Luận văn: Hợp tác xã nông nghiệp ở Việt Nam - Thực trạng và giải pháp phát triển

Luận văn phân tích toàn diện thực trạng hoạt động của hợp tác xã nông nghiệp tại Việt Nam, đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả kinh tế.

Chuyên ngành

Kinh tế chính trị

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ
121
0
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan về hợp tác xã nông nghiệp ở VN trong tiến trình đổi mới

Hợp tác xã nông nghiệp giữ vai trò trung tâm trong kinh tế nông thôn Việt Nam. Mô hình này hỗ trợ nông dân nhỏ lẻ tăng quy mô sản xuất. Lịch sử hợp tác xã bắt nguồn từ phương Tây cuối thế kỷ mười tám. Phong trào nhanh chóng lan rộng ra toàn cầu. Tại Việt Nam, hợp tác xã hình thành từ thời kỳ kinh tế kế hoạch hóa. Đơn vị kinh tế này từng đóng góp lớn cho giải phóng dân tộc. Bước sang thời kỳ đổi mới năm 1986, mô hình cũ bộc lộ nhiều điểm nghẽn. Cơ chế bao cấp không còn phù hợp với thị trường mở. Luật Hợp tác xã năm 1996 ra đời tạo nền tảng pháp lý mới. Văn bản này đánh dấu bước chuyển mình sang mô hình kinh tế tập thể tự chủ. Nhà nước tiếp tục hoàn thiện khung khổ pháp lý qua Luật Hợp tác xã năm 2003. Hợp tác xã kiểu mới xác định rõ tư cách pháp nhân độc lập. Tổ chức hoạt động dựa trên nguyên tắc tự nguyện và cùng có lợi. Thành viên hợp tác xã vừa là chủ sở hữu vừa là khách hàng sử dụng dịch vụ. Mô hình mới bảo đảm bình đẳng kinh doanh cho hộ nghèo.

1.1. Bản chất và sứ mệnh kinh tế của hợp tác xã nông nghiệp

Hợp tác xã nông nghiệp là tổ chức kinh tế tập thể tự nguyện. Mục tiêu cốt lõi của tổ chức là phục vụ nhu cầu thành viên. Đơn vị không đặt mục tiêu tối đa hóa lợi nhuận lên hàng đầu. Thay vào đó, tổ chức tập trung hỗ trợ kinh tế hộ gia đình phát triển. Hợp tác xã giúp nông dân liên kết sản xuất và tiếp cận dịch vụ đầu vào giá rẻ. Đồng thời, tổ chức tạo kênh tiêu thụ nông sản ổn định trên thị trường. Sứ mệnh của hợp tác xã bao gồm cả khía cạnh kinh tế lẫn xã hội. Tổ chức tạo cơ hội việc làm bình đẳng cho các hộ nghèo ít vốn. Kinh tế hợp tác góp phần xóa đói giảm nghèo và xây dựng nông thôn bền vững.

1.2. Khung pháp lý và quá trình chuyển đổi mô hình hợp tác xã

Quá trình hoàn thiện thể chế pháp lý diễn ra liên tục qua nhiều giai đoạn. Luật Hợp tác xã năm 1996 xác lập bước ngoặt thể chế quan trọng. Văn bản này xóa bỏ cơ chế quản lý chỉ huy tập trung cũ kỹ. Năm 2002, Nghị quyết Trung ương 5 khóa IX nhấn mạnh việc đổi mới kinh tế tập thể. Tiếp đó, Quốc hội ban hành Luật Hợp tác xã năm 2003 nhằm tháo gỡ vướng mắc phát sinh. Luật mới tạo hành lang pháp lý thông thoáng và bình đẳng cho kinh tế tập thể. Các tổ chức hợp tác xã từng bước chuyển đổi phương thức quản trị. Nông dân tham gia tổ chức với tư cách thành viên độc lập có quyền tự quyết cao.

