Luận văn Thạc sĩ: Đánh giá khả năng cấp nước tưới hệ thống thủy lợi Nam Nghệ An - Trường Đại học Thủy lợi

Đánh giá chi tiết khả năng cấp nước tưới cho hệ thống thủy lợi Nam Nghệ An. Phân tích tình hình hiện tại, thách thức và các giải pháp phát triển bền vững.

Tác giả

Nguyễn Thị Lan

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn Thạc sĩ

2018

162
0
0

Phí lưu trữ

45 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan về hệ thống thủy lợi Nam Nghệ An

Hệ thống thủy lợi Nam Nghệ An là một trong những công trình thủy lợi trọng điểm tại tỉnh Nghệ An. Hệ thống phục vụ tưới tiêu cho diện tích nông nghiệp rộng lớn, đảm bảo sản xuất lúa và hoa màu cho nhiều huyện phía nam tỉnh. Nguồn nước chính lấy từ sông Lam qua cống Nam Đàn bằng phương pháp tự chảy theo trọng lực. Đây là đặc điểm quan trọng quyết định toàn bộ khả năng cấp nước của hệ thống. Sông Lam có lưu lượng dòng chảy biến động lớn theo mùa. Mùa lũ tập trung vào tháng 7 và đầu tháng 8. Mùa kiệt kéo dài từ tháng 12 đến tháng 5 năm sau, trùng với vụ Đông Xuân — thời điểm nhu cầu tưới cao nhất. Số liệu thủy văn tại trạm Nam Đàn giai đoạn 1995–2014 ghi nhận xu hướng hạ thấp mực nước trung bình năm. Sự sụt giảm này phản ánh lượng nước từ thượng lưu về ngày càng ít hơn. Thực trạng đó đặt ra bài toán cấp thiết: đánh giá lại khả năng cấp nước thực tế và tìm giải pháp tưới bền vững cho hệ thống trong bối cảnh biến đổi thủy văn ngày càng phức tạp.

1.1. Đặc điểm địa lý và thủy văn lưu vực sông Lam

Sông Lam là nguồn cung cấp nước chủ yếu cho hệ thống thủy lợi Nam Nghệ An. Lưu vực có địa hình phức tạp, dòng chảy phân bố không đều theo không gian và thời gian. Mùa lũ tập trung lượng nước lớn vào cuối tháng 7 và nửa đầu tháng 8. Ngược lại, dòng chảy kiệt xuất hiện trên diện rộng toàn lưu vực trong các tháng mùa khô. Xu hướng hạ thấp mực nước tại trạm Nam Đàn qua hai thập kỷ quan trắc cho thấy áp lực ngày càng tăng đối với công tác lấy nước tưới vụ Đông Xuân.

1.2. Cơ cấu hạ tầng công trình lấy nước cống Nam Đàn

Cống Nam Đàn là đầu mối lấy nước duy nhất của hệ thống thủy lợi Nam Nghệ An, hoạt động hoàn toàn theo nguyên tắc tự chảy trọng lực. Khi mực nước sông Lam xuống thấp trong tháng 12 đến tháng 1, cống không đảm bảo lấy đủ lượng nước cần thiết. Giai đoạn này trùng với thời điểm làm đất và gieo mạ — khi thời tiết hanh khô và lượng mưa trong nội đồng rất thấp. Hậu quả là hạn cục bộ xuất hiện tại nhiều khu vực, ảnh hưởng trực tiếp đến năng suất cây trồng và đời sống kinh tế xã hội địa phương.

II. Phân tích thực trạng và vấn đề cấp nước tưới Nam Nghệ An

Đánh giá khả năng cấp nước tưới của hệ thống thủy lợi Nam Nghệ An đòi hỏi phân tích đồng thời nhiều yếu tố: chế độ thủy văn sông Lam, năng lực công trình đầu mối và nhu cầu nước thực tế của vùng canh tác. Số liệu thủy văn thu thập tại trạm Nam Đàn từ 1995 đến 2014 là nền tảng quan trọng để xác định xu hướng thay đổi. Mực nước trung bình theo năm có biến động lớn nhưng nhìn tổng thể cho thấy chiều hướng giảm dần. Mực nước nhỏ nhất từng tháng cũng có xu hướng xuống thấp qua các năm. Điều này làm giảm nghiêm trọng khả năng lấy nước qua cống Nam Đàn trong vụ Đông Xuân. Nhu cầu tưới cao nhất tập trung vào tháng 12 và tháng 1 — thời điểm làm đất và gieo cấy. Trong khi đó, lượng mưa nội đồng ở giai đoạn này rất thấp, không bổ sung đủ lượng nước thiếu hụt. Sự mất cân đối nghiêm trọng giữa cung và cầu nước tưới là nguyên nhân cốt lõi gây hạn hán cục bộ, ảnh hưởng đến sản lượng nông nghiệp toàn vùng.

