Nghiên cứu đề xuất giải pháp khai thác, quản lý nước hệ thống Cầu Sơn - Cấm Sơn

Nghiên cứu sâu về khai thác và quản lý nguồn nước hệ thống Cầu Sơn - Cấm Sơn. Đề xuất giải pháp tối ưu hóa hiệu quả cấp nước, bảo vệ tài nguyên bền vững.

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ

2016

139
0
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan về hệ thống thủy nông Cầu Sơn Cấm Sơn

Hệ thống thủy nông Cầu Sơn - Cấm Sơn nằm trên địa bàn tỉnh Bắc Giang, phục vụ cấp nước tưới cho hàng nghìn hecta đất canh tác nông nghiệp trong vùng. Hệ thống được xây dựng nhằm đáp ứng nhu cầu sản xuất nông nghiệp và đời sống sinh hoạt của nhân dân các huyện Lạng Giang, Yên Dũng và thành phố Bắc Giang. Vùng nghiên cứu có đặc điểm địa hình đa dạng bao gồm cả đồng bằng, trung du và miền núi, tạo điều kiện thuận lợi cho nền nông nghiệp đa dạng sinh học với nhiều cây trồng, vật nuôi có giá trị kinh tế cao. Cao độ ruộng đất canh tác dao động từ khoảng 2,0 mét ở vùng thấp đến 20,0 mét ở vùng trung du, giảm dần từ thượng nguồn về hạ du. Đất đai trong vùng chủ yếu gồm đất phù sa bồi tụ hàng năm ở vùng bãi ven sông và đất đỏ vàng trên nền phù sa cổ ở vùng đồi núi. Khí hậu nhiệt đới gió mùa với lượng mưa phân bổ không đều theo mùa là yếu tố ảnh hưởng lớn đến nguồn nước hệ thống.

1.1. Đặc điểm tự nhiên và vị trí địa lý vùng nghiên cứu

Vùng nghiên cứu thuộc tỉnh Bắc Giang, nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa với lượng mưa trung bình năm khoảng 1.600 - 1.800 mm, tập trung chủ yếu vào mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 10. Mạng lưới sông ngòi trong vùng khá phát triển, là nguồn cung cấp nước chính cho hệ thống. Đặc điểm thổ nhưỡng đa dạng với đất phù sa ở vùng đồng bằng và đất bồi tụ sườn đồi ở vùng trung du, miền núi. Các loại đất này phù hợp cho trồng cây lương thực, cây ăn quả và cây công nghiệp, đáp ứng nhu cầu phát triển nông nghiệp toàn vùng.

1.2. Hiện trạng phát triển kinh tế xã hội khu vực

Tỉnh Bắc Giang đặt mục tiêu tăng trưởng kinh tế bình quân khoảng 9,5 - 10% mỗi năm trong giai đoạn 2011 - 2020. Cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng tăng tỷ trọng công nghiệp - xây dựng và dịch vụ, giảm dần tỷ trọng nông lâm nghiệp. Năng suất lao động trong lĩnh vực nông nghiệp đạt khoảng 42 - 44 triệu đồng một người vào năm 2020. Kim ngạch xuất khẩu được kỳ vọng đạt 6,5 tỷ USD vào năm 2020. Phát triển kinh tế kéo theo nhu cầu nước ngày càng tăng cho cả sản xuất nông nghiệp, công nghiệp và sinh hoạt, đặt ra thách thức lớn cho công tác quản lý nguồn nước hệ thống Cầu Sơn - Cấm Sơn.

II. Phân tích các vấn đề trong khai thác quản lý nước hệ thống

Công tác khai thác và quản lý nguồn nước hệ thống Cầu Sơn - Cấm Sơn đối mặt với nhiều thách thức cần được giải quyết. Thứ nhất, phân bổ nước tưới chưa đồng đều giữa các khu vực do đặc điểm địa hình phức tạp, cao độ ruộng đất không đều gây khó khăn cho việc xây dựng công trình cấp nước. Thứ hai, nguồn nước phụ thuộc lớn vào lượng mưa theo mùa, trong khi mùa khô thường xảy ra tình trạng thiếu nước cục bộ. Thứ ba, nhu cầu nước ngày càng tăng do mở rộng diện tích canh tác và phát triển công nghiệp, dịch vụ. Thứ tư, một số công trình thủy lợi trong hệ thống đã xuống cấp sau nhiều năm vận hành, hiệu suất khai thác giảm. Thứ năm, công tác phân vùng và phân khu dùng nước chưa thực sự khoa học, dẫn đến lãng phí nguồn nước ở một số khu vực trong khi thiếu hụt ở khu vực khác. Việc cân bằng nước giữa các mùa vụ và giữa các mục đích sử dụng khác nhau cần được tính toán kỹ lưỡng hơn.

