Luận văn nghiên cứu đặc điểm sinh học khả năng sinh trưởng sinh sản ở gà nhiều cựa của đồng bào dao thị trấn trại cau huyện đồng hỷ

Nghiên cứu đặc điểm sinh học, khả năng sinh trưởng và sinh sản của gà nhiều cựa tại Trại Cau, Đồng Hỷ, cung cấp thông tin hữu ích cho ngành chăn nuôi.

Chuyên ngành

Dược Thú Y

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Khóa luận tốt nghiệp đại học

2020

58
1
0

Phí lưu trữ

30 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CẢM ƠN

LỜI NÓI ĐẦU

DANH MỤC CÁC BẢNG

1. Phần 1: MỞ ĐẦU

1.1. Đặt vấn đề

1.2. Mục tiêu và yêu cầu của đề tài

1.3. Ý nghĩa của đề tài

1.3.1. Ý nghĩa khoa học

1.3.2. Ý nghĩa thực tiễn

2. Phần 2: TỔNG QUAN TÀI LIỆU

2.1. Cơ sở khoa học của đề tài

2.2. Ngoại hình của gia cầm

2.3. Tập tính và sức đề kháng

2.4. Một số đặc điểm sinh trưởng và các yếu tố ảnh hưởng tới khả năng sinh trưởng của gia cầm

2.4.1. Khái niệm về sinh trưởng và phát triển

2.4.2. Các yếu tố ảnh hưởng đến quá trình sinh trưởng của gia cầm

2.4.2.1. Ảnh hưởng của dòng, giống
2.4.2.2. Ảnh hưởng của chế độ dinh dưỡng đến khả năng sinh trưởng

3. ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

3.1. Đối tượng nghiên cứu

3.2. Địa điểm và thời gian nghiên cứu

3.3. Nội dung nghiên cứu

3.4. Điều tra về số lượng và sự phân bố gà nhiều cựa của đồng bào Dao thị trấn Trại Cau

3.5. Phương pháp nghiên cứu và các chỉ tiêu theo dõi

3.5.1. Các chỉ tiêu theo dõi

3.5.2. Phương pháp đo kích thước các chiều đo của gà

3.5.3. Phương pháp xử lý số liệu

4. KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN

4.1. Số lượng và sự phân bố gà nhiều cựa tại 15 xã điều tra

4.2. Nguồn gốc nhân đàn gà nhiều cựa tại các xã điều tra

4.3. Một số đặc điểm sinh học của gà nhiều cựa tại các xã điều tra

4.3.1. Màu sắc lông của gà nhiều cựa

4.3.2. Kiểu mào của gà nhiều cựa

4.3.3. Màu da chân của gà nhiều cựa

4.3.4. Số cựa hai bên chân của gà nhiều cựa

4.3.5. Tập tính sống của gà nhiều cựa

4.4. Khả năng sinh trưởng và sinh sản của gà nhiều cựa

4.4.1. Khả năng sinh trưởng

4.4.2. Khả năng sinh sản của gà nhiều cựa

5. KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Đặc điểm sinh học của gà nhiều cựa

Gà nhiều cựa là một giống gà đặc trưng của đồng bào Dao tại thị trấn Trại Cau, huyện Đồng Hỷ. Đặc điểm sinh học của giống gà này bao gồm màu sắc lông, kiểu mào, và màu da chân. Màu sắc lông của gà nhiều cựa thường đa dạng, phản ánh sự phong phú trong di truyền. Theo nghiên cứu, màu sắc lông không chỉ là yếu tố thẩm mỹ mà còn là chỉ tiêu quan trọng trong chọn lọc giống. Kiểu mào của gà cũng rất đa dạng, từ mào cờ đến mào hoa hồng, điều này giúp phân biệt giữa các giống gà khác nhau. Màu da chân của gà nhiều cựa thường có sắc vàng, điều này cũng liên quan đến gen di truyền. Đặc biệt, số lượng cựa trên chân gà là một trong những đặc điểm nổi bật, với nhiều con có từ 5 cựa trở lên, điều này không chỉ tạo nên sự khác biệt mà còn có ý nghĩa trong văn hóa và phong tục của người Dao.