II. Phân tích thực trạng và hạn chế của hợp tác xã nông nghiệp ở VN

Thực trạng hoạt động của hợp tác xã nông nghiệp ở Việt Nam còn nhiều tồn tại nghiêm trọng. Hiệu quả kinh doanh của đa số đơn vị ở mức thấp và thiếu tính ổn định. Tỷ lệ hợp tác xã có lãi giảm dần qua các năm chuyển đổi. Lợi nhuận chủ yếu đến từ chênh lệch thu chi dịch vụ cơ bản như tưới tiêu. Nhiều hợp tác xã chưa tính đúng và đủ chi phí khấu hao tài sản cố định. Do đó, kết quả hạch toán kinh tế chưa phản ánh đúng bản chất thực tế. Nguồn vốn tích lũy cho sở hữu tập thể rất khiêm tốn. Khả năng mở rộng dịch vụ thương mại ra thị trường bên ngoài còn nhiều hạn chế. Thu nhập của đội ngũ cán bộ quản lý hợp tác xã rất thấp. Điều này làm giảm động lực cống hiến và thiếu thu hút nhân lực chất lượng. Phần lớn thành viên chỉ tham gia trên danh nghĩa hình thức. Tình trạng góp vốn tượng trưng diễn ra phổ biến tại nhiều địa phương. Sự gắn kết kinh tế giữa thành viên và hợp tác xã chưa thực sự bền chặt.

2.1. Hạn chế về cơ cấu xã viên và quy mô vốn góp

Cơ cấu thành viên trong các hợp tác xã nông nghiệp tồn tại nhiều bất cập. Số lượng thành viên danh nghĩa thường rất đông do chuyển giao cơ học từ mô hình cũ. Tuy nhiên, tỷ lệ thành viên trực tiếp tham gia cung cấp dịch vụ chỉ chiếm khoảng 4-5%. Hơn 95% số thành viên còn lại chỉ thuần túy sử dụng dịch vụ hoặc đứng tên chiếu lệ. Vốn góp của thành viên ở mức rất thấp, nhiều nơi chỉ mang tính tượng trưng vài chục nghìn đồng. Nhận thức của người dân về bản chất kinh tế hợp tác còn lệch lạc. Người dân lo sợ mất quyền lợi nhưng ngại đóng góp tài chính. Tình trạng này khiến hợp tác xã thiếu hụt nguồn lực đầu tư cơ sở vật chất.

2.2. Khó khăn trong quản lý và chuỗi dịch vụ đầu ra nông sản

Năng lực quản trị của ban chủ nhiệm hợp tác xã còn nhiều điểm yếu. Trình độ chuyên môn của cán bộ quản lý nhìn chung chưa đáp ứng yêu cầu kinh tế thị trường. Khâu dịch vụ của hợp tác xã chủ yếu tập trung vào tưới tiêu và cung ứng giống. Hoạt động chế biến và bao tiêu đầu ra cho nông sản gần như bỏ ngỏ. Nông dân vẫn phải tự tìm kiếm thương lái tiêu thụ với nhiều rủi ro bị ép giá. Hợp tác xã chưa xây dựng được chuỗi liên kết giá trị hoàn chỉnh. Mối quan hệ hợp tác giữa tổ chức kinh tế tập thể và doanh nghiệp thu mua còn lỏng lẻo. Khả năng dự báo thị trường và xúc tiến thương mại nông sản rất hạn chế.

III. Đề xuất giải pháp phát triển hợp tác xã nông nghiệp ở VN

Phát triển hợp tác xã nông nghiệp đòi hỏi hệ thống giải pháp đồng bộ và quyết liệt. Trước hết, công tác hoàn thiện cơ chế chính sách cần được ưu tiên hàng đầu. Nhà nước cần có chính sách hỗ trợ vốn vay ưu đãi và miễn giảm thuế đất nông nghiệp. Đổi mới phương thức quản trị theo hướng chuyên nghiệp hóa là yêu cầu cấp thiết. Cán bộ quản lý phải được đào tạo bài bản về kỹ năng kinh doanh và tiếp thị nông sản. Kinh nghiệm từ các nước tiên tiến như Nhật Bản mang lại nhiều bài học giá trị. Mô hình cố vấn nông nghiệp cần được áp dụng rộng rãi tại các địa phương. Đội ngũ cố vấn sẽ hướng dẫn kỹ thuật canh tác và xây dựng kế hoạch sản xuất chuẩn hóa. Hợp tác xã cần chủ động mở rộng liên kết tiêu thụ sản phẩm trên quy mô lớn. Việc ký kết hợp đồng cung ứng trực tiếp cho siêu thị, bếp ăn và doanh nghiệp giúp ổn định đầu ra. Tỷ lệ trích lập hoa hồng dịch vụ nên duy trì ở mức hợp lý nhằm tối đa hóa lợi ích cho thành viên. Nâng cao năng lực cạnh tranh nông sản là chìa khóa bảo đảm phát triển lâu dài.