2.1. Thách thức về phân bổ nguồn nước và địa hình

Địa hình vùng nghiên cứu phân thành ba dạng chính gồm đồng bằng, trung du và miền núi. Ở vùng miền núi, địa hình hẹp, ít cánh đồng canh tác lớn. Vùng trung du và đồng bằng là hạ du đập Cầu Sơn, cao độ ruộng đất từ 2,0 đến 20,0 mét nhưng không đồng đều giữa các khu vực. Sự chênh lệch cao độ này gây khó khăn cho việc xây dựng công trình cấp nước tưới tự chảy. Một số khu vực phải dùng bơm tốn kém chi phí vận hành. Mùa mưa nước thừa, mùa khô thiếu nước cục bộ là vấn đề nan giải lâu nay.

2.2. Đánh giá khả năng nguồn nước và cân bằng nước

Đặc điểm khí tượng thủy văn vùng Bắc Giang cho thấy lượng mưa tập trung vào mùa hè chiếm khoảng 70 - 80% tổng lượng mưa năm, trong khi mùa đông và mùa xuân thường khô hạn. Dòng chảy các sông trong hệ thống biến động mạnh theo mùa, mùa lũ có thể gấp hàng chục lần mùa kiệt. Tính toán cân bằng nước cho thấy vào thời kỳ cao điểm mùa tưới, nhu cầu nước có thể vượt khả năng cung cấp của hệ thống. Các hồ chứa trong hệ thống có dung tích hữu ích hạn chế, không đủ trữ lượng để điều tiết nước cho cả mùa khô dài.

III. Giải pháp nâng cao hiệu quả khai thác quản lý nước hệ thống

Để nâng cao hiệu quả khai thác và quản lý nguồn nước hệ thống Cầu Sơn - Cấm Sơn, cần triển khai đồng bộ nhiều nhóm giải pháp. Nhóm giải pháp về quy hoạch bao gồm phân vùng, phân khu dùng nước hợp lý dựa trên đặc điểm địa hình và nhu cầu thực tế từng khu vực. Nhóm giải pháp công trình bao gồm nâng cấp, sửa chữa các công trình thủy lợi hiện có và đầu tư xây dựng mới các hồ chứa, kênh dẫn nước đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng. Nhóm giải pháp phi công trình bao gồm ứng dụng công nghệ thông tin trong giám sát, dự báo nguồn nước và vận hành hệ thống. Bên cạnh đó, cần xây dựng cơ chế quản lý nguồn nước hiệu quả, phân định rõ trách nhiệm giữa các cấp quản lý. Giải pháp khuyến khích sử dụng nước tiết kiệm trong sản xuất nông nghiệp như áp dụng kỹ thuật tưới nhỏ giọt, tưới phun mưa thay thế tưới tràn truyền thống cũng cần được đẩy mạnh triển khai.

3.1. Giải pháp quy hoạch và phân vùng cấp nước

Phân vùng và phân khu dùng nước là giải pháp nền tảng để quản lý hiệu quả nguồn nước hệ thống Cầu Sơn - Cấm Sơn. Cần xác định chính xác nhu cầu sử dụng nước của từng khu vực bao gồm nước tưới cho nông nghiệp, nước cho chăn nuôi, nước sinh hoạt và nước cho hoạt động công nghiệp đô thị. Trên cơ sở đó, xây dựng bản đồ phân vùng cấp nước chi tiết, phù hợp với điều kiện tự nhiên và quy hoạch phát triển kinh tế xã hội từng địa phương. Việc phân vùng giúp tối ưu hóa việc điều phối nguồn nước, tránh tình trạng thừa nước ở khu vực này trong khi thiếu hụt ở khu vực khác.

3.2. Giải pháp công trình và ứng dụng công nghệ

Giải pháp công trình tập trung vào nâng cấp, sửa chữa các hồ đập, kênh mương đang hoạt động kém hiệu quả do xuống cấp. Đầu tư xây dựng thêm các hồ chứa nhỏ để tăng khả năng tích trữ nước vào mùa mưa phục vụ mùa khô. Ứng dụng công nghệ tự động hóa trong vận hành hệ thống cửa van, đo mực nước từ xa giúp giảm nhân lực và nâng cao độ chính xác. Triển khai hệ thống giám sát dòng chảy thời gian thực kết hợp mô hình dự báo thủy văn để hỗ trợ ra quyết định vận hành. Áp dụng công nghệ tưới tiên tiến tiết kiệm nước giúp giảm lượng nước tiêu hao từ 30 đến 50%.

