MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Trà hoa vàng là các loài thuộc chi trà (Camelia), họ chè (Theaceae) có hoa màu vàng, nguồn gốc ở khu vực miền đông và miền nam châu Á, từ dãy Himalaya về phía đông tới Nhật Bản và Indonexia. Tổng số loài đã biết thuộc chi Camellia trên thế giới vào khoảng trên dưới 200 loài. Thái Nguyên là một trong những tỉnh trung du miền núi có nhiều chủng loại cây dược liệu, cây cảnh, nhưng trong đó phải kể đến là các loại cây Trà hoa vàng của chi Camellia.
Qua điều tra cho thấy trên địa bàn huyện Đồng Hỷ, Đại Từ, Phú Lương… có sự xuất hiện của loài cây này nhưng việc nghiên cứu và tìm hiểu Trà hoa vàng tại đây còn chưa được toàn diện và đồng bộ, chưa có quy trình kỹ thuật thâm canh chung cho Trà hoa vàng ở giai đoạn kinh doanh. Các thử nghiệm ban đầu mới chỉ dừng lại ở việc nghiên cứu về đặc điểm sinh vật học và nhân giống [1]. Tạp chí “Camellia International Journal” - một ấn phẩm chuyên nghiên cứu về Trà hoa vàng của thế giới xuất bản tại Newzealand cho biết: Trà hoa vàng có thể chiết xuất 9 vi chất khác nhau. Sản phẩm từ các hợp chất của Trà hoa vàng có khả năng kiềm chế sự sinh trưởng của các khối u đến 33,8% (trong khi y học cho rằng chỉ cần đạt đến ngưỡng 30% đã có thể xem là thành công trong điều trị ung thư), giúp giảm đến 35% hàm lượng cholesterol trong máu (trong khi dùng các loại thuốc khác thì mức độ giảm chỉ là 33,2%).
Chất chiết xuất từ Trà hoa vàng còn có tác dụng làm giảm tới 36,1% lượng lipoprotein trong cơ thể, cao hơn 10% so với các liệu pháp sử dụng tân dược hiện nay [13]. Giá trị của Trà hoa vàng không chỉ nằm ở hoa, lá mà còn ở các bộ phân như rễ cây, cành cây, vì vậy để không ảnh hưởng đến giá trị của dược liệu, người sản xuất cần hạn chế sử dụng các loại thuốc bảo vệ có nguồn gốc hóa học và các loại phân bón vô cơ. h 2 Phân hữu cơ vi sinh có vai trò hết sức quan trọng trong việc nâng cao năng suất và chất lượng sinh trưởng của cây trà hoa vàng. Trong nền nông nghiệp của Việt Nam hiện nay thì việc sử dụng phân hữu cơ nói chung, phân hữu cơ vi sinh nói riêng để thay thế cho một phần phân khoáng có tầm quan trọng đặc biệt nhằm tăng hiệu quả sử dụng phân bón và góp phần giảm chi phí sản xuất, giảm thiệt hại do sâu bệnh, nhất là tăng độ phì, tạo cân bằng vi sinh vật cho đất.
Nghiên cứu ảnh hưởng của một số loại phân hữu cơ vi sinh đến sinh trưởng và phát triển của cây Trà hoa vàng có năng suất cao phẩm chất tốt góp phần thu hút lao động dư thừa ở miền núi, giúp cho đồng bào có thêm thu nhập và xóa đói giảm nghèo một cách nhanh chóng. Đến nay, phân hữu cơ vi sinh đã được sử dụng ở rất nhiều nơi trong nước, cho nhiều loại cây trồng như: chè, cà phê, khoai lang, cây rau…Tuy nhiên bón phân hữu cơ vi sinh như thế nào là hợp lí và hiệu quả cao còn tùy thuộc vào từng loại cây trồng, từng loại đất. Việc tìm ra công thức bón phân hiệu quả, hợp lí cho các loại cây trồng trong đó có cây Trà hòa vàng ở từng vùng là nhu cầu cấp thiết. Chính vì vậy, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Nghiên cứu ảnh hưởng của một số loại phân hữu cơ vi sinh đến sinh trưởng và phát triển Trà hoa vàng (Camellia Chrysantha)” tại Thái Nguyên.