3.1. Ứng dụng kinh nghiệm quốc tế và hệ thống cố vấn kỹ thuật

Kinh nghiệm từ các mô hình nông nghiệp Nhật Bản đem đến giải pháp thực tiễn. Mỗi hợp tác xã cần xây dựng mạng lưới cố vấn chuyên trách. Cố vấn nông nghiệp chịu trách nhiệm hướng dẫn xã viên lựa chọn cơ cấu giống cây trồng phù hợp. Họ hỗ trợ lập kế hoạch sản xuất tập trung theo tiêu chuẩn chất lượng thống nhất. Bên cạnh kỹ thuật, hệ thống cố vấn còn tư vấn về an toàn vệ sinh và bảo vệ môi trường. Các liên hiệp cấp tỉnh và trung ương cần định kỳ đào tạo nâng cao trình độ cho đội ngũ này. Nhờ có sự định hướng kỹ thuật chuẩn xác, chất lượng nông sản của thành viên đồng đều và đáp ứng tiêu chuẩn thị trường xuất khẩu.

3.2. Mở rộng chuỗi cung ứng đầu vào và mạng lưới tiêu thụ

Tổ chức dịch vụ thương mại hai chiều là giải pháp sống còn của hợp tác xã. Hợp tác xã cần đứng ra mua chung vật tư nông nghiệp đầu vào từ nhà sản xuất gốc. Cách làm này giúp giảm giá thành phân bón, thuốc bảo vệ thực vật và thức ăn chăn nuôi. Ở đầu ra, hợp tác xã cần chủ động mở rộng mạng lưới phân phối nông sản quy mô lớn. Việc liên kết cung cấp cho các xí nghiệp, bệnh viện và siêu thị giúp loại bỏ khâu trung gian. Hợp tác xã áp dụng mức hoa hồng dịch vụ thấp nhằm bảo đảm lợi nhuận cao nhất cho người nông dân. Mô hình liên kết chuỗi giá trị khép kín giúp nâng cao vị thế đàm phán của toàn bộ thành viên.

IV. Kết luận và định hướng ứng dụng cho hợp tác xã nông nghiệp ở VN

Nghiên cứu về hợp tác xã nông nghiệp khẳng định vai trò chiến lược của kinh tế tập thể trong phát triển nông nghiệp Việt Nam. Việc chuyển đổi mô hình cũ sang hình thức tự chủ là xu thế tất yếu. Dù gặp nhiều rào cản về vốn và tổ chức nhân sự, mô hình này vẫn nắm giữ tiềm năng to lớn. Sự thành công của hợp tác xã dựa trên ba yếu tố chính: nhận thức thành viên, năng lực quản trị và liên kết chuỗi giá trị. Kết quả nghiên cứu cung cấp cơ sở khoa học để các nhà hoạch định chính sách hoàn thiện khung khổ pháp trị. Đồng thời, các địa phương có thể áp dụng bài học kinh nghiệm để xây dựng đề án cơ cấu lại ngành nông nghiệp. Việc chuẩn hóa quy trình sản xuất và liên kết tiêu thụ sẽ bảo vệ sinh kế cho hàng triệu hộ nông dân. Mô hình hợp tác xã kiểu mới chính là hạt nhân thúc đẩy hiện đại hóa nông thôn.

4.1. Đóng góp lý luận và giá trị thực tiễn của đề tài

Luận văn hệ thống hóa cơ sở lý luận về kinh tế tập thể trong bối cảnh kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Đề tài làm rõ những mâu thuẫn nội tại trong quá trình chuyển đổi mô hình hợp tác xã. Về mặt thực tiễn, công trình chỉ ra nguyên nhân gốc rễ dẫn đến tình trạng hoạt động kém hiệu quả. Các số liệu phân tích minh chứng cho sự cần thiết phải thay đổi tư duy quản lý. Đề tài cung cấp tài liệu tham khảo giá trị cho các nhà nghiên cứu, cán bộ khuyến nông và nhà quản lý địa phương trong xây dựng chính sách.