1.1. Đặc điểm ngoại hình

Ngoại hình của gà nhiều cựa là một yếu tố quan trọng trong việc nhận diện giống. Theo Đặng Hữu Lanh và cộng sự (1999), màu sắc da và lông là mã hiệu của giống, giúp nhận dạng con giống. Màu sắc này không chỉ mang tính thẩm mỹ mà còn là chỉ tiêu cho chọn lọc. Gà nhiều cựa có màu sắc lông phong phú, từ đen, trắng đến vàng, điều này cho thấy sự đa dạng di truyền. Hơn nữa, kiểu mào cũng là một yếu tố quan trọng, với nhiều hình dạng khác nhau, từ mào đơn đến mào hoa hồng. Đặc điểm này không chỉ giúp phân biệt giữa các giống mà còn có ý nghĩa trong việc bảo tồn giống gà quý hiếm này.

1.2. Tập tính sống

Tập tính sống của gà nhiều cựa phản ánh khả năng thích nghi với môi trường sống. Gà nhiều cựa thường có tập tính bẩm sinh mạnh mẽ, giúp chúng tồn tại và phát triển trong điều kiện tự nhiên. Theo nghiên cứu, tập tính này bao gồm khả năng tìm kiếm thức ăn, bảo vệ lãnh thổ và sinh sản. Sức đề kháng của gà nhiều cựa cũng được đánh giá cao, cho thấy khả năng chống lại các bệnh tật. Điều này không chỉ có ý nghĩa trong chăn nuôi mà còn trong việc bảo tồn giống gà quý hiếm này. Việc hiểu rõ tập tính sống sẽ giúp người chăn nuôi có những biện pháp chăm sóc và nuôi dưỡng phù hợp, từ đó nâng cao hiệu quả chăn nuôi.

II. Khả năng sinh trưởng và sinh sản của gà nhiều cựa

Khả năng sinh trưởng và sinh sản của gà nhiều cựa là một trong những yếu tố quan trọng trong việc đánh giá giá trị kinh tế của giống gà này. Theo nghiên cứu, gà nhiều cựa có khả năng sinh trưởng tốt, với tốc độ tăng trưởng nhanh trong giai đoạn đầu đời. Điều này cho thấy giống gà này có tiềm năng phát triển mạnh mẽ trong điều kiện nuôi dưỡng hợp lý. Khả năng sinh sản của gà nhiều cựa cũng được ghi nhận là cao, với tỷ lệ đẻ trứng ổn định. Việc nghiên cứu khả năng sinh trưởng và sinh sản không chỉ giúp bảo tồn giống gà mà còn cung cấp thông tin quý giá cho các chương trình phát triển chăn nuôi tại địa phương.

2.1. Khả năng sinh trưởng

Khả năng sinh trưởng của gà nhiều cựa được đánh giá qua các chỉ tiêu như khối lượng cơ thể và tốc độ tăng trưởng. Theo các nghiên cứu, gà nhiều cựa có tốc độ tăng trưởng nhanh, đặc biệt trong giai đoạn đầu đời. Điều này cho thấy giống gà này có khả năng thích nghi tốt với môi trường nuôi dưỡng. Việc theo dõi khối lượng cơ thể theo từng tuần tuổi giúp người chăn nuôi có cái nhìn tổng quan về sự phát triển của giống gà này. Hơn nữa, việc áp dụng các biện pháp chăm sóc hợp lý sẽ giúp tối ưu hóa khả năng sinh trưởng, từ đó nâng cao hiệu quả kinh tế trong chăn nuôi.

2.2. Khả năng sinh sản

Khả năng sinh sản của gà nhiều cựa là một yếu tố quan trọng trong việc đánh giá giá trị kinh tế của giống gà này. Theo nghiên cứu, tỷ lệ đẻ trứng của gà nhiều cựa khá cao, với số lượng trứng đạt yêu cầu trong một năm. Điều này không chỉ giúp duy trì giống mà còn tạo ra nguồn thu nhập ổn định cho người chăn nuôi. Việc nghiên cứu khả năng sinh sản cũng giúp xác định các yếu tố ảnh hưởng đến năng suất trứng, từ đó có những biện pháp cải thiện chất lượng và số lượng trứng. Điều này có ý nghĩa quan trọng trong việc phát triển bền vững ngành chăn nuôi tại địa phương.

01/03/2025
Luận văn nghiên cứu đặc điểm sinh học khả năng sinh trưởng sinh sản ở gà nhiều cựa của đồng bào dao thị trấn trại cau huyện đồng hỷ

Trích đoạn nội dung tài liệu

Đặt vấn đề Trong những năm gần đây ngành chăn nuôi gia cầm ở nước ta ngày càng phát triển với tốc độ phát triển bình quân của những năm qua là 5%/năm và chăn nuôi gà chất lượng cao đang là vấn đề được nhiều người quan tâm. Chăn nuôi gà đã có những chuyển biến tích cực, đạt được những thành tựu khả quan: tổng đàn tăng lên về số lượng và chất lượng được cải thiện. Cùng với sự phát triển của nền kinh tế thì nhu cầu tiêu dùng thực phẩm có chất lượng cao của người dân lại càng tăng lên. Hiện nay, xu thế chung của ngành chăn nuôi trên thế giới, đặc biệt là các nước đang phát triển, bên cạnh việc phát triển thâm canh chăn nuôi cần đẩy mạnh công tác bảo tồn, gìn giữ các giống vật nuôi địa phương nhằm bảo tồn và khai thác hợp lý tài nguyên đa dạng sinh học mang lại tính ổn định bền vững cho phát triển lâu dài.