Mục đích và yêu cầu của đề tài 1. Mục đích Lựa chọn được loại phân bón hữu cơ vi sinh có hiệu quả tốt nhất cho sự sinh trưởng phát triển của cây Trà hoa vàng Camellia Chrysantha tại Thái Nguyên. Yêu cầu - Đánh giá được tình hình sinh trưởng của cây Trà hoa vàng. - Xác định ảnh hưởng của phân hữu cơ vi sinh đến năng suất, chất lượng Trà hoa vàng.
- Đánh giá tình hình sâu bệnh hại chính trên Trà hoa vàng ở các công thức sử dụng phân bón hữu cơ vi sinh khác nhau. Ý Nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 1. Ý nghĩa khoa học - Giúp sinh viên củng cố và hệ thống hóa kiến thức đã học trong nhà trường vào nghiên cứu khoa học và trau dồi kiến thức, kinh nghiệm thực tế nắm được cách tiến hành một đề tài nghiên cứu khoa học, biết phương pháp thu thập, xử lý số liệu và trình bày một báo cáo khoa học. - Kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ là cơ sở khoa học để xác định mức bón phân hữu cơ vi sinh hợp lý, góp phần hoàn thiện quy trình bón phân hữu cơ vi sinh phục vụ cho sản xuất Trà hoa vàng an toàn tại tỉnh.
Ý nghĩa thực tiễn - Kết quả nghiên cứu sẽ góp phần làm tăng năng suất, chất lượng, từ đó nâng cao thu nhập cho người trồng Trà hoa vàng. - Giúp cho người dân bước đầu tiếp cận các biện pháp sử dụng phân hữu cơ vi sinh, để hướng tới một nền nông nghiệp bền vững. h 4 PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2. Cơ sở khoa học Phân bón là vật tư cực kỳ quan trọng trong sản xuất nông nghiệp đảm bảo sản xuất đạt hiệu quả và bền vững, việc sử dụng phân bón đúng cách sẽ góp phần nâng cao năng suất và chất lượng nông sản.
Bộ NN&PTNT đã khuyến cáo người nông dân bón phân hợp lí, tăng sử dụng các loại phân hữu cơ, phân vi sinh, giảm sử dụng phân khoáng nhằm giảm chi phí sản xuất, tăng hiệu quả đầu tư [10]. Phân bón hữu cơ vi sinh là sản phẩm được sản xuất từ các nguồn nguyên liệu hữu cơ khác nhau, nhằm cung cấp chất dinh dưỡng cho cây trồng, cải tạo đất, chứa một hay nhiều chủng loại vi sinh vật sống được tuyển chọn với mật độ đạt tiêu chuẩn quy định, góp phần nâng cao năng suất, chất lượng nông sản. Phân hữu cơ vi sinh không gây ảnh hưởng xấu đến người, động vật, môi trường sinh thái và chất lượng nông sản [11]. Hiệu quả của phân HCVS phụ thuộc vào loại, số lượng và hoạt lực của các vi sinh vật.
Phân HCVS thường chứa một hay nhiều loại vi sinh vật thuộc các nhóm cố định đạm, phân giải lân, phóng thích kali và kích thích sinh trưởng. Các vi sinh vật cố định đạm gồm vi khuẩn Azotobacter, Bradyrhizobium, Rhyzobium, xạ khuẩn Actinomyces, Klebsiella, tảo lam (Cyanobacterium). Hiện nay thực tế số lượng cá thể các loài Trà hoa vàng trong tự nhiên không còn nhiều vì vậy để phát triển và bảo tồn loài cây này chúng ta cần tiến hành nhân giống cây Trà hoa vàng và trồng theo mục đích cụ thể. Trà hoa vàng được tìm thấy chủ yếu ở dưới tán rừng, nơi có tầng đất canh dày và độ mùn cao.