IV. Kết luận và định hướng ứng dụng thực tiễn

Nghiên cứu về giải pháp khai thác và quản lý hiệu quả nguồn nước hệ thống Cầu Sơn - Cấm Sơn đã chỉ ra thực trạng và đề xuất các giải pháp khả thi. Hệ thống với đặc điểm địa hình đa dạng, khí hậu nhiệt đới gió mùa và nhu cầu nước ngày càng tăng đòi hỏi cách tiếp cận tổng thể, kết hợp giữa giải pháp công trình và phi công trình. Các nhóm giải pháp bao gồm phân vùng cấp nước khoa học, nâng cấp công trình thủy lợi, ứng dụng công nghệ giám sát và khuyến khích sử dụng nước tiết kiệm. Kết quả nghiên cứu có ý nghĩa thực tiễn quan trọng, không chỉ áp dụng cho hệ thống Cầu Sơn - Cấm Sơn mà còn có thể nhân rộng cho các hệ thống thủy nông tương tự trên địa bàn tỉnh Bắc Giang và các vùng lân cận. Giai đoạn tới cần ưu tiên triển khai thí điểm các giải pháp tại một số khu vực trọng điểm trước khi nhân rộng toàn hệ thống.

4.1. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài

Đề tài nghiên cứu đề xuất giải pháp khai thác quản lý nước hệ thống Cầu Sơn - Cấm Sơn mang ý nghĩa cả về khoa học lẫn thực tiễn. Về mặt khoa học, nghiên cứu cung cấp cơ sở dữ liệu về đặc điểm tự nhiên, hiện trạng nguồn nước và tính toán cân bằng nước chi tiết cho hệ thống. Về mặt thực tiễn, các giải pháp đề xuất giúp nâng cao hiệu quả sử dụng nước, giảm lãng phí và đảm bảo nguồn nước cho phát triển kinh tế xã hội bền vững. Kết quả nghiên cứu là tài liệu tham khảo có giá trị cho các nhà quản lý và kỹ sư thủy lợi.

4.2. Định hướng phát triển và nhân rộng mô hình

Trong bối cảnh biến đổi khí hậu và áp lực phát triển kinh tế xã hội ngày càng gia tăng, việc quản lý nguồn nước hệ thống Cầu Sơn - Cấm Sơn cần được nhìn nhận trong chiến lược dài hạn. Định hướng phát triển bao gồm xây dựng hệ thống cảnh báo sớm về hạn hán và lũ lụt, phát triển mạng lưới quan trắc thủy văn tự động và đào tạo nguồn nhân lực quản lý chuyên nghiệp. Mô hình quản lý tích hợp nguồn nước theo lưu vực sông cần được áp dụng thay thế cách quản lý theo ranh giới hành chính. Bài học kinh nghiệm từ hệ thống này có thể áp dụng cho các tỉnh lân cận.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI. Nếu bạn thấy nội dung không chính xác hoặc có vấn đề, vui lòng Báo lỗi nội dung.

19/04/2026
Luận văn thạc sĩ file word nghiên cứu đề xuất các giải pháp khai thác và quản lý hiệu quả nguồn nước hệ thống cầu sơn cấm sơn

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ CÔNG TÁC KHAI THÁC VÀ QUẢN LÝ NGUỒN NƯỚC HỆ THỐNG CẦU SƠN - CẤM SƠN 1. Tổng quan về hiện trạng khai thác, quản lý nguồn nước của các hệ thống thủy nông 1.1 Tổng quan về tình hình khai thác, quản lý nguồn nước của các hệ thống thủy nông trên địa bàn tỉnh Bắc Giang Bắc Giang là một tỉnh miền núi nằm trong hệ thống sông Hồng - sông Thái Bình, công tác tưới, tiêu và phòng, chống lũ Bắc Giang luôn gắn liền với toàn bộ hệ thống. Trải qua nhiều thời kỳ nghiên cứu, xây dựng và phát triển, hệ thống công trình thủy lợi cấp, thoát nước và phòng, chống lũ của toàn bộ lưu vực sông Hồng - sông Thái Bình trong đó tỉnh Bắc Giang đã được hình thành phát triển. Toàn tỉnh Bắc Giang được phân thành 5 vùng thủy lợi như sau: - Vùng thủy lợi sông Cầu: Bao gồm đất đai của các huyện Tân Yên, Việt Yên, Hiệp Hoà và một phần thành phố Bắc Giang.

