 11 bắt nguồn từ khả năng giải quyết vượt trội các bài toán mạng lưới kênh phức tạp, có sự tương tác giữa nhiều cống điều tiết, âu thuyền và trạm bơm cột nước thấp. Mô hình được hiệu chỉnh và kiểm định kỹ lưỡng bằng số liệu thực đo mực nước, lưu lượng mùa kiệt, đảm bảo sai số tương đối luôn nằm trong giới hạn cho phép dưới 5%.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Quá trình phân tích dữ liệu khí tượng và mô phỏng thủy lực trên toàn bộ hệ thống thủy lợi Nam Nghệ An đã làm rõ bốn phát hiện quan trọng:

  1. Sự thiếu hụt nguồn nước tưới nghiêm trọng tại các tiểu vùng cuối kênh: Tại huyện Nghi Lộc, diện tích được tưới ổn định chỉ đạt 3.800 ha trên tổng số 9.579,48 ha đất cây hàng năm, tương ứng với tỷ lệ thiếu nước lên tới 60,3% (5.779,48 ha). Tương tự, thành phố Vinh có 1.000 ha trên tổng số 1.998,31 ha đất nông nghiệp thường xuyên đối mặt với hạn hán, chiếm 50,0% diện tích canh tác toàn thành phố.
  2. Khả năng lấy nước tự chảy qua cống Nam Đàn suy giảm mạnh: Mực nước sông Lam bình quân mùa kiệt từ tháng 12 đến tháng 5 năm sau liên tục hạ thấp dưới ngưỡng mực nước thiết kế thượng lưu (+1,05 m), có thời điểm chỉ dao động từ +0,10 m đến +0,40 m. Điều này làm cho lưu lượng tự chảy qua 4 cửa cống (khẩu độ 4 x 2,0 m) giảm từ 35% đến 50% so với công suất thiết kế.
  3. Năng lực truyền tải của hệ thống kênh trục bị suy giảm cục bộ: Kênh Thấp dài 23,23 km dù có lưu lượng thiết kế 33,67 m3/s nhưng hiện trạng bồi lắng khiến lưu lượng truyền dẫn thực tế chỉ đáp ứng khoảng 70% yêu cầu. Kênh Hoàng Cần dài 13,46 km có hiện tượng đáy đoạn giữa bị tôn cao (từ -1,15 m lên -0,96 m) và lòng kênh cuối tuyến bị thu hẹp từ 10 m xuống 5 m, làm giảm hơn 30% khả năng tải nước cho các trạm bơm Hưng Tân, Hưng Mỹ.
  4. Mâu thuẫn gia tăng giữa các đối tượng dùng nước: Nhu cầu nước phi nông nghiệp tăng vọt, trong đó 4 nhà máy nước sinh hoạt dọc sông Cả (nhà máy Nam Đàn 1.000 m3/ngày đêm, Hưng Vĩnh 60.000 m3/ngày đêm, Thanh Chương 2.000 m3/ngày đêm, Đô Lương 1.000 m3/ngày đêm) cùng các cơ sở công nghiệp lớn đã làm gia tăng mức độ cạnh tranh nguồn nước mùa khô.

Thảo luận kết quả

Nguyên nhân căn bản dẫn đến sự suy giảm khả năng cấp nước bắt nguồn từ việc xây dựng các công trình thủy điện thượng nguồn lưu vực sông Cả làm thay đổi phân phối dòng chảy tự nhiên, kết hợp hoạt động khai thác cát cục bộ làm hạ thấp đáy sông Lam. Kết quả này tương đồng với nghiên cứu của tác giả Jyun-Long Lee và Wen-Cheng Huang tại khu vực Đài Loan, khi chỉ ra biến đổi khí hậu làm tăng nhu cầu tưới nông nghiệp thêm 7,1% trong điều kiện nguồn nước kiệt suy giảm. Ngoài ra, kết luận của Fischer và Wiberg cũng khẳng định việc áp dụng các biện pháp quản lý giảm nhẹ tác động có thể giúp tiết kiệm tới 40% tổng lượng nước tiêu thụ.

Trong báo cáo kỹ thuật, dữ liệu diễn biến mực nước và lưu lượng được trực quan hóa thông qua các đường quá trình thủy lực một chiều trên toàn bộ 23,23 km kênh Thấp và mặt cắt dọc kênh Hoàng Cần. Biểu đồ mặt nước mô phỏng trên Mike 11 phản ánh rõ nét độ dốc thủy lực bị đảo chiều cục bộ tại các vị trí thắt hẹp, tạo cơ sở thực nghiệm xác đáng để luận chứng phương án cải tạo công trình.

