Đặt vấn đề Cây Lan kim tuyến (Anoectochilus roxburghi Wall.) thuộc họ Phong lan (Orchidaceae), phân bố ở một số tỉnh miền núi phía Bắc Việt Nam, Phía nam Trung Quốc và quần đảo Nam Thái Bình Dương dưới các tán rừng ẩm với độ cao 500 – 1. Lan kim tuyến được biết đến như một thảo dược quý có thể chữa được nhiều bệnh và còn tăng cường sức khỏe con người. Theo y học cổ truyền Trung Hoa, Lan kim tuyến được dùng để điều trị bệnh tiểu đường, làm tan khối u, phòng ngừa các bệnh u bướu và tim mạch. Nghiên cứu về Trung y tuyên bố năm 1924: toàn thân cây thuốc được dùng để tăng cường sức khỏe, trị bệnh phổi, di tinh, xuất tinh sớm, yếu gan, yếu tỳ và các vết thương do rắn cắn; ngoài ra Lan kim tuyến còn có tác dụng bổ máu, giải nhiệt [7].
Ngày nay, y học hiện đại đã phân tích và xác định được Lan kim tuyến chứa các thành phần hoạt chất có dược tính cực kỳ quan trọng bao gồm: Flavonoid, steroid, trierpenoids, acid amin và các loại khoáng đa vi lượng khác có thể chữa các bệnh như: trị lao phổi, ho do viêm phế quản, chấn thương, viêm dạ dày mãn tính, suy nhược thần kinh, làm khí huyết lưu thông, kháng khuẩn, đau bụng, đau ngực, viêm thận, sốt cao, đắp vết thương do bị rắn cắn. [21], [22] Lan kim tuyến không chỉ là nguồn thảo dược quý mà còn có giá trị kinh tế cao. Vì vậy loài cây này đã bị khai thác quá mức và đang có nguy cơ tuyệt chủng trong tự nhiên. Hiện nay, Lan kim tuyến được đưa vào sách đỏ ở Việt Nam năm 2007 theo nghị định 32/2006/NĐ-CP, xếp hạng EN A1 a, c, d và bị cấm khai thác sử dụng với mục đích thương mại.
c 2 Hiện nay, quy mô trồng lan Kim tuyến vẫn còn nhỏ lẻ, manh mún và thiếu tập trung; năng suất, sản lượng và hiệu quả sản xuất lan Kim tuyến vẫn còn thấp và không ổn định do chưa có công trình nghiên cứu đầy đủ về giống cũng như các biện pháp kỹ thuật trồng trọt. Để phát huy thế mạnh của địa phương và cung ứng nguồn nguyên liệu dược liệu cho thị trường thì việc cần phải có những nghiên cứu cơ bản về các biện pháp kỹ thuật là hết sức cần thiết. Vậy để tăng được năng suất và sản lượng lan Kim tuyến phải xác định được các biện pháp kỹ thuật phù hợp như phân bón, giá thể phù hợp để tạo môi trường sống thích hợp cho lan Kim tuyến sinh trưởng tốt. Xuất phát từ cơ sở trên tôi thực hiện đề tài “ Nghiên cứu ảnh hưởng của giá thể và một số loại phân bón lá đến sinh trưởng của lan Kim tuyến (Anoectochilus roxburghi Wall.
Mục đích, yêu cầu của đề tài 1. Mục đích Xác định được giá thể và loại phân bón lá phù hợp cho lan Kim tuyến tại Thái Nguyên. Góp phần bảo tồn và phát triển loại lan này. Yêu cầu - Đánh giá ảnh hưởng của giá thể đến khả năng sinh trưởng của lan Kim tuyến.
- Đánh giá ảnh hưởng của phân bón lá đến khả năng sinh trưởng của lan Kim tuyến. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn 1. Ý nghĩa khoa học - Góp phần bảo tồn, lưu giữ nguồn gen thúc đẩy sản xuất để phát triển nguồn tài nguyên thiên nhiên quý giá. c 3 - Kết quả nghiên cứu thu được làm tài liệu cần thiết cho công tác nghiên cứu khoa học và giảng dạy tại các Viện nghiên cứu và các trường Đại học, Cao đẳng, Trung học chuyên nghiệp.