- Vùng thủy lợi Nam Yên Dũng: Một phần đất đai của huyện Yên Dũng, thành phố Bắc Giang, Việt Yên nằm phía tả sông Cầu và hữu sông Thương. - Vùng thủy lợi sông Sỏi: Đất đai của huyện Yên Thế và một phần huyện Tân Yên. - Vùng thủy lợi Cầu Sơn - Cấm Sơn: Gồm đất đai của các huyện Lạng Giang, các xã phía hữu sông Lục Nam của huyện Lục Nam, Yên Dũng và Thành phố Bắc Giang. - Vùng thủy lợi sông Lục Nam: Bao gồm đất đai của các huyện Sơn Động, Lục Ngạn, các xã phía tả sông Lục Nam của huyện Lục Nam.

( Chi tiết phân vùng thủy lợi xem phụ lục 1.1 kèm theo ) * Hiện trạng công trình tưới của các vùng: Bắc Giang có 1.624 công trình thuỷ lợi phục vụ cấp nước tưới, trong đó: - 2 hệ thống gồm 3 đập dâng lớn (Hệ thống Thác Huống và Cầu Sơn - Cấm Sơn) tưới tự chảy vụ đông xuân 17.178 ha màu; vụ mùa 17.211 ha cây vụ đông và 1.631 ha cây ăn quả. - 822 công trình trạm bơm tưới vụ đông xuân 25.067 ha màu; vụ mùa 26.642 ha cây vụ đông và 2.488 ha cây ăn quả. - 618 công trình hồ chứa tưới vụ đông xuân 7.053 ha màu; vụ mùa 8.248 ha cây vụ đông và 1.960 ha cây ăn quả. - 200 công trình đập dâng nhỏ tưới vụ đông xuân 1.199 ha lúa, 254 ha màu; vụ mùa 1.247 ha lúa, 291 ha màu, 78 ha cây vụ đông.

Ngoài ra các công trình còn cấp nước cho 2.100 ha nuôi trồng thủy sản. (Chi tiết xem thêm phụ lục 1.2 kèm theo) Các công trình thuỷ lợi hiện tại chủ yếu là tưới cho lúa là chính, còn lại màu chỉ tưới được một phần. - Lúa vụ đông xuân: Đảm bảo tưới chủ động được 52.812 ha, còn lại diện tích tưới lúa bấp bênh không chủ động tưới tiêu là 6. - Lúa vụ mùa: Đảm bảo tưới chủ động được 54.505 ha, còn lại diện tích tưới lúa bấp bênh không chủ động tưới tiêu là 2.

- Tưới cho cây màu, cây ăn quả được 7.552 ha vụ đông xuân, 7.917 ha vụ mùa, 24.629 ha cây vụ đông và 6.110 ha cây ăn quả, diện tích tưới còn bấp bênh khoảng 10. Ngoài ra các công trình còn kết hợp cấp nước cho 2.100 ha nuôi trồng thủy sản. Năng lực tưới chủ động của các công trình: Lúa vụ đông xuân đạt 73,30%, lúa vụ mùa đạt 76,71% so với diện tích đất trồng lúa. Phần diện tích lúa tưới bấp bênh không chủ động tưới tiêu là phần diện tích: - Tập trung ở cuối các hệ thống kênh, đặc biệt là kênh nhánh cấp II, III do hệ thống kênh mương xuống cấp bồi lắng làm thất thoát nước.

- Các công trình nhỏ của địa phương quản lý, do địa hình đồi núi công trình không tưới hết diện tích, chỉ tưới chủ động một phần hoặc tạo nguồn nhân dân tự khai thác nguồn nước tưới bằng các hình thức như: Đường ống tre nứa, gỗ đá chặn dòng lấy nước, gầu tát do kênh mương không vươn tới hoặc không tự chảy đến mặt ruộng, hoặc do nhiều công trình hồ nhỏ gặp năm điều kiện thời tiết bất lợi chỉ đủ cấp nước tưới ải còn tưới dưỡng nguồn nước bấp bênh không đảm bảo có khi phụ thuộc hoàn toàn vào nước trời. - Công trình hồ đập ở các lưu vực sông suối nhỏ vùng miền núi về mùa kiệt nguồn nước khan hiếm không đảm bảo tưới chủ động. Còn cây màu, cây công nghiệp, cây ăn quả do nhân dân thường trồng ở vùng đất dốc, đất vườn, vùng khan hiếm nguồn nước mặt không thể canh tác lúa nước và về giải pháp công trình tưới ẩm còn hạn chế cả về giải pháp cũng như kinh phí… nên chỉ kết hợp tưới được một phần. Diện tích lúa, màu và cây ăn quả tưới bấp bênh không chủ động nguồn nước tập trung các vùng cụ thể như sau: 1.