4.2. Khuyến nghị nhân rộng mô hình nông nghiệp hiện đại

Các địa phương cần tập trung xây dựng mô hình hợp tác xã điển hình gắn với sản phẩm thế mạnh vùng miền. Hợp tác xã cần chuyển dịch từ cung cấp dịch vụ công ích đơn thuần sang tổ chức chuỗi giá trị nông nghiệp hoàn chỉnh. Việc thu hút nguồn nhân lực trẻ có trình độ quản lý và am hiểu chuyển đổi số là chìa khóa then chốt. Bên cạnh đó, các cấp chính quyền cần tăng cường vốn hỗ trợ và minh bạch hóa cơ chế cấp đất sản xuất. Phát triển kinh tế tập thể vững mạnh sẽ tạo nền móng vững chắc cho công nghiệp hóa và hiện đại hóa nông thôn.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI. Nếu bạn thấy nội dung không chính xác hoặc có vấn đề, vui lòng Báo lỗi nội dung.

15/06/2026
Luan van hop tac xa nong nghiep o vn thuc trang va giai phap

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ KINH NGHIỆM QUỐC TẾ VỀ HỢP TÁC XÃ NÔNG NGHIỆP 5 1.1 Cơ sở lý luận về HTXNN 1.1 Khái niệm HTX và phân loại HTX * Khái niệm HTX ở một số nước trên thế giới: HTX là một loại hình kinh tế hợp tác, một tổ chức kinh tế có đặc thù riêng. Ở nhiều nước trên thế giới, HTX đã hình thành và phát triển hơn 100 năm. Liên minh HTX quốc tế (International Cooperative Alliance- ICA) được thành lập vào năm 1895 nhằm thực hiện sứ mệnh liên kết, đại diện và hỗ trợ phong trào HTX trên toàn thế giới, đã định nghĩa về HTX như sau: “HTX là một tổ chức tự trị của những người tự nguyện liên hiệp lại để đáp ứng các nhu cầu và nguyện vọng chung của họ về kinh tế, xã hội và văn hoá thông qua một xí nghiệp cùng sở hữu và quản lý dân chủ.” Định nghĩa này được ICA hoàn thiện vào năm 1995 thông qua tuyên bố như sau: “ HTX dựa trên ý nghĩa tự cứu giúp mình, tự chịu trách nhiệm, bình đẳng, công bằng và đoàn kết. Theo truyền thống của những người sáng lập ra HTX, các xã viên HTX tin tưởng vào ý nghĩa đạo đức về tính trung thực, cởi mở, trách nhiệm xã hội và quan tâm chăm sóc người khác”.

Tổ chức lao động quốc tế (ILO) định nghĩa: “HTX là sự liên kết của những người đang gặp phải những khó khăn kinh tế giống nhau, tự nguyện liên kết nhau lại trên cơ sở bình đẳng về quyền lợi và nghĩa vụ, sử dụng tài sản mà họ đã chuyển giao vào HTX phù hợp với các nhu cầu chung vfa giải quyết những khó khăn đó chủ yếu bằng sự tự chủ, tự chịu trách nhiệm và bằng cách sử dụng các chức năng trong tổ chức hợp tác phục vụ cho lợi ích vật chất và tinh thần chung”. Luật HTX của Cộng hoà Liên bang Đức định nghĩa: “HTX đăng ký là những viên tập thể với đa số thành viên không hạn chế nhằm khuyến khích việc sản xuất, kinh doanh chung”. Luật HTX của INĐÔNÊXIA định nghĩa: “HTX là tổ chức kinh tế của nhân dân mang tính xã hội, gồm những người hoặc những tổ chức ở địa phương và thành viên lập nên một hệ thống kinh tế như là nỗ lực chung đặt trên cơ sở nguyên tắc của tình anh em”. 6 Luật HTX của PHILIPPIN định nghĩa: “HTX là sự hiểu biết của những người có cam kết chung và tập hợp nhau lại một cách tự nguyện để đạt được mục đích xã hội hoặc kinh tế chung, có sự đóng góp công bằng vào vốn và chấp nhận phần đóng góp hợp lý vào các công việc và phần lợi ích của việc kinh doanh theo nguyên tắc HTX đã được chấp nhận chung”.

Như vậy, từ các định nghĩa về HTX được nêu ở trên cho thấy, các định nghĩa về HTX ở các nước tuy có khác nhau về chi tiết nhưng tất cả đều thể hiện rõ những tiêu chí chung của HTX, đó là: - HTX là sự liên kết của những người tham gia, cùng góp vốn. Trong HTX nhấn mạnh yếu tố con người chứ không phải số vốn mà họ góp. - HTX là một tổ chức kinh tế đặc thù chứ không phải là một công ty cổ phần hoặc một tổ chức từ thiện. Đặc trưng của HTX là thông qua hoạt động kinh doanh để liên kết các thành viên với nhau.