Đây là vấn đề cấp bách, khó khăn, phức tạp mang tính toàn cầu, cần được nhiều ngành quan tâm. Ở Việt Nam có rất nhiều giống vật nuôi truyền thống có giá trị kinh tế thấp nên đang bị thu hẹp về không gian phân bố, giảm dần về số lượng và có nguy cơ bị tuyệt chủng ví dụ như: lợn Ỉ, lợn Thanh Hóa, gà Hồ, gà Đông Tảo, vịt Kỳ Lừa… Gà nhiều cựa của đồng bào Dao thị trấn Trại Cau, huyện Đồng Hỷ là một trong những giống vật nuôi cần được bảo tồn. Đây là giống gà được cộng đồng người dân tộc Dao nuôi từ ngàn đời nay, nó gắn liền với tập quán văn hóa và đời sống tinh thần của người Dao. Qua điều tra sơ bộ, chúng tôi thấy giống gà nhiều cựa của đồng bào Dao thị trấn Trại Cau, huyện Đồng Hỷ không chỉ thấy ở thị trấn Trại Cau mà đã được nuôi tại một số hộ gia đình ở các địa phương khác trong tỉnh (do mua – bán, do làm quà cho nhau…).

Tuy nhiên, hiện nay giống gà nhiều cựa của đồng bào Dao thị trấn Trại Cau, huyện Đồng Hỷ chỉ còn với số lượng rất ít, có xu hướng tạp giao và mất m 2 dần những đặc tính quý hiếm, có khả năng tuyệt chủng nếu không có kế hoạch bảo tồn và phát triển. Những phân tích trên cho thấy, việc nghiên cứu về đặc điểm sinh học, khả năng sinh trưởng, sinh sản ở gà nhiều cựa của đồng bào Dao thị trấn Trại Cau, huyện Đồng Hỷ để có chiến lược bảo tồn nguồn gen của giống gà này là vấn đề cần thiết. Mục tiêu và yêu cầu của đề tài - Điều tra về số lượng, địa bàn phân bố, tình hình chăn nuôi gà nhiều cựa của đồng bào Dao thị trấn Trại Cau tại một số xã của huyện Đồng Hỷ, Đại Từ, Võ Nhai. - Xác định một số đặc tính sinh học (ngoại hình; tập tính sống) ở gà nhiều cựa của đồng bào Dao thị trấn Trại Cau.

- Xác định khả năng sinh trưởng và sinh sản ở giống gà nhiều cựa của đồng bào Dao thị trấn Trại Cau, huyện Đồng Hỷ. Ý nghĩa của đề tài 1. Ý nghĩa khoa học Kết quả của đề tài sẽ cung cấp các thông tin về giống gà nhiều cựa của đồng bào Dao thị trấn Trại Cau trên địa bàn một số xã thuộc các huyện Đồng Hỷ, Đại Từ và Võ Nhai. Ý nghĩa thực tiễn Các số liệu thu được phục vụ cho công tác bảo tồn nguồn gen gà nhiều cựa, đồng thời làm cơ sở cho định hướng công tác giống sau này.

Mặt khác, kết quả của đề tài là tài liệu tham khảo cho những nghiên cứu tiếp theo. m 3 Phần 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2.Cơ sở khoa học của đề tài 2. Ngoại hình của gia cầm Theo Đặng Hữu Lanh và cs (1999)[12] màu sắc da, lông là mã hiệu của giống, một tín hiệu để nhận dạng con giống. Màu sắc và phối hợp màu sắc đã đi vào khía cạnh thẩm mỹ của con người.

Màu sắc da, lông là một chỉ tiêu cho chọn lọc: thông thường màu sắc đồng nhất là giống thuần, trên cơ sở đồng nhất đó mà loang là không thuần, đã bị pha tạp. Màu sắc do một số ít gen kiểm soát nên có thể sử dụng để phân tích di truyền dự đoán màu của đời sau trong chọn lọc. Hầu như không có tính trạng bên ngoài nào của vật nuôi được những nhà chăn nuôi chú ý bằng sắc lông và đốm. Vì vậy, không lấy làm lạ khi thấy sắc lông là một tính trạng của phẩm giống và đặc tính của phần lớn phẩm giống đều có yêu cầu nhất định về sắc lông.