Ý nghĩa thực tiễn - Đánh giá được ảnh hưởng của các yếu tố (giá thể và phân bón) đến tỷ lệ sống, sự sinh trưởng và phát triển của Lan kim tuyến. - Khuyến cáo các kỹ thuật phù hợp cho người dân. c 4 PHẦN II TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2. Cơ sở khoa học của đề tài 2.
Cơ sở khoa học nghiên cứu về Lan kim tuyến Cùng với sự phát triển kinh tế, xã hội, y học, việc vận dụng tính dược liệu của các loại lan trong những năm gần đây ngày càng được coi trọng và dần đi theo chiều sâu, đặc biệt là loài lan đang đứng trước nguy cơ tuyệt chủng và cần được bảo tồn. Lan đang là nhu cầu của nhiều người trên thế giới trong việc thưởng thức cái đẹp hay trong y học. Hiện nay Lan là một loại cây trồng có giá trị cao. Ở Việt Nam, loài lan đã được một số nhà khoa học nghiên cứu đánh giá và bước đầu thu được những kết quả tốt.
Tuy nhiên việc đưa ra biện pháp kỹ thuật phù hợp để chăm sóc lan mọc ở rừng của Việt Nam đã được thuần hóa như Lan kim tuyến còn nhiều khó khăn cho người trồng, hiệu quả kinh tế thấp, có khi dẫn đến thất bại. Nghiên cứu về Lan kim tuyến sẽ giúp chúng ta nắm bắt được đặc điểm sinh trưởng, phát triển, khả năng phù hợp của chúng với điều kiện ngoại cảnh, từ đó có thể lựa chọn được biện pháp kỹ thuật phù hợp với cây trước khi đưa vào sản xuất. Cơ sở khoa học nghiên cứu về giá thể - Giá thể: là khái niệm dùng để chỉ tất cả các vật chất bao quanh bộ rễ của cây trồng. Việc sử dụng các giá thể phù hợp có ý nghĩa đặc biệt đối với các loại cây trồng.
Các giá thể được sử dụng hiện nay gồm: than củi, vỏ thông, xơ dừa, rễ bèo tây, rễ cây dương xỉ, gạch nung. Tác giả Việt Chương, Nguyễn Việt Thái, 2001 [4] cho rằng: dùng than hoa, gạch, xơ dừa, rễ lục bình, vỏ thông để trồng hoa lan. Những vật liệu này dễ kiếm và rẻ tiền ở Việt Nam, có thể phối trộn các loại giá thể với nhau để trồng lan tùy theo từng giống lan, độ tuổi của lan và điều kiện cụ thể từng nơi. - Đặc điểm của một số loại giá thể: c 5 Xơ dừa: là giá thể rẻ tiền, dễ kiếm.
Tuy nhiên cũng có nhược điểm thoát nước nhanh, chóng mục, vì vậy dễ bị sâu bệnh. Đối với giá thể này cần phải thường xuyên phun thuốc phòng trừ sâu bệnh. Vỏ thông: giá cả của vỏ thông so với xơ dừa hoặc than củi là tương đương nhau. Trong vỏ thông có chứa Resin nên có tính sát khuẩn cao, lâu mục, không đóng rêu, ít có mầm bệnh các loại nấm hại.
Than củi: dùng để giữ ẩm. Là một giá thể tốt vì không chứa mầm bệnh, không mục nát và có khả năng giữ nước, hấp thụ dinh dưỡng tốt. Phù hợp với rất nhiều loại lan như Cattleya, Rhychostylis, Oncidium… Gạch nung: trồng lan rất tốt nhưng phải nung già, ngăn rêu mọc, luôn tạo độ thoáng thích hợp cho bề mặt rễ bám, nhược điểm là nặng chỉ phù hợp trồng chậu thích hợp với nhiều loài lan thuộc chi Cymbidium… Rêu: có dạng sợi, dai, thoáng xốp giữ ẩm rất tốt, hấp thụ dinh dưỡng tốt rất phù hợp với nhiều loài lan khác nhau, nhất là lan Hồ điệp, nhưng giá thành rất cao, đây cũng là nguyên nhân làm tăng giá thành sản phẩm. Rễ bèo tây (lục bình): giữ ẩm tốt, dễ kiếm, rẻ tiền, trong rễ bèo có chứa một phần dinh dưỡng.