Vùng thủy lợi Sông Cầu: Theo thống kê từ 2009-2013 diện tích bị thiếu nước từ 3.000 ha, trong đó diện tích cần tưới bằng động lực là 400-1. Tập trung ở các huyện: - Huyện Hiệp Hoà: Từ 1.500 ha gồm diện tích tưới trọng lực từ các tuyến; Kênh 1B: xã Đoan Bái, Đông Lỗ, 1 phần xã Bắc Lý; Kênh 2: xã Đồng Tân; Kênh T45, T47: xã Mai Trung; Kênh 1C: xã Đại Thành, Quang Minh; Kênh Hương Lâm: xã Hương Lâm; kênh Hoàng Lương: xã Hoàng Thanh, 1 phần xã Hoàng Vân và diện tích tưới động lực cuối kênh 1A, kênh Cẩm Xuyên, kênh Hương Lâm - Châu Minh, kênh Hương Lâm - Mai Đình của trạm bơm Cẩm Bào. - Huyện Tân Yên: 1.000 ha gồm diện tích tưới từ các tuyến; Kênh N5 và Kênh N5-3: xã Hợp Đức, Cao Thượng, Việt Lập, Cao Xá; Kênh 5-2: Nhã Nam, 1 phần xã An Dương; Kênh 4: xã Lam Cốt, Việt Ngọc; Kênh 3-2: 1 phần xã Ngọc Vân; kênh N6 xã Ngọc Thiện; kênh N8 xã Ngọc Lý, kênh N3 xã Ngọc Vân, kênh N4 xã Việt Ngọc. - Huyện Việt Yên: 1.400 ha gồm diện tích tưới bằng trọng lực từ các tuyến: Kênh 6: xã Thượng Lan; Kênh Mỏ Thổ: xã Minh Đức; Kênh 3/4: xã Trung Sơn, Quang Minh, Ninh Sơn; kênh 7 xã Nghĩa Trung; kênh N3, kênh Ta Lanh, kênh Chùa Sui xã Hương Mai, Việt Tiến, Trung Sơn và diện tích tưới bằng động lực cuối kênh tưới trạm bơm Trúc Núi, Hồng Thái lấy nước từ Ngòi Lái Nghiên, Tự Lạn, Đồn Lương, Quang Biểu, Việt Hòa.

Vùng thủy lợi Cầu Sơn: Có 2.900 ha, trong đó tưới động lực là 1. Cụ thể ở các huyện: - Huyện Lạng Giang: 900-1. - Huyện Lục Nam: 1.500 ha gồm diện tích tưới bằng trọng lực từ kênh Yên Lại: xã Thanh Lâm, Bảo Đài, Bảo Sơn, Tiên Hưng, Khám Lạng, Chu Điện, TT Đồi Ngô; kênh hồ Cây Đa: xã Đông Phú, Tam Dị; Kênh Bảo Sơn: xã Bảo Sơn, Tam Dị, Tiên Do, Ngọc Sơn; xã Đông Phú, Đông Hưng phần lấy nước hồ Suối Nứa, Cây Đa. Diện tích tưới cuối kênh các trạm bơm Cẩm Lý, Khám Lạng, Chợ Xa thuộc các xã Đan Hội, Khám Lạng, Cẩm Lý.

- Đông Bắc huyện Yên Dũng: 670 ha (Kênh Giữa: Tân An, TT Tân Dân, Lão Hộ, Quỳnh Sơn, Trí Yên; kênh thuộc các trạm bơm tưới). - Thành phố Bắc Giang: 100-150 ha kênh Núi Sui gồm P. Vùng thủy lợi Nam Yên Dũng: 600-2000 ha tưới động lực gồm các xã: Tư Mại, Thắng Cương, Cảnh Thụy, Yên Lư, Tiến Dũng, Tiền Phong, Đức Giang, Song Khê, Đồng Phúc, Nội Hoàng, Đồng Việt, Tân Mỹ, Thị trấn Neo, Đồng Sơn, Nham Sơn, Tân Liễu. Vùng thủy lợi sông Lục Nam: 300-600 ha gồm vùng tưới hồ Đồng Man xã Biển Động, hồ Đồng Cốc xã Đồng Cốc, hồ Dộc Bấu xã Biên Sơn, hồ Đá Mài xã Hồng Giang, hồ Làng Thum xã Quý Sơn.