2.1. Biến động mực nước sông Lam và tác động đến khả năng lấy nước

Phân tích chuỗi số liệu mực nước tại trạm Nam Đàn giai đoạn 1995–2014 cho thấy hai xu hướng rõ ràng. Thứ nhất, mực nước trung bình năm có sự sụt giảm đáng kể, phản ánh lượng nước từ thượng lưu sông Lam về ngày càng ít hơn. Thứ hai, mực nước nhỏ nhất hàng tháng cũng xuống thấp hơn qua từng năm. Trong vụ Đông Xuân, đặc biệt tháng 12 đến tháng 1, mực nước sông thường xuyên xuống dưới ngưỡng đảm bảo cho cống Nam Đàn tự chảy đủ lưu lượng thiết kế, dẫn đến thiếu nước cục bộ nhiều khu vực.

2.2. Cân bằng nước và mức độ thiếu hụt trong các vụ sản xuất

Cân bằng nước toàn hệ thống được tính toán dựa trên nhu cầu tưới thực tế và khả năng cung cấp qua cống Nam Đàn tại các mức tần suất thiết kế. Kết quả cho thấy mức thiếu hụt nghiêm trọng nhất xảy ra trong vụ Đông Xuân, khi nhu cầu nước cho làm đất và gieo mạ đạt đỉnh. Vụ Hè Thu ít bị ảnh hưởng hơn do lượng mưa bổ sung đáng kể. Tuy nhiên, xu hướng hạ thấp mực nước sông Lam trong dài hạn đặt ra nguy cơ thiếu hụt nước ngay cả trong vụ Hè Thu ở những năm khô hạn cực đoan trong tương lai.

III. Giải pháp tưới bền vững cho hệ thống thủy lợi Nam Nghệ An

Trên cơ sở đánh giá thực trạng và xác định mức độ thiếu hụt nước, luận văn đề xuất các nhóm giải pháp tưới theo hướng kết hợp kỹ thuật công trình và quản lý vận hành. Phương pháp tính toán áp dụng mô hình xác suất thống kê Pearson III để xác định lượng mưa thiết kế ứng với tần suất P = 85%. Đây là tần suất tiêu chuẩn trong thiết kế công trình thủy lợi ở Việt Nam. Từ lượng mưa thiết kế, mô hình mưa điển hình được xây dựng dựa trên nguyên tắc chọn năm điển hình có lượng mưa xấp xỉ lượng mưa thiết kế và phân bố mưa có tính phổ biến. Mô hình mưa điển hình phải dung hòa ba quan điểm: đảm bảo công trình làm việc đúng công suất thiết kế, phản ánh thực tế thủy văn lưu vực và đáp ứng nhu cầu tưới theo từng thời đoạn. Giải pháp ưu tiên bao gồm nâng cao khả năng lấy nước tại cống Nam Đàn, tối ưu hóa lịch tưới luân phiên và xây dựng hồ chứa điều tiết bổ sung để trữ nước trong mùa lũ phục vụ mùa kiệt.

3.1. Phương pháp tính toán lượng mưa và mô hình mưa thiết kế

Phương pháp tính lượng mưa thiết kế theo tần suất P = 85% sử dụng phân phối xác suất Pearson III. Các thông số thống kê gồm hệ số biến sai Cv và hệ số thiên lệch Cs được tính từ chuỗi số liệu thực đo. Hệ số Cs ảnh hưởng đến độ cong đường tần suất: Cs > 0 đường cong lồi lên, Cs < 0 đường cong lõm xuống, Cs = 0 đường tần suất tuyến tính. Hệ số Cv quyết định độ dốc của đường tần suất. Sau khi xây dựng đường tần suất lý luận, giá trị mưa thiết kế Xp được tra trực tiếp tương ứng với P = 85%.