Những thành viên hay những người góp vốn vào HTX có lợi ích chung và nhu cầu chung mà họ muốn được thoả mãn. - HTX là doanh nghiệp được quản lý theo nguyên tắc dân chủ. Mỗi xã viên chỉ có một và chỉ một phiếu biểu quyết không phân biệt vốn góp nhiều hay ít. - Khẩu hiệu của HTX là phục vụ cho xã viên hơn là kiếm lời.

Tuy lợi nhuận luôn gắn với HTX, nhưng mục đích chính của HTX vẫn là phục vụ các xã viên và phục vụ tối đa là nhiệm vụ hàng đầu của HTX. - Phương châm chủ đạo của HTX là giúp đỡ lẫn nhau và tự giúp mình. - Một trong những nguyên tắc cơ bản của HTX là tự nguyện, bình đẳng và cùng có lợi. Lợi nhuận được phân phối không chỉ căn cứ vào vốn góp mà còn căn cứ vào mức độ sử dụng dịch vụ của các xã viên.

- HTX còn có một nhiệm vụ quan trọng là phục vụ cộng đồng. * Khái niệm HTX ở Việt Nam: Trong Điều 1 của Luật Hợp tác xã của Việt Nam năm 1996 định nghĩa: “HTX là tổ chức kinh tế tự chủ do những người lao động có nhu cầu, lợi ích chung, tự nguyện cùng góp vốn, góp sức lập ra theo quy định của pháp luật để phát huy sức mạnh của tập thể và của từng xã viên nhằm giúp nhau thực hiện có hiệu quả 7 hơn các hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ và cải thiện đời sống, góp phần phát triển kinh tế xã hội của đất nước”. Theo định nghĩa này, HTX là một tổ chức kinh tế có tổ chức chặt chẽ, có tư cách pháp nhân, được đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật. Vì vậy, mục tiêu của HTX trước hết phải là kinh doanh có hiệu quả, trên cơ sở đó để thực hiện mục tiêu tương trợ, giúp đỡ lẫn nhau giữa các xã viên và mục tiêu xã hội.

HTX cũng là phương tiện để kết hợp sức mạnh của từng xã viên với sức mạnh của cả tập thể, thông qua kết quả kinh doanh của HTX mà cải thiện đời sống của xã viên, góp phần xoá đói giảm nghèo ở nông thôn và phát triển kinh tế nông nghiệp nông thôn. Để phù hợp với Nghị quyết Hội nghị lần thứ 5 Ban chấp hành Trung ương Đảng khoá IX và thực tiễn hoạt động của các HTX, năm 2003, Quốc hội đã ban hành Luật HTX năm 2003 thay thế cho Luật HTX năm 1996. Luật HTX năm 2003 đã mở rộng hơn định nghĩa về HTX, đó là: “ HTX là tổ chức kinh tế tập thể do các cá nhân, hộ gia đình, pháp nhân (sau đây gọi chung là xã viên) có nhu cầu, lợi ích chung, tự nguyện góp vốn, góp sức lập ra theo quy định của Luật này để phát huy sức mạnh tập thể của từng xã viên tham gia hợp tác xã, cùng giúp nhau thực hiện có hiệu quả các hoạt động sản xuất kinh doanh và nâng cao đời sống vật chất, tinh thần, góp phần phát triển kinh tế-xã hội của đất nước. HTX hoạt động như một loại hình doanh nghiệp, có tư cách pháp nhân, tự chủ, tự chịu trách nhiệm về các nghĩa vụ tài chính trong phạm vi vốn điều lệ, vốn tích luỹ và các nguồn vốn khác của HTX theo quy định của pháp luật”.