Đề xuất và khuyến nghị

Dựa trên kết quả mô phỏng thủy lực và tính toán cân bằng nước, nghiên cứu đề xuất 4 nhóm giải pháp kỹ thuật và quản lý đồng bộ:

  1. Xây dựng trạm bơm dã chiến tiếp nguồn tại cống đầu mối Nam Đàn: Lắp đặt hệ thống máy bơm chìm dã chiến với tổng lưu lượng đạt khoảng 15 m3/s đến 20 m3/s tại khu vực cống Nam Đàn nhằm chủ động lấy nước cưỡng bức khi mực nước sông Lam hạ thấp dưới +0,50 m. Giải pháp này do Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Nghệ An làm chủ đầu tư, thực hiện trong giai đoạn 2018 - 2020 nhằm bảo đảm 100% nhu cầu tưới vụ Đông Xuân.
  2. Cải tạo, nạo vét và kiên cố hóa hệ thống kênh trục chính: Tiến hành nạo vét toàn tuyến 23,23 km kênh Thấp để khôi phục lưu lượng dẫn 33,67 m3/s; chỉnh trang đáy kênh Hoàng Cần (13,46 km) về cao độ chuẩn thiết kế -1,15 m và mở rộng đáy hạ lưu lên 10 m; xử lý triệt để hiện tượng cát chảy đoạn qua xã Kim Liên trên kênh Lam Trà (11,48 km). Đơn vị thực hiện là Công ty TNHH MTV Thủy lợi Nam Nghệ An trong lộ trình 2019 - 2023.
  3. Hiện đại hóa quy trình vận hành liên hồ chứa và hệ thống công trình tiêu - trữ: Ban hành quy chế phối hợp xả nước gia tăng giữa các hồ thủy điện Bản Vẽ, Khe Bố với lịch lấy nước tập trung của cống Nam Đàn. Kết hợp vận hành linh hoạt cụm cống tiêu Bến Thủy và 8 tổ máy bơm của trạm bơm Hưng Châu (công suất 8.000 m3/h/máy) để trữ nước ngọt nội đồng trước các đợt triều cường và gió Lào khô nóng.
  4. Chuyển đổi cơ cấu mùa vụ và áp dụng công nghệ tưới tiết kiệm: Ủy ban nhân dân các huyện Nghi Lộc, Hưng Nguyên chỉ đạo chuyển đổi khoảng 2.000 ha đất trồng lúa kém hiệu quả tại các vùng cao gò sang trồng ngô, lạc, rau màu vụ đông; đồng thời nhân rộng mô hình tưới ướt - khô xen kẽ (AWD) nhằm giảm 15% đến 20% lượng nước tiêu thụ trên mặt ruộng giai đoạn 2020 - 2025.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nội dung luận văn mang giá trị học thuật và ứng dụng thực tiễn sâu sắc, phù hợp cho 4 nhóm đối tượng trọng tâm:

  • Các đơn vị quản lý khai thác công trình thủy lợi: Cán bộ kỹ thuật thuộc Công ty TNHH MTV Thủy lợi Nam Nghệ An có thể sử dụng trực tiếp các kịch bản vận hành phân phối nước và thông số thủy lực để điều tiết mạng lưới kênh cấp 1, cấp 2 chính xác trong các đợt hạn kiệt gay gắt.
  • Cơ quan hoạch định chính sách nông nghiệp và phát triển nông thôn: Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Nghệ An cùng Chi cục Thủy lợi có tài liệu chuẩn xác để xây dựng quy hoạch phân vùng tài nguyên nước, lập kế hoạch đầu tư công trung hạn cho các dự án nạo vét, nâng cấp trạm bơm đầu mối.
  • Kỹ sư tư vấn thiết kế công trình thủy lợi: Các đơn vị tư vấn có thể kế thừa bộ thông số địa chất công trình 10 lớp đất nền khu vực đầu mối Xuân Hòa và chuỗi số liệu khí tượng 30 năm đã được xử lý chuẩn tắc để thiết kế sửa chữa cống, âu thuyền và kênh dẫn.
  • Giảng viên, nghiên cứu sinh và học viên cao học chuyên ngành Thủy văn - Tài nguyên nước: Tài liệu cung cấp quy trình mẫu về việc kết hợp mô hình xác suất Pearson III, Cropwat và phần mềm Mike 11 trong việc giải quyết bài toán tưới thực tế tại các vùng đồng bằng duyên hải miền Trung.

Câu hỏi thường gặp

Tại sao cống Nam Đàn thường xuyên bị thiếu nước vào vụ Đông Xuân?