Vì vậy khi đưa Trà hoa vàng về trồng, môi trường sống của cây Trà hoa vàng bị thay đổi, tầng đất canh tác không giống như môi trường sống của cây ban đầu. Để có được điều kiện sống thích hợp cho Trà hoa vàng sinh trưởng và phát triển tốt cần đưa về điều kiện gần giống như môi trường tự nhiên. h 5 Do vậy việc bón bổ sung phân vi sinh giúp cho tầng đất được cải thiện, tăng mùn và độ tơi xốp cho đất. Trên cơ sở đó tạo môi trường sống thuận lợi cho Trà hoa vàng sinh trưởng và phát triển.
Nguồn gốc và phân bố 2. Nguồn gốc Ở Trung Quốc hiện có 28 loài Trà hoa vàng. Năm 1965 các nhà thực vật Trung Quốc đã mô tả loài Trà hoa vàng đầu tiên là Camellia nitidissima và loài này được xếp trong 10 loài thực vật quý và hiếm nhất của Trung Quốc. Đồng thời ở tỉnh Quảng Tây cũng đã thành lập cơ sở bảo tồn Trà hoa vàng đầu tiên, với tổng số 23 loài.
Do phát hiện thấy các tác dụng chữa bệnh độc đáo của Trà hoa vàng, nên ở Trung Quốc đã xây dựng vài trang trại, để cung cấp nguyên liệu Trà hoa vàng sản xuất thuốc [5]. Những năm 60 của thế kỷ XX, lần đầu tiên Trà hoa vàng được phát hiện ở Quảng Tây, Trung Quốc và được sự quan tâm của nhiều nhà khoa học. Từ đó nó được các nước rất quan tâm nghiên cứu vì có một số công dụng đặc biệt. Trung Quốc đã xây dựng được khu bảo tồn gen các loại Trà hoa vàng (trên 20 loài và biến chủng) và đi sâu nghiên cứu các mặt cấu tạo gỗ, nhiễm sắc thể, đặc trưng hình thành phấn hoa, lai giống và nhân giống Trà hoa vàng [5].
Ở Việt Nam, trong bộ Danh lục các loài thực vật Việt Nam, tập II, năm 2003, các tác giả đã đề cập, thuộc chi Camellia L. ở nước ta có 45 loài. Tuy nhiên, trong hơn 10 năm trở lại đây, GS TS Trần Ninh và một số Tác giả trong và ngoài nước khác, đã đi sâu nghiên cứu về Trà hoa vàng ở Việt Nam. Theo các Tác giả này cho biết ở nước ta hiện có 26 loài, trong đó có nhiều loài được công bố là loài mới cho khoa học và đặc hữu của Việt Nam.
Riêng ở VQG Tam Đảo đã phát hiện thấy 8 loài, nơi đây được coi là vùng tập trung nhiều loài Trà hoa vàng ở nước ta [5]. Chi trà ở VQG Tam Đảo được tìm thấy có 16 loài, chiếm 28% tổng số loài Trà hoa vàng ở Việt Nam. Trong đó có 2 loài Trà hoa vàng Tam Đảo và h 6 Trà hoa vàng pêtêlô là đặc hữu, là cây hoa và cây dược liệu quý. Đây là các loài có hoa to, màu vàng đậm, rất đẹp.
Trong quá trình nghiên cứu, VQG Tam Đảo đã xây dựng được quy trình nhân giống vô tính để trồng bảo tồn và giúp người dân phát triển kinh tế. Mặc dù mới chỉ là bước đầu, song các kết quả trên cho thấy, cả 16 loài hiện có ở VQG Tam Đảo đều có các thành phần hóa học và tác dụng sinh học khả quan để ứng dụng trong Y - Dược học [2], [13]. Trên thế giới Trà hoa vàng là các loài thuộc chi trà (Camelia), họ chè (Theaceae) có hoa màu vàng, nguồn gốc ở khu vực miền đông và miền nam châu Á, từ dãy Himalaya về phía đông tới Nhật Bản và Indonexia. Tổng số loài đã biết thuộc chi Camellia trên thế giới vào khoảng trên dưới 200 loài.
Các nhà nghiên cứu thực vật đã coi các loài Trà hoa vàng là nguồn gen quý hiếm cần được bảo vệ nghiêm ngặt [5]. Về mặt hệ thống học, Camellia L.