3.2. Đề xuất giải pháp công trình và quản lý vận hành tưới

Giải pháp công trình tập trung vào cải tạo và nâng cấp cống Nam Đàn để tăng khả năng lấy nước ở mực nước sông thấp. Phương án bơm bổ sung trong các đợt hạn kiệt cực đoan cũng được xem xét như biện pháp dự phòng. Về quản lý vận hành, lịch tưới luân phiên theo kênh tưới cấp II và cấp III giúp phân phối nước hợp lý khi nguồn cung hạn chế. Kết hợp dự báo khí tượng thủy văn ngắn hạn để điều phối lịch tưới linh hoạt theo thực tế thủy văn từng vụ sản xuất là giải pháp hiệu quả và chi phí thấp.

IV. Kết luận và ứng dụng thực tiễn của nghiên cứu

Nghiên cứu đánh giá khả năng cấp nước tưới và đề xuất giải pháp tưới cho hệ thống thủy lợi Nam Nghệ An cung cấp cơ sở khoa học quan trọng cho công tác quản lý và đầu tư phát triển hạ tầng thủy lợi địa phương. Kết quả phân tích số liệu thủy văn 20 năm tại trạm Nam Đàn khẳng định xu hướng hạ thấp mực nước sông Lam là vấn đề có tính hệ thống, không phải hiện tượng ngẫu nhiên. Đây là cảnh báo quan trọng cho các nhà quản lý tài nguyên nước và quy hoạch nông nghiệp tỉnh Nghệ An. Các giải pháp được đề xuất dựa trên tính toán định lượng có độ tin cậy cao, có thể áp dụng trực tiếp trong thực tiễn vận hành hệ thống. Phương pháp luận được sử dụng trong luận văn — từ phân tích chuỗi thủy văn, tính toán cân bằng nước đến xây dựng mô hình mưa thiết kế — có giá trị tham khảo cho nghiên cứu các hệ thống thủy lợi tương tự ở đồng bằng ven biển miền Trung. Luận văn góp phần quan trọng vào kho tri thức khoa học về quản lý tài nguyên nước trong bối cảnh biến đổi khí hậu tại Việt Nam.

4.1. Ý nghĩa khoa học và đóng góp của luận văn thạc sĩ

Luận văn thạc sĩ này được thực hiện tại Trường Đại học Thủy lợi Hà Nội dưới sự hướng dẫn của TS. Trần Dũng Tiến và TS. Nguyễn Lương Bằng. Đóng góp khoa học chính gồm: xây dựng bộ số liệu phân tích thủy văn dài hạn cho lưu vực Nam Nghệ An, định lượng mức độ thiếu hụt nước theo tần suất thiết kế và đề xuất giải pháp kỹ thuật có tính khả thi cao. Kết quả nghiên cứu là tài liệu tham khảo hữu ích cho các đơn vị quản lý khai thác công trình thủy lợi và cơ quan quy hoạch tài nguyên nước tại Nghệ An.

4.2. Khuyến nghị triển khai và hướng nghiên cứu tiếp theo

Để phát huy hiệu quả của hệ thống, cần ưu tiên đầu tư nâng cấp cống Nam Đàn và hoàn thiện hệ thống kênh mương nội đồng nhằm giảm tổn thất thấm và bốc hơi. Nghiên cứu tiếp theo nên tích hợp kịch bản biến đổi khí hậu vào bài toán cân bằng nước dài hạn để có tầm nhìn đến năm 2050. Việc xây dựng hệ thống quan trắc mực nước tự động dọc kênh chính sẽ hỗ trợ điều hành tưới theo thời gian thực, nâng cao hiệu quả sử dụng nước và ứng phó linh hoạt với các tình huống hạn hán cực đoan.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI. Nếu bạn thấy nội dung không chính xác hoặc có vấn đề, vui lòng Báo lỗi nội dung.

21/04/2026
Luận văn nghiên cứu đánh giá khả năng cấp nước tưới và đề xuất giải pháp tưới cho hệ thống thủy lợi nam nghệ an

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ LĨNH VỰC NGHIÊN CỨU VÀ VÙNG NGHIÊN CỨU 1. Tổng quan về hệ thống thuỷ lợi Nam Nghệ An. Tổng quan về điều kiện tự nhiên, dân sinh, kinh tế-xã hội của vùng. Điều kiến tự nhiên a) Vị trí địa lý.

