Đặt vấn đề Trong những năm gần đây ngành chăn nuôi gia cầm ở nước ta ngày càng phát triển với tốc độ phát triển bình quân của những năm qua là 5%/năm và chăn nuôi gà chất lượng cao đang là vấn đề được nhiều người quan tâm. Chăn nuôi gà đã có những chuyển biến tích cực, đạt được những thành tựu khả quan: tổng đàn tăng lên về số lượng và chất lượng được cải thiện. Cùng với sự phát triển của nền kinh tế thì nhu cầu tiêu dùng thực phẩm có chất lượng cao của người dân lại càng tăng lên. Hiện nay, xu thế chung của ngành chăn nuôi trên thế giới, đặc biệt là các nước đang phát triển, bên cạnh việc phát triển thâm canh chăn nuôi cần đẩy mạnh công tác bảo tồn, gìn giữ các giống vật nuôi địa phương nhằm bảo tồn và khai thác hợp lý tài nguyên đa dạng sinh học mang lại tính ổn định bền vững cho phát triển lâu dài.
Đây là vấn đề cấp bách, khó khăn, phức tạp mang tính toàn cầu, cần được nhiều ngành quan tâm. Ở Việt Nam có rất nhiều giống vật nuôi truyền thống có giá trị kinh tế thấp nên đang bị thu hẹp về không gian phân bố, giảm dần về số lượng và có nguy cơ bị tuyệt chủng ví dụ như: lợn Ỉ, lợn Thanh Hóa, gà Hồ, gà Đông Tảo, vịt Kỳ Lừa… Gà nhiều cựa của đồng bào Dao thị trấn Trại Cau, huyện Đồng Hỷ là một trong những giống vật nuôi cần được bảo tồn. Đây là giống gà được cộng đồng người dân tộc Dao nuôi từ ngàn đời nay, nó gắn liền với tập quán văn hóa và đời sống tinh thần của người Dao. Qua điều tra sơ bộ, chúng tôi thấy giống gà nhiều cựa của đồng bào Dao thị trấn Trại Cau, huyện Đồng Hỷ không chỉ thấy ở thị trấn Trại Cau mà đã được nuôi tại một số hộ gia đình ở các địa phương khác trong tỉnh (do mua – bán, do làm quà cho nhau…).
Tuy nhiên, hiện nay giống gà nhiều cựa của đồng bào Dao thị trấn Trại Cau, huyện Đồng Hỷ chỉ còn với số lượng rất ít, có xu hướng tạp giao và mất m 2 dần những đặc tính quý hiếm, có khả năng tuyệt chủng nếu không có kế hoạch bảo tồn và phát triển. Những phân tích trên cho thấy, việc nghiên cứu về đặc điểm sinh học, khả năng sinh trưởng, sinh sản ở gà nhiều cựa của đồng bào Dao thị trấn Trại Cau, huyện Đồng Hỷ để có chiến lược bảo tồn nguồn gen của giống gà này là vấn đề cần thiết. Mục tiêu và yêu cầu của đề tài - Điều tra về số lượng, địa bàn phân bố, tình hình chăn nuôi gà nhiều cựa của đồng bào Dao thị trấn Trại Cau tại một số xã của huyện Đồng Hỷ, Đại Từ, Võ Nhai. - Xác định một số đặc tính sinh học (ngoại hình; tập tính sống) ở gà nhiều cựa của đồng bào Dao thị trấn Trại Cau.
- Xác định khả năng sinh trưởng và sinh sản ở giống gà nhiều cựa của đồng bào Dao thị trấn Trại Cau, huyện Đồng Hỷ. Ý nghĩa của đề tài 1. Ý nghĩa khoa học Kết quả của đề tài sẽ cung cấp các thông tin về giống gà nhiều cựa của đồng bào Dao thị trấn Trại Cau trên địa bàn một số xã thuộc các huyện Đồng Hỷ, Đại Từ và Võ Nhai. Ý nghĩa thực tiễn Các số liệu thu được phục vụ cho công tác bảo tồn nguồn gen gà nhiều cựa, đồng thời làm cơ sở cho định hướng công tác giống sau này.
