Luận văn nguồn vốn và giải pháp xóa đói giảm nghèo ở Phú Thọ

Luận văn thạc sĩ kinh tế chính trị nghiên cứu thực trạng và giải pháp nâng cao hiệu quả nguồn vốn xóa đói giảm nghèo tại tỉnh Phú Thọ hiện nay.

Chuyên ngành

Kinh tế chính trị

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ
114
0
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan nguồn vốn xóa đói giảm nghèo ở tỉnh Phú Thọ hiện nay

Xóa đói giảm nghèo là chủ trương lớn mang tính chiến lược của Đảng và Nhà nước Việt Nam. Tại địa bàn tỉnh Phú Thọ, công tác giảm nghèo luôn gắn liền với quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế và phát triển nông thôn. Nguồn vốn xóa đói giảm nghèo đóng vai trò tiền đề vật chất quyết định. Nguồn lực này thúc đẩy quá trình mở rộng tư liệu sản xuất cho các hộ dân có hoàn cảnh khó khăn. Về bản chất kinh tế chính trị, nguồn vốn giảm nghèo thể hiện sự phân phối lại thu nhập quốc dân nhằm bảo đảm công bằng xã hội. Dòng vốn vận hành thông qua hệ thống ngân sách nhà nước, các kênh tín dụng chính sách của Ngân hàng Chính sách xã hội, cùng sự chung tay đóng góp của các tổ chức quốc tế và cộng đồng địa phương. Mỗi đồng vốn được giải ngân đều hướng tới mục tiêu gia tăng năng lực tự chủ của người nghèo. Tại Phú Thọ, cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng tích cực đã tạo điều kiện thuận lợi để dòng vốn phát huy tác dụng. Việc cung ứng vốn kịp thời giúp các hộ đồng bào dân tộc thiểu số và người dân vùng sâu, vùng xa có điều kiện mua sắm cây con giống, nông cụ và phân bón. Đây là nền tảng cốt lõi để nâng cao đời sống dân sinh và giảm thiểu bất bình đẳng kinh tế.

1.1. Khái niệm và bản chất nguồn vốn xóa đói giảm nghèo

Nguồn vốn xóa đói giảm nghèo là toàn bộ tiềm lực tài chính được huy động và sử dụng để phục vụ các chương trình giảm nghèo. Theo lý luận kinh tế chính trị, nguồn vốn này thể hiện quan hệ kinh tế giữa Nhà nước, các tổ chức tín dụng và người nghèo trong quá trình phân phối giá trị thặng dư xã hội. Bản chất của nguồn vốn không đơn thuần là hoạt động cứu trợ tài chính ngắn hạn. Nguồn vốn mang tính chất đòn bẩy sản xuất, kích thích tính chủ động và sáng tạo của người lao động. Dòng vốn ưu đãi giúp hộ nghèo từng bước tích lũy tư bản nhỏ, đổi mới tư liệu lao động và tham gia vào chuỗi giá trị thị trường nông thôn.

1.2. Vai trò kinh tế chính trị của nguồn vốn giảm nghèo

Nguồn vốn giảm nghèo giữ vai trò trung tâm trong việc giải quyết hài hòa giữa tăng trưởng kinh tế và công bằng xã hội tại Phú Thọ. Vốn tín dụng chính sách giúp khơi thông các điểm nghẽn về tài chính cho khu vực nông nghiệp nông thôn. Sự hiện diện của nguồn vốn hạn chế triệt để tình trạng tín dụng đen tại các xã đặc biệt khó khăn. Bên cạnh đó, nguồn vốn còn tạo nền tảng chuyển dịch cơ cấu cây trồng, vật nuôi theo hướng hàng hóa. Việc cung ứng vốn liên tục giúp tăng tỷ lệ tích lũy tài sản, cải thiện chỉ số phát triển con người và củng cố niềm tin của nhân dân vào đường lối phát triển bền vững của đất nước.

II. Phân tích thực trạng nguồn vốn xóa đói giảm nghèo ở tỉnh Phú Thọ

Thực tiễn quản lý và giải ngân nguồn vốn xóa đói giảm nghèo tại Phú Thọ ghi nhận nhiều chuyển biến tích cực. Ngân hàng Chính sách xã hội tỉnh đóng vai trò huyết mạch trong việc dẫn vốn đến đúng đối tượng thụ hưởng. Hệ thống Điểm giao dịch xã và mạng lưới Tổ Tiết kiệm và vay vốn hoạt động phủ rộng đến từng thôn xóm. Hàng chục ngàn lượt hộ nghèo, hộ cận nghèo đã được tiếp cận nguồn vốn ưu đãi với lãi suất thấp và thời hạn vay linh hoạt. Doanh số cho vay và tổng dư nợ tín dụng chính sách tăng trưởng đều qua các năm. Nguồn vốn được tập trung giải ngân cho phát triển chăn nuôi đại gia súc, trồng rừng kinh tế và xuất khẩu lao động. Chất lượng tín dụng được duy trì tốt, tỷ lệ nợ xấu ở mức thấp so với bình quân chung toàn quốc. Nhờ nguồn vốn kịp thời, tỷ lệ hộ nghèo tại các huyện khó khăn như Tân Sơn, Thanh Sơn, Yên Lập giảm rõ rệt. Tuy nhiên, công tác sử dụng nguồn vốn vẫn bộc lộ một số tồn tại đáng lưu ý. Mức cho vay bình quân trên mỗi hộ còn thấp so với chi phí đầu tư sản xuất thực tế. Một bộ phận hộ nghèo chưa nắm vững kỹ thuật canh tác nên hiệu quả đồng vốn chưa cao. Nguy cơ tái nghèo vẫn tiềm ẩn khi thiên tai và dịch bệnh phát sinh.