- Tỉnh Nghệ An thuộc bắc trung bộ nước cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, toạ độ địa lý từ 18o33'10" đến 19o24'43" vĩ độ Bắc và từ 103o52'53" đến 105o45'50" kinh độ Đông. - Cống Nam Đàn mới nằm tại nơi giao nhau giữa Kênh Cụt và đê tả Sông Lam, vị trí công trình thuộc địa bàn xã Xuân Hòa, huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An. Tuyến cống mới cách cống Nam Đàn cũ khoảng 2 km về phía hạ lưu. Tọa độ địa lý khu đầu mối: + 105 30’53” kinh độ đông o + 18 o 41’18” vĩ độ Bắc Vùng dự án được giới hạn bởi: + Phía Bắc giáp huyện Diễn Châu; + Phía Nam giáp sông Cả (sông Lam); + Phía Tây giáp vùng đồi núi của hai huyện Thanh Chương và Đô Lương; + Phía Đông giáp biển; - Nghệ An nằm trong hành lang kinh tế Đông – Tây nối liền My-an-ma, Thái Lan, Lào, Việt Nam và Biển Đông theo đường 7 đến cảng Cửa Lò.

Nằm trên các tuyến du lịch quốc gia và quốc tế. Với vị trí như vậy, Nghệ An đống vai trò quan trọng trong giao lưu kinh tế, thương mại, du lịch, vận chuyển hàng hoá với cả nước và các nước khác trong khu vực, đó là điều kiện thuận lợi để kêu gọi đầu tư phát triển kinh tế xã hội. 4 b) Đặc điểm địa hình - Nam Nghệ An là vùng đất nằm kẹp giữa các khối địa hình lớn như dãy núi Sông Mã ở phía Bắc và dãy Trường Sơn ở phía Tây Nam. Địa hình vùng này có thể chia làm hai vùng khác biệt: vùng đồi núi và vùng đồng bằng cao.

- Vùng đồi núi có các dãy núi và dồi thấp, tổng diện tích 177km2. Các dãy núi có các đỉnh núi cao khoảng 450m÷500m. Các dãy đồi thấp có cao độ từ 30m÷50m.Đồi núi cao có cây cối thấp, thưa, còn đại bộ phận là đồi trọc. Đồi núi đã chia cắt nơi này thành những dải đồng bằng nhỏ hẹp,có nhiều khe suối chảy qua.

Thế đất giữa các vùng có hình lòng chảo, có xu thế thấp dần từ Tây sang Đông. - Vùng đồng bằng và vùng cao nằm chủ yếu phía Đông và Đông Nam của vùng, có tổng diện tích là 495km2. Vùng đồng bằng có cao độ 5÷15m nằm xen kẽ các chân núi Đại Vạc, Đại Huệ và thường bị chia cắt bởi các khe suối nhỏ nên diện tích không lớn. Vùng đồng bằng bao gồm vùng đất thịt sông Lam thuộc Nam Đàn, Hưng Yên, phía Tây quốc lộ 1A của huyện Nghi Lộc có cao độ +7m÷0.

Vùng đất cát pha ở phía Đông đường quốc lộ 1A thuộc huyện Nghi Lộc và bắc thành phố Vinh có diện tích tự nhiên khoảng 15000ha, cao độ +1,55m÷5,0m. Vùng ven biển hạ lưu sông Cấm và đông thành phố Vinh đất thấp, cao trình 0,5÷1,5m. - Vùng đồng ruộng phía Bắc đường 46 và Tây quốc lộ 1 có cao độ từ +0,5m÷6,0m thấp dần về phía kênh Thấp và kênh Gai cao độ +1,5m÷2,0m tạo thành một số vùng trũng như vùng Bãi Nón, Tây-Yên-Trung. Vùng kẹp giữa quốc lộ 46 và đê 42 đồng ruộng có xu hướng thấp dần từ Tây sang Đông.

Tại Nam Đàn có chỗ cao độ +5,0m÷6,8m, thấp dần xuống Hưng Nguyên vùng Châu, Lợi (1,0÷0,7)m, trong đó vẫn nhiều vùng trũng cục bộ. c) Đặc điểm về thổ nhưỡng, địa chất,  Đặc điểm thổ nhưỡng 5 - Các vùng có cao độ từ +3 trở lên là đất thịt nhẹ, thịt pha cát, là đất ít chua (PH = 5,5÷6,5). - Vùng trũng thấp thường bị ngập lụt, thành phần cơ giới là đất thịt nặng, thịt pha sét là đất chua có độ PH < 5,5. - Đất cát ven biển thành phần chủ yếu là cát hạt vừa, cát hạt mịn, hạt sét rất ít.