Chính vì vậy, từ xa xưa con người đã dùng để bó bầu cành chiết nhanh ra rễ, nhưng chóng mục, dễ bị sâu bệnh vì vậy cũng phải thường xuyên phun phòng trừ sâu bệnh. Mút xốp: dễ kiếm, giữ nước rất nhanh nhưng thoát cũng nhanh vì vậy khi sử dụng giá thể này cần chú ý đến chế độ tưới nước, phân. Cơ sở khoa học nghiên cứu về phân bón cho lan Dinh dưỡng đóng vai trò rất quan trọng đối với lan. Khi lan đầy đủ dinh dưỡng cây tươi tốt, các bộ phận trên cây phát triển tốt trong khi thiếu chất dinh dưỡng cây còi cọc kém phát triển, dễ bị sâu bệnh.
Lan cần 13 chất dinh dưỡng khoáng, thuộc các nhóm đa, trung và vi lượng: dinh dưỡng đa lượng c 6 gồm Đạm (N), Lân (P) và Kali (K). Dinh dưỡng trung lượng gồm Lưu huỳnh (S), Magie (Mg) và Canxi (Ca). Dinh dưỡng vi lượng gồm Sắt (Fe), Kẽm (Zn), Đồng (Cu), Mangan (Mn), Bo (B), Molypđen (Mo) và Clo (Cl) (Lê Thanh Nhuận và cs, 2009) [11]. Nguyễn Hạc Thúy, 2001 [18] phân bón qua lá gồm: phân hóa học, phân hữu cơ.
Hiện nay trên thị trường Việt Nam có khoảng 40 loại phân bón lá khác nhau, trong đó có rất nhiều loại phân bón lá dùng cho lan, phần lớn là các sản phẩm nhập ngoại, hoặc được sản xuất theo quy trình nước ngoài. Do chủng loại phong phú và đa dạng nên việc tính toán phân bón cho lan phải tùy thuộc vào từng giai đoạn sinh trưởng của cây mà bón cho phù hợp, đem lại hiệu quả kinh tế nhất. Vì vậy việc nghiên cứu phân bón qua lá cho Lan kim tuyến là hết sức cần thiết. Thiếu đạm, cây còi cọc, ít ra lá, ra chồi mới, lá dần chuyển vàng, rễ cây cằn cỗi, cây khó phát triển về chiều cao.
Thừa đạm, thân lá xanh mướt nhưng mềm yếu, dễ đổ ngã và sâu bệnh, đầu rễ chuyển xám đen, cây khó ra hoa. Thiếu lân, cây còi cọc, lá nhỏ, ngắn, chuyển xanh đậm, rễ chuyển màu xám đen. Thừa lân cây thấp, lá dày, thừa lân thường dẫn đến thiếu Kẽm, Sắt và Mangan. Thiếu kali, cây kém phát triển, lá già vàng dần từ hai mép lá và chóp lá sau lan dần vào trong, lá đôi khi bị xoắn lại, cây mềm yếu dễ bị sâu bệnh tấn công.
Thừa kali, thân lá không mỡ màng, lá nhỏ. Thừa kali dễ dẫn đến thiếu magiê và can xi. Thiếu lưu huỳnh, lá non chuyển vàng nhạt, cây còi cọc, kém phát triển, sinh trưởng của chồi bị hạn chế. c 7 Thiếu Magiê, thân lá èo uột, xuất hiện dải màu vàng ở phần thịt của các lá già trong khi hai bên gân chính vẫn còn xanh do diệp lục tố hình thành không đầy đủ, cây dễ bị sâu bệnh.
Thiếu canxi, cây kém phát triển, rễ nhỏ và ngắn, thân mềm, lá nhỏ, cây yếu dễ bị đổ ngã và sâu bệnh tấn công. Thiếu kẽm, xuất hiện các đốm nhỏ rải rác hay các vệt sọc màu vàng nhạt chủ yếu trên các lá đã trưởng thành, các lá non trở nên ngắn, hẹp và mọc sít nhau, các đốt mắt ngọn ngắn lại, cây thấp. Thiếu Đồng, xuất hiện các đốm màu vàng và quăn phiến lá, đầu lá chuyển trắng, cây yếu dễ bị nấm tấn công. Thiếu Sắt, các lá non chuyển úa vàng sau trở nên trắng nhợt, cây còi cọc, ít hoa và dễ bị sâu bệnh tấn công.
Thiếu Mangan, úa vàng giữa các gân của lá non, đặc trưng bởi sự xuất hiện các đốm vàng và hoại tử, các đốm này xuất hiện từ cuống lá non, cây còi cọc, chậm phát triển.