Vụ Đông Xuân (tháng 12 đến tháng 5) trùng với thời kỳ kiệt sâu nhất của sông Lam, trong khi lượng mưa nội đồng chỉ chiếm 15% đến 20% tổng lượng mưa năm. Đồng thời, giai đoạn đổ ải làm đất đòi hỏi lưu lượng cấp nước tập trung cao nhất, dẫn đến hiện tượng thiếu nước tự chảy cục bộ tại công trình đầu mối.

Tần suất thiết kế cấp nước P = 85% có ý nghĩa kỹ thuật như thế nào?

Theo Tiêu chuẩn Quốc gia TCVN 4118:2012, tần suất P = 85% bảo đảm rằng trong 100 năm vận hành, có trung bình 85 năm hệ thống thủy lợi cấp đủ 100% lượng nước yêu cầu cho sản xuất nông nghiệp, và chỉ có 15 năm chấp nhận khả năng thiếu hụt một phần nguồn nước do thời tiết cực đoan.

Mô hình Mike 11 đóng vai trò gì trong việc giải quyết bài toán cấp nước Nam Nghệ An?

Mike 11 thiết lập mạng lưới thủy lực 1D mô phỏng chính xác sự thay đổi mực nước và lưu lượng trên 4 trục kênh chính (kênh Thấp, Gai, Lam Trà, Hoàng Cần). Mô hình giúp dự báo chính xác các điểm nghẽn thủy lực, từ đó tối ưu hóa phương án nạo vét và vị trí đặt trạm bơm tiếp nguồn.

Tiểu vùng nào trong hệ thống chịu ảnh hưởng nặng nề nhất khi nguồn nước sông Lam suy kiệt?

Tiểu vùng huyện Nghi Lộc chịu ảnh hưởng nghiêm trọng nhất với 5.779,48 ha cây trồng bị thiếu nước ổn định trên tổng diện tích 9.579,48 ha (chiếm hơn 60%). Nguyên nhân do địa hình cuối kênh dẫn, hệ thống kênh trục bồi lắng và khoảng cách chuyển nước từ cống Nam Đàn dài trên 30 km.

Trạm bơm tiêu Hưng Châu có thể hỗ trợ nhiệm vụ tưới như thế nào trong mùa kiệt?

Trạm bơm Hưng Châu sở hữu 8 tổ máy bơm trục đứng loại DU-750 công suất 8.000 m3/h mỗi máy. Trong điều kiện khô hạn gay gắt, quy trình vận hành cho phép đảo chiều sử dụng 1 đến 2 tổ máy bơm để tiếp nước tưới trực tiếp cho 303,2 ha diện tích đất canh tác vùng trũng Hưng Nguyên.

Kết luận

  • Luận văn đã phân tích toàn diện chuỗi số liệu thủy văn 30 năm (1986 - 2015), chỉ rõ xu hướng hạ thấp mực nước sông Lam mùa kiệt là nguyên nhân chính gây mất an ninh nguồn nước tại hệ thống Nam Nghệ An.
  • Nghiên cứu định lượng chính xác diện tích thiếu nước cục bộ tại huyện Nghi Lộc (5.779,48 ha) và thành phố Vinh (1.000 ha), cung cấp bằng chứng thực tế cho việc tái cấu trúc mạng lưới cấp nước.
  • Ứng dụng thành công phần mềm Cropwat và mô hình thủy lực Mike 11 để xây dựng các kịch bản phân phối nước tối ưu cho toàn bộ hệ thống kênh trục chính với lưu lượng thiết kế 33,67 m3/s.
  • Đề xuất hệ thống giải pháp công trình và phi công trình khả thi, trọng tâm là trạm bơm tiếp nguồn Nam Đàn và nạo vét 13,46 km kênh Hoàng Cần với lộ trình triển khai rõ ràng từ năm 2018 đến 2025.
  • Đóng góp luận cứ khoa học tin cậy giúp các cơ quan quản lý nhà nước ban hành quy trình vận hành liên hồ chứa sông Cả và nâng cao hiệu quả tưới tiêu nông nghiệp bền vững.

Các cấp chính quyền và cơ quan chuyên trách cần nhanh chóng phê duyệt báo cáo khả thi, phân bổ nguồn vốn đầu tư công để triển khai đồng bộ các giải pháp kỹ thuật nêu trên, nhằm đảm bảo nguồn nước ổn định cho 19.472 ha đất canh tác và thúc đẩy phát triển kinh tế bền vững cho toàn vùng Nam Nghệ An.