Sắc tố da, lông của gà được xác định bằng hai loại sắc tố là xantofin và melanin. Xantofin là sắc tố tinh thể màu vàng, chất này gà lấy từ thức ăn, nó chỉ nằm ở da những con có sắc vàng ở da, mỏ và cổ chân đều đồng hợp thể theo gen mà alen trội của nó (W) hạn chế sự tích luỹ cơ - xantofin trong máu và mỡ (Hutt). Melanin có ở da và gốc lông, xuất hiện không phụ thuộc vào lứa tuổi. Ở những con hoàn toàn có màu, da thường có melanin.

Ngoài ra, trong một vài trường hợp đặc biệt, chất này cũng có cả ở lớp da trong, da ngoài. Ở những con đồng hợp thể hay nửa đồng hợp thể do gen lặn (id) liên kết với giới tính, chất melanin không lan rộng được do lớp da trong hạn chế. Nếu lớp da ngoài cũng có chất xantofin thì da có màu óng ánh thấy rõ qua các tế bào stratun corneum trong vắt của cẳng chân. Nếu cũng trong lớp da ấy mà lại có xantofin thì màu trở thành xanh.

Ở các giống có màu sắc đen, màu vàng có thể do màu đen che lấp. Giải thích di truyền màu sắc da của các loại gia cầm như vậy, còn về màu sắc lông thì phức tạp hơn. Sự thay đổi về màu sắc lông do các nguyên nhân: thứ nhất là do màu sắc, hình thức và sự phân bố các hạt màu trong tế bào, thứ hai là số m 4 lượng các lớp tế bào cấu trúc và khả năng thâu nhạy ánh sáng của các tế bào ấy (Hutt). Vì vậy, loại màu sắc này phụ thuộc vào cấu trúc.

Ví dụ: các màu xanh, đỏ thường thấy ở gà đen. Ở phần lớn các giống gà, gà trống và gà mái được phân biệt nhau qua bộ lông, lông gáy, vòng cung cánh, lông seo ở gà trống thì nhọn, cong và dài. Tính trạng màu sắc và kiểu lông là tính trạng bị giới hạn bởi giới tính. Mào là đặc điểm sinh dục thứ cấp nên có thể phân biệt trống, mái.

Mào gà rất đa dạng cả về hình dáng, kích thước, màu sắc, có thể đặc trưng cho từng giống. Theo hình dạng mào người ta phân biệt các loại: mào cờ (mào đơn), mào hạt đậu, mào hoa hồng, mào nụ. Cổ, bàn và ngón chân gà thường có vẩy sừng bao kín, cơ tiêu giảm chỉ còn gân và da. Chân thường có vuốt và cựa.

Cựa có vai trò cạnh tranh sinh sản và đấu tranh sinh tồn của loài. Chân gia cầm có 4 ngón, hiếm khi 5 ngón, vì thế khi phát hiện chân gà có 5 ngón trở lên là gà nhiều ngón (trong dân gian thường gọi là gà nhiều cựa). Tập tính và sức đề kháng Tập tính động vật là chuỗi những phản ứng lại các kích thích của môi trường (bên trong cũng như bên ngoài cơ thể) nhờ đó mà động vật tồn tại và phát triển. Dựa vào các đặc điểm của tập tính động vật, có thể phân biệt thành 2 nhóm tập tính chính là: tập tính bẩm sinh và tập tính thứ sinh.

Tập tính bẩm sinh (inborn): là những hoạt động cơ bản của cơ thể động vật mà ngay từ khi sinh ra đã có, không cần qua học hỏi, rèn luyện, mang tính bản năng, được di truyền từ bố mẹ, không thay đổi và không chịu ảnh hưởng của điều kiện và hoàn cảnh sống, chúng được quyết định bởi yếu tố di truyền. Tập tính thứ sinh (acquired): là loại tập tính được hình thành trong quá trình sống do học tập hoặc do có sự bàn giao giữa các cá thể cùng loài. Ở những nhóm động vật càng cao, càng tiến hóa, loại tập tính đó học được càng nhiều, do đó chúng càng dễ thích nghi với điều kiện và hoàn cảnh sống. Ngoài ra, có thể kể loại tập tính thứ ba là tập tính hỗn hợp (mixed).