Đất kém giữ nước, khi đào sâu có cát chảy. - Đất ven đồi là đất thịt pha cát bị xói mòn, bạc màu. - Các vùng ven sông Cấm là đất nhiễm mặn nhưng từ khi có cống Nghi Quang đã được ngọt hóa.  Địa chất công trình khu vực đầu mối Theo tài liệu Báo cáo khảo sát địa chất công trình, địa tầng khu vực công trình đầu mối (cống lấy nước và âu thuyền) từ trên xuống bao gồm các lớp đất phân bố như sau: - Lớp 1: Sét, sét pha xám nâu, xám vàng, trạng thái dẻo cứng, nửa cứng.

Lớp có bề dày mỏng nhưng tương đối đều, có sức chịu tải trung bình đến nhỏ, tính nén lún trung bình, không thấm nước – thấm nước yếu (K tb 3. Áp lực xuyên tiêu chuẩn (SPT) N/30=5 búa; 2 - Lớp 2: Cát hạt nhỏ, hạt mịn, màu xám, xám vàng, xám đen, xốp bão hòa nước kẹp các lớp bùn sét pha. Đây là lớp đất rất dẽ gây mất ổn định, hiện tượng cát chảy, đất chảy sẽ xảy ra tại lớp này. Tuy nhiên lớp này thấm nước nhỏ (K tb =2.045cm2/kg), áp lực xuyên tiêu chuẩnN/30=2 búa; - Lớp 4: Sét màu xám, xám nâu, xám đen chứa hữu cơ, trạng thái dẻo chảy – chảy, phía dưới xen kẹp các lớp và ổ cát nhỏ.

Đây là lớp đất yếu có thành phần tính chất đặc biệt: độ ẩm lớn, dung trọng nhỏ, tính nén lún lớn và lâu dài. Lớp này dễ gây hiện tượng mất ổn định như lún, trượt sạt, thấm nước nhỏ (K tb =5,1.088kg/cm2/kg, a 1-2 =0.112cm2/kg), áp lực xuyên tiêu chuẩn N/30=2 búa; - Lớp 4a: Cát, cát pha kẹp các lớp bùn sét, sét pha trạng thái xốp (cát), chảy (bùn sét). Áp lực xuyên tiêu chuẩn N/30=6búa; 6 - Lớp 5: Sét xám , xám đen, xám ghi, dẻo chảy – chảy. Sét xám, xám xanh, xám đen, trạng thái chảy.

Đây cũng là lớp đất yếu dễ gây mất ổn định khi mở hố móng. Hệ số thấm K tb =5,5.078cm2/kg, áp lực xuyên tiêu chuẩn N/30=5.5 búa; - Lớp 6a: Cát pha xám, xám trắng, xám vàng, trạng thái chảy, đôi chỗ lẫn ít dăm sạn, đây là lớp đất yếu. Hệ số thấm K tb =6,3.0283cm2/kg, áp lực xuyên tiêu chuẩn N/30=6 .3 búa; - Lớp 6b: Dăm sạn, cát sỏi lẫn sét, xám vàng. Lớp có sức chịu tải đáng kể nhưng chỉ gặp duy nhất trong mặt cắt hố khoan KT33.

Áp lực xuyên tiêu chuẩn N/30= 17 búa; - Lớp 7: Sét màut xám xanh, xám vàng lẫn kết vón Laterit trạng thái nửa cứng đến cứng. Đây là lớp đất có sức chịu tải chịu tải đáng kể nhưng có bề dày không đều và trong lớp có cường độ phân bố không đều, không thích hợp cho việc đặt móng cầu cống. Hệ số thấm K tb =3,2.10-7cm/s, φ=1902’, C=0,627kg/cm2, a 1-2 =0,0244cm2/kg, áp lực xuyên tiêu chuẩn N/30=25 búa; - Lớp 8: Sét màu nâu vàng, nâu đỏ, xám trắng loang lổ dăm sạn phong hóa, trạng thái cứng. Đây là lớp đất chịu tải tương đối lớn nhưng không đồng đều trong toàn mặt cắt vì vậy không nên dung lớp này đặt móng công trình cầu.