Mặt khác, kết quả của đề tài là tài liệu tham khảo cho những nghiên cứu tiếp theo. m 3 Phần 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2.Cơ sở khoa học của đề tài 2. Ngoại hình của gia cầm Theo Đặng Hữu Lanh và cs (1999)[12] màu sắc da, lông là mã hiệu của giống, một tín hiệu để nhận dạng con giống. Màu sắc và phối hợp màu sắc đã đi vào khía cạnh thẩm mỹ của con người.
Màu sắc da, lông là một chỉ tiêu cho chọn lọc: thông thường màu sắc đồng nhất là giống thuần, trên cơ sở đồng nhất đó mà loang là không thuần, đã bị pha tạp. Màu sắc do một số ít gen kiểm soát nên có thể sử dụng để phân tích di truyền dự đoán màu của đời sau trong chọn lọc. Hầu như không có tính trạng bên ngoài nào của vật nuôi được những nhà chăn nuôi chú ý bằng sắc lông và đốm. Vì vậy, không lấy làm lạ khi thấy sắc lông là một tính trạng của phẩm giống và đặc tính của phần lớn phẩm giống đều có yêu cầu nhất định về sắc lông.
Sắc tố da, lông của gà được xác định bằng hai loại sắc tố là xantofin và melanin. Xantofin là sắc tố tinh thể màu vàng, chất này gà lấy từ thức ăn, nó chỉ nằm ở da những con có sắc vàng ở da, mỏ và cổ chân đều đồng hợp thể theo gen mà alen trội của nó (W) hạn chế sự tích luỹ cơ - xantofin trong máu và mỡ (Hutt). Melanin có ở da và gốc lông, xuất hiện không phụ thuộc vào lứa tuổi. Ở những con hoàn toàn có màu, da thường có melanin.
Ngoài ra, trong một vài trường hợp đặc biệt, chất này cũng có cả ở lớp da trong, da ngoài. Ở những con đồng hợp thể hay nửa đồng hợp thể do gen lặn (id) liên kết với giới tính, chất melanin không lan rộng được do lớp da trong hạn chế. Nếu lớp da ngoài cũng có chất xantofin thì da có màu óng ánh thấy rõ qua các tế bào stratun corneum trong vắt của cẳng chân. Nếu cũng trong lớp da ấy mà lại có xantofin thì màu trở thành xanh.
Ở các giống có màu sắc đen, màu vàng có thể do màu đen che lấp. Giải thích di truyền màu sắc da của các loại gia cầm như vậy, còn về màu sắc lông thì phức tạp hơn. Sự thay đổi về màu sắc lông do các nguyên nhân: thứ nhất là do màu sắc, hình thức và sự phân bố các hạt màu trong tế bào, thứ hai là số m 4 lượng các lớp tế bào cấu trúc và khả năng thâu nhạy ánh sáng của các tế bào ấy (Hutt). Vì vậy, loại màu sắc này phụ thuộc vào cấu trúc.
Ví dụ: các màu xanh, đỏ thường thấy ở gà đen. Ở phần lớn các giống gà, gà trống và gà mái được phân biệt nhau qua bộ lông, lông gáy, vòng cung cánh, lông seo ở gà trống thì nhọn, cong và dài. Tính trạng màu sắc và kiểu lông là tính trạng bị giới hạn bởi giới tính. Mào là đặc điểm sinh dục thứ cấp nên có thể phân biệt trống, mái.
Mào gà rất đa dạng cả về hình dáng, kích thước, màu sắc, có thể đặc trưng cho từng giống. Theo hình dạng mào người ta phân biệt các loại: mào cờ (mào đơn), mào hạt đậu, mào hoa hồng, mào nụ. Cổ, bàn và ngón chân gà thường có vẩy sừng bao kín, cơ tiêu giảm chỉ còn gân và da. Chân thường có vuốt và cựa.