Theo khái niệm này, ngoài những tính chất và đặc thù do Luật HTX (năm 1996) qui định, HTX kiểu mới do các thành viên bao gồm cả thể nhân và pháp nhân, cả người có ít vốn và người có nhiều vốn, có thể góp sức hoặc góp vốn xây dựng nên, trên cơ sở tôn trọng các nguyên tắc: tự nguyện, bình đẳng cùng có lợi và quản lý dân chủ. HTX được thừa nhận hoạt động theo điều chỉnh của Luật Doanh nghiệp trong cơ chế thị trường như các thành phần kinh tế khác; được khẳng định quyền “tự chủ” trong sản xuất kinh doanh; được huy động “các nguồn vốn khác theo qui định của pháp luật” như các loại hình doanh nghiệp khác. Trước đây, luật không qui định điều này. 8 Theo định nghĩa này, HTX được vay vốn bình đẳng như đối với doanh nghiệp của các thành phần kinh tế khác, các HTX được thế chấp bằng tài sản hình thành từ vốn vay để vay vốn ngân hàng, được vay vốn bằng tín chấp và vay theo dự án sản xuất, kinh doanh có hiệu quả, các HTX được tham gia các chương trình dự án quốc gia của Chính phủ và các tổ chức phi chính phủ.

Ngân hàng Nhà nước phải có hướng dẫn chỉ đạo chặt chẽ đối với các hoạt động tín dụng trong nội bộ HTX; khuyến kích phát triển quỹ tín dụng nhân dân một cách vững chắc. Đây là tư tưởng đối mới của Đảng và Nhà nước ta, tạo điều kiện và giúp đỡ kinh tế hợp tác và HTX phát triển. * Phân loại HTX: Từ các tiêu thức phân loại khác nhau đã hình thành nhiều loại hình HTX với những đặc điểm và nội dung hoạt động, cơ cấu tổ chức, vai trò tác dụng và tên gọi khác nhau tương ứng với những điều kiện cụ thể của từng loại hình HTX. Ở nhiều nước, người ta thường phân loại HTX theo mục đích, chức năng hoạt động, theo đặc điểm về qui mô, tính chất và hình thức pháp lý.

Có một số nước việc xác định các loại hình HTX được nêu ngay trong Luật HTX như: Luật HTX của Philippin, Inđônêxia, Thái Lan, Cộng hòa Liên bang Đức.… Thông thường, có các loại hình HTX: HTX tín dụng; ngân hàng; HTX sản xuất; HTX mua- bán; HTX đa chức năng; HTX dịch vụ; HTX sản xuất tập trung; HTX cấp I; cấp II; cấp III; HTX trách nhiệm hữu hạn; HTX trách nhiệm vô hạn v.v… Trong điều kiện hiện nay ở Việt Nam, để phân loại HTX, thường căn cứ vào chức năng hoạt động, tính chất trình độ xã hội hóa, qui mô và đặc điểm hình thành HTX. - HTX dịch vụ: bao gồm 3 loại: HTX dịch vụ từng khâu, HTX dịch vụ tổng hợp đa chức năng và HTX dịch vụ “đơn mục đích” hay HTX dịch vụ “chuyên ngành”. + HTX dịch vụ từng khâu còn gọi là HTX chuyên khâu có nội dung hoạt động tập trung ở từng lĩnh vực trong quá trình tái sản xuất hoặc từng khâu công việc trong quá trình sản xuất và phục vụ cho sản xuất. 9 + HTX dịch vụ tổng hợp- đa chức năng có nội dung hoạt động đa dạng, gồm nhiều khâu dịch vụ cho sản xuất, cung ứng vật tư đầu vào, tiêu thụ sản phẩm (đầu ra), dịch vụ giống, phòng trừ sâu bệnh, tưới tiêu,v.v… + Hợp tác xã dịch vụ “đơn mục đích” hay hợp tác xã dịch vụ “chuyên ngành”.

Hợp tác xã loại này được hình thành từ nhu cầu của các hộ thành viên cùng sản xuất kinh doanh một loại hàng hóa tập trung hoặc cùng làm một nghề giống nhau (HTX trồng rừng, HTX trồng mía, HTX trồng chè. Hợp tác xã thực hiện các khâu dịch vụ của kinh tế hộ như chọn giống, cung ứng vật tư, trao đổi hướng dẫn kỹ thuật, dịch vụ vận chuyển và tiêu thụ sản phẩm, đại diện các hộ thành viên quan hệ với cơ sở chế biến, ngân hàng.v… - Hợp tác xã sản xuất kết hợp dịch vụ. Hợp tác xã loại này có đặc điểm: nội dung hoạt động sản xuất là chủ yếu, dịch vụ là kết hợp. - Hợp tác xã sản xuất-kinh doanh ở mức độ hợp tác toàn diện.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