Hệ số thấm K tb =1,7.672kg/cm2, a 1-2 =0,0244cm2/kg, áp lực xuyên tiêu chuẩn N/30=25 búa; - Lớp 9: Hòn mảnh vụn phong hóa lẫn sét, sét pha màu vàng, xám trắng trạng thái cứng (sản phẩm phong hóa từ đá cát bột kết sét kết). Lớp này có sức chịu tải tốt nhưng có bề dày mỏng. Áp lực xuyên tiêu chuẩn N/30>50 búa; - Lớp 10: Đá két bột kết màu xám vàng, nâu vàng, trạng thái cứng, nứt nẻ vỡ vụn. Lớp này có sức chịu tải rất lớn thích hợp cho việc đặt móng công trình.0kg/cm2; φ=35°45’; d) Đặc điểm khí tượng thủy văn  Khí tượng  Chế độ nhiệt: 7 - Trên lưu vực sông Cả chia làm hai thời kỳ rõ rệt.

Nhiệt độ mùa đông và nhiệt độ mùa lũ, nhiệt độ bình quân năm trên lưu vực có ít biến đổi. Vùng đồng bằng cao hơm trung du và miền núi, thể hiện theo nhiệt độ bình quân: Vinh 23,8°C, Đô Lương 23,7°C, Tương Dương 23,6°C, Tây Hiếu 23,2°C; - Mùa đông có thể tính từ tháng 11 đến tháng 3 năm sau trùng với thời kỳ hoạt động mạnh của khối không khí lạnh lục địa Châu Á. Nhiệt độ thấp nhất là tháng 1. Nhiệt độ tức thời thấp nhất tại Quỳ Châu là -0,5°C (1974), Tương Dương 1,7°C, Đô Lương 4°C, Vinh 4°C.

Chênh lệch nhiệt độ ngày trong mùa đông từ 6°C đến 8°C; - Mùa hè có thể tính bắt đầu từ tháng 4 đến tháng 10 khi khối không khí xích đạo-Thái Bình Dương ảnh hưởng lớn tới lưu vực. Nhiệt độ trung bình ngày các tháng mùa lũ đạt từ 26°C – 28°C. Tháng có nhiệt độ cao nhất là tháng 7 bình quân ngày đạt đến 39°C. Nhiệt độ tối cao đo được tuyệt đối tại Tương Dương 42.

Chênh lệch nhiệt độ trong ngày về màu lũ đạt tới 12-14°C;  Chế độ mưa: - Mưa là loại hình thời tiết nhìn chung là có lợi cho các hoạt động kinh tế trên lưu vực. Mưa à tác nhân điều chỉnh khí hậu rất tốt trên lưu vực. Cũng như chế độ mưa vùng miền Bắc lượng mưa bình quân năm trên lưu vực dao động từ1.500 mm/năm, có các trung tâm mưa lớn như thượng nguồn sông Hiếu, lưu vực sông La, lưu vực sông Giăng lượng mưa bình quân năm đạt 2. Trung tâm mưa nhỏ dọc theo dòng chính sông Cả, tại Cửa Rào, Mường Xén đạt từ 1.

Vùng đồng bằng hạ du sông Cả có lượng mưa bình quân năm từ 1. - Mưa phân bố theo thời gian trong năm có 2 mùa rõ rệt: màu mưa ít và màu mưa nhiều. Ở thượng nguồn sông Cả, sông Hiếu mùa mưa có thể tính từ tháng 5 đến tháng 10 nhưng ở hạ du và phía sông La mùa mưa có thể tính từ tháng 6 đến tháng 11. Diễn biến mưa trong năm cũng mang tính đặc thù của miền Trung.

Mưa lớn trong năm thường có 2 đỉnh, đỉnh mưa lớn thứ nhất xuất hiện vào cuối tháng 5 đầu tháng 6 khi gió giao mùa. Đỉnh mưa này nguyên nhân chính xuất hiện lũ tiểu mãn. Đỉnh mưa lớn 8 nhất trong năm thường xuất hiện cuối tháng 9, 10 hàng năm. Đầu mùa hạ lượng mưa tháng đạt cực đại vào tháng 5, 6 sau đó mưa giảm nhỏ vào tháng 7, 8.

Tổng lượng mưa tháng 5, 6 đạt tới 20% tổng lượng mưa năm. Trong 2 tháng mưa lớn tháng 9, 10 lượng mưa đạt tới 40÷50% tổng lượng mưa năm, cường độ trong mùa mưa rất lớn. Trong 1 ngày lượng mưa có thể đạt đến từ 700 mm đến 800 mmm, mưa 3 ngày đạt trên 1000mm điển hình như trận mưa ngày 20/8/1965 thành phố vinh chỉ trong 1 giờ lượng mưa đạt 142 mm/giờ. Những trận mưa lớn như trên thường gây lũ nghiêm trọng trên lưu vực sông Cả.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