Sức sống và khả năng kháng bệnh là một chỉ tiêu quan trọng ảnh hưởng trực tiếp tới cơ thể. Hiệu quả chăn nuôi bị chi phối bởi các yếu tố bên trong cơ thể (yếu tố di truyền) và môi trường ngoại cảnh (như: dinh dưỡng, chăm sóc, mùa vụ, dịch m 5 tễ, chuồng trại. Lê Viết Ly (1995)[16] cho biết, động vật thích nghi tốt thể hiện ở sự giảm khối lượng cơ thể thấp nhất khi bị stress, có sức sinh sản tốt, sức kháng bệnh cao, sống lâu và tỷ lệ chết thấp. Sức sống được xác định bởi tính di truyền, đó là khả năng có thể chống lại những ảnh hưởng bất lợi của môi trường cũng như ảnh hưởng của dịch bệnh (Johanson, 1972)[6].

Sự giảm sức sống ở giai đoạn hậu phôi có thể do tác động của các gen nửa gây chết, nhưng chủ yếu là do tác động của môi trường (Brandsch and cs, 1978)[32]. Các giống vật nuôi nhiệt đới có khả năng chống bệnh truyền nhiễm, bệnh ký sinh trùng cao hơn so với các giống vật nuôi ở vùng ôn đới (Trần Đình Miên và cs, 1994)[19]. Trần Thị Mai Phương (2004)[21] cho biết, tỷ lệ nuôi sống của gà Ác từ 0 - 8 tuần tuổi đạt 93,6 - 96,9%. Tỷ lệ nuôi sống của gà Ri từ 0 - 9 tuần 92,11% (Nguyễn Đăng Vang và cs, 1999)[31].

Một số đặc điểm sinh trưởng và các yếu tố ảnh hưởng tới khả năng sinh trưởng của gia cầm 2. Khái niệm về sinh trưởng và phát triển Về mặt sinh học, sự sinh trưởng được xem như quá trình tổng hợp protein, nên người ta thường lấy việc tăng khối lượng làm chỉ tiêu đánh giá khả năng sinh trưởng. Sinh trưởng là một quá trình sinh lý phức tạp và tuân theo những quy luật nhất định. Trần Đình Miên và cs (1995)[20] cho biết: Mydedorpho A.F là người đầu tiên phát hiện ra quy luật sinh trưởng theo giai đoạn của động vật.

Tác giả cho rằng gia động vật non phát triển mạnh nhất sau khi mới sinh, sau đó tăng khối lượng giảm dần theo từng tháng tuổi. * Khái niệm sinh trưởng: Sinh trưởng là một quá trình sinh lý, sinh hoá phức tạp, duy trì từ khi phôi được hình thành cho đến khi con vật đã trưởng thành.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu "Nghiên cứu đặc điểm sinh học và khả năng sinh trưởng, sinh sản của gà nhiều cựa tại thị trấn Trại Cau, huyện Đồng Hỷ" cung cấp cái nhìn sâu sắc về đặc điểm sinh học và khả năng phát triển của giống gà đặc biệt này. Nghiên cứu không chỉ giúp người đọc hiểu rõ hơn về các yếu tố ảnh hưởng đến sự sinh trưởng và sinh sản của gà nhiều cựa, mà còn mở ra cơ hội cho việc phát triển chăn nuôi bền vững trong khu vực. Những thông tin này có thể hữu ích cho các nhà nghiên cứu, nông dân và những ai quan tâm đến việc nâng cao năng suất chăn nuôi gia cầm.

Để mở rộng thêm kiến thức về chăn nuôi và các biện pháp kỹ thuật liên quan, bạn có thể tham khảo tài liệu Luận văn thạc sĩ nông nghiệp điều tra nghiên cứu biện pháp kỹ thuật tổng hợp trong canh tác hồ tiêu piper nigrum l theo hướng bền vững tại đăk lăk, nơi trình bày các phương pháp canh tác bền vững. Ngoài ra, tài liệu Luận văn áp dụng biện pháp phòng chẩn đoán điều trị bệnh cho đàn gia súc gia cầm tại xã bình minh thanh oai hà nội sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn về các biện pháp phòng bệnh cho gia cầm. Cuối cùng, bạn cũng có thể tìm hiểu thêm về quy trình chăn nuôi qua tài liệu Luận văn áp dụng quy trình kĩ thuật trong chăn nuôi và phòng trị 1 số bệnh thường gặp ở lợn thịt tại trại phạm khắc bộ mỹ hào hưng yên. Những tài liệu này sẽ giúp bạn có cái nhìn toàn diện hơn về lĩnh vực chăn nuôi và các kỹ thuật liên quan.