Vùng thủy lợi sông Sỏi: 250-400 ha gồm diện tích tưới của hồ Tân Gia xã Tam Hiệp, hồ Hồng Lĩnh xã An Thượng, hồ Cầu Cháy xã Hồng Kỳ, hồ Cầu Cài xã Đông Tiến; hồ Suối Cấy xã Canh Nậu. Ngoài ra diện tích thiếu nước thuộc vùng tưới bằng hồ đập nhỏ và trạm bơm cục bộ do các địa phương quản lý là 2. Tổng quan về tình hình khai thác, quản lý nguồn nước của hệthống thủy nông Cầu Sơn- Cấm Sơn 1. Hiện trạng công trình tưới của vùng Khu tưới hệ thống thuỷ lợi Cầu Sơn - Cấm Sơn có tổng diện tích tự nhiên 63.761 ha, đất sản xuất nông nghiệp: 33.387 ha, đất trồng lúa: 23.

Toàn vùng có 359 công trình thuỷ lợi, trong đó: Hệ thống tự chảy Cầu Sơn - Cấm Sơn, 118 hồ chứa, 24 đập dâng, 217 trạm bơm. Nguồn nước tưới cho vùng chủ yếu được lấy tự chảy từ kênh hệ thống Cầu Sơn - Cấm Sơn, các trạm bơm, hồ đập và các công trình tiểu thủy nông lấy nước sông Thương và sông Lục Nam. Bản đồ hiện trạng công trình tưới vùng thuỷ lợi Cầu Sơn - Cấm Sơn a. Vùng lấy nước hệ thống Cầu Sơn - Cấm Sơn  Hồ chứa nước Cấm Sơn: - Hồ chứa được xây dựng tại xã Hoà Lạc - huyện Hữu Lũng tỉnh Lạng Sơn, xây dựng năm 19661974.

Vận hành theo chế độ điều tiết nhiều năm do Công ty TNHH MTV KTCTTL Cầu Sơn quản lý. Thiết kế với nhiệm vụ cấp nước tưới cho 22.416 ha tạo nguồn cấp nước sinh hoạt và công nghiệp, chống lũ cho sông Thương. + Diện tích lưu vực FLV= 378,4 km2. + Dung tích hữu ích Whi= 229,25.106 m3, ứng với MNDBT= 66,5m.

+ Dung tích chết WC= 20,5. + Mực nước dâng gia cường: Ứng với lũ thiết kế H P=0,5% = +68,58m, ứng với lũ kiểm tra HP=0,1% = +69,47m, ứng với lũ lớn nhất HP=0,01% = +69,66m. + Cao trình đỉnh đập đđ = 70,5m, cao trình tường chắn sóng tcs = 71,5m. + Chiều cao đập Hđ=41,5m, chiều dài đập Lđ= 230m, bề rộng mặt đập Bđ= 5m.

- Cống lấy nước tưới = 2,5m, L= 176,92 m, lưu lượng thiết kế Q TK= 30 m3/s.  Đập Cầu Sơn: Đập Cầu Sơn chắn ngang sông Thương do Pháp xây dựng từ năm 1898 hoàn thành năm 1906 bằng đá xây, đập được đầu tư cải tạo nâng cấp năm 2010 (nguồn vốn WB3), có hai cống lấy nước vào kênh dẫn tự nhiên để tạo nguồn tiếp nước là cống 3 cửa và cống 5 cửa, có hai cụm công trình là cống Quang Hiển và trạm bơm Bảo Sơn. + Lđập= 70m, cao trình đỉnh: +13,2m, chiều cao đập: Hđ = 8,05m. + Bề rộng tràn Bt= 70m, lưu lượng lũ Q1% = 1.

+ Mực nước lũ thiết kế: Zt. + Cống 5 cửa (cống cũ xây dựng từ năm 1907): Kích thước cống BxH= (0,95x1,09)m, lưu lượng thiết kế QTK= 6,5 m3/s. + Cống 3 cửa: Kích thước BxH= 3cửa x(2,2x3,1)m, lưu lượng thiết kế QTK=30m3/s.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