Cựa có vai trò cạnh tranh sinh sản và đấu tranh sinh tồn của loài. Chân gia cầm có 4 ngón, hiếm khi 5 ngón, vì thế khi phát hiện chân gà có 5 ngón trở lên là gà nhiều ngón (trong dân gian thường gọi là gà nhiều cựa). Tập tính và sức đề kháng Tập tính động vật là chuỗi những phản ứng lại các kích thích của môi trường (bên trong cũng như bên ngoài cơ thể) nhờ đó mà động vật tồn tại và phát triển. Dựa vào các đặc điểm của tập tính động vật, có thể phân biệt thành 2 nhóm tập tính chính là: tập tính bẩm sinh và tập tính thứ sinh.
Tập tính bẩm sinh (inborn): là những hoạt động cơ bản của cơ thể động vật mà ngay từ khi sinh ra đã có, không cần qua học hỏi, rèn luyện, mang tính bản năng, được di truyền từ bố mẹ, không thay đổi và không chịu ảnh hưởng của điều kiện và hoàn cảnh sống, chúng được quyết định bởi yếu tố di truyền. Tập tính thứ sinh (acquired): là loại tập tính được hình thành trong quá trình sống do học tập hoặc do có sự bàn giao giữa các cá thể cùng loài. Ở những nhóm động vật càng cao, càng tiến hóa, loại tập tính đó học được càng nhiều, do đó chúng càng dễ thích nghi với điều kiện và hoàn cảnh sống. Ngoài ra, có thể kể loại tập tính thứ ba là tập tính hỗn hợp (mixed).
Sức sống và khả năng kháng bệnh là một chỉ tiêu quan trọng ảnh hưởng trực tiếp tới cơ thể. Hiệu quả chăn nuôi bị chi phối bởi các yếu tố bên trong cơ thể (yếu tố di truyền) và môi trường ngoại cảnh (như: dinh dưỡng, chăm sóc, mùa vụ, dịch m 5 tễ, chuồng trại. Lê Viết Ly (1995)[16] cho biết, động vật thích nghi tốt thể hiện ở sự giảm khối lượng cơ thể thấp nhất khi bị stress, có sức sinh sản tốt, sức kháng bệnh cao, sống lâu và tỷ lệ chết thấp. Sức sống được xác định bởi tính di truyền, đó là khả năng có thể chống lại những ảnh hưởng bất lợi của môi trường cũng như ảnh hưởng của dịch bệnh (Johanson, 1972)[6].
Sự giảm sức sống ở giai đoạn hậu phôi có thể do tác động của các gen nửa gây chết, nhưng chủ yếu là do tác động của môi trường (Brandsch and cs, 1978)[32]. Các giống vật nuôi nhiệt đới có khả năng chống bệnh truyền nhiễm, bệnh ký sinh trùng cao hơn so với các giống vật nuôi ở vùng ôn đới (Trần Đình Miên và cs, 1994)[19]. Trần Thị Mai Phương (2004)[21] cho biết, tỷ lệ nuôi sống của gà Ác từ 0 - 8 tuần tuổi đạt 93,6 - 96,9%. Tỷ lệ nuôi sống của gà Ri từ 0 - 9 tuần 92,11% (Nguyễn Đăng Vang và cs, 1999)[31].
Một số đặc điểm sinh trưởng và các yếu tố ảnh hưởng tới khả năng sinh trưởng của gia cầm 2. Khái niệm về sinh trưởng và phát triển Về mặt sinh học, sự sinh trưởng được xem như quá trình tổng hợp protein, nên người ta thường lấy việc tăng khối lượng làm chỉ tiêu đánh giá khả năng sinh trưởng. Sinh trưởng là một quá trình sinh lý phức tạp và tuân theo những quy luật nhất định. Trần Đình Miên và cs (1995)[20] cho biết: Mydedorpho A.F là người đầu tiên phát hiện ra quy luật sinh trưởng theo giai đoạn của động vật.
Tác giả cho rằng gia động vật non phát triển mạnh nhất sau khi mới sinh, sau đó tăng khối lượng giảm dần theo từng tháng tuổi. * Khái niệm sinh trưởng: Sinh trưởng là một quá trình sinh lý, sinh hoá phức tạp, duy trì từ khi phôi được hình thành cho đến khi con vật đã trưởng thành.