2.1. Kết quả giải ngân và cơ cấu nguồn vốn tín dụng chính sách

Giai đoạn qua, mạng lưới tín dụng chính sách tại Phú Thọ đã mở rộng quy mô giải ngân đến 100% xã, phường. Doanh số cho vay hộ nghèo liên tục tăng trưởng, tập trung phần lớn vào các chương trình vay sản xuất kinh doanh và nước sạch vệ sinh môi trường. Cơ chế ủy thác qua các hội đoàn thể như Hội Nông dân, Hội Phụ nữ và Đoàn Thanh niên phát huy tính giám sát cao độ. Cơ cấu nguồn vốn kết hợp hiệu quả giữa nguồn trung ương phân bổ và ngân sách địa phương ủy thác. Tỷ lệ thu hồi nợ đến hạn đạt kết quả khả quan, góp phần bảo toàn và phát triển nguồn vốn cho vay quay vòng liên tục.

2.2. Những hạn chế và áp lực việc làm trong sử dụng vốn

Mặc dù đạt thành tựu lớn, việc phân bổ nguồn vốn xóa đói giảm nghèo ở tỉnh Phú Thọ vẫn đối diện nhiều thách thức. Tỷ lệ lao động qua đào tạo nghề còn hạn chế, khiến việc chuyển hóa vốn vay thành giá trị gia tăng gặp nhiều trở ngại. Tình trạng thiếu việc làm sau đào tạo vẫn diễn ra, với lượng lao động thất nghiệp chưa được hấp thu hết vào khu công nghiệp. Nhiều hộ vay vốn mang tính chất tiêu dùng ngắn hạn thay vì mở rộng tư liệu sản xuất. Công tác thẩm định và hướng dẫn phương án sản xuất ở một số địa phương vùng cao chưa sâu sát, dẫn đến nguy cơ suy giảm hiệu quả đồng vốn.

III. Giải pháp huy động nguồn vốn xóa đói giảm nghèo ở tỉnh Phú Thọ

Nhằm nâng cao hiệu quả công tác giảm nghèo, tỉnh Phú Thọ cần triển khai đồng bộ các nhóm giải pháp kinh tế chính trị. Trọng tâm hàng đầu là đa dạng hóa kênh huy động vốn, giảm sự phụ thuộc đơn thuần vào nguồn trợ cấp ngân sách trung ương. Địa phương cần chủ động trích ngân sách tỉnh và huyện hàng năm để ủy thác bổ sung cho Ngân hàng Chính sách xã hội. Đồng thời, các cơ quan ban ngành cần mở rộng huy động nguồn lực từ các doanh nghiệp, tổ chức từ thiện và nguồn tiền gửi tiết kiệm của dân cư. Bên cạnh tạo lập vốn, khâu quản lý và sử dụng nguồn vốn đòi hỏi sự đổi mới toàn diện. Các địa phương cần kết hợp chặt chẽ việc cung cấp tín dụng ưu đãi với các chương trình chuyển giao khoa học kỹ thuật và khuyến nông, khuyến lâm. Cần nhân rộng các mô hình liên kết chuỗi giá trị nông sản giữa hợp tác xã, doanh nghiệp và hộ nông dân nghèo. Nâng cao năng lực cho đội ngũ cán bộ cơ sở và các Tổ Tiết kiệm và vay vốn là mắt xích then chốt. Cán bộ tín dụng phải thường xuyên bám sát thực địa, hướng dẫn bà con lập kế hoạch làm ăn khả thi và giám sát việc dùng vốn đúng cam kết. Việc gắn kết nguồn vốn với quy hoạch kinh tế vùng sẽ mang lại giá trị bền vững lâu dài.

3.1. Đa dạng hóa các kênh huy động nguồn lực tài chính

Tỉnh Phú Thọ cần tích cực mở rộng cơ chế huy động vốn thông qua hợp tác công tư và xã hội hóa tín dụng. Chính quyền địa phương cần ban hành các cơ chế khuyến khích ngân hàng thương mại dành tỷ trọng vốn ưu đãi cho khu vực nông thôn. Việc phát động các phong trào gửi tiết kiệm vì người nghèo tại cộng đồng dân cư cần được duy trì thường xuyên. Tăng cường kêu gọi tài trợ từ các dự án phi chính phủ quốc tế để đầu tư cơ sở hạ tầng vùng khó khăn. Sự đa dạng hóa nguồn lực giúp hình thành quỹ vốn ổn định, đáp ứng kịp thời nhu cầu mở rộng quy mô sản xuất của các hộ nghèo trên địa bàn.

3.2. Nâng cao hiệu quả sử dụng vốn gắn với đào tạo nghề

Để nguồn vốn phát huy công năng tối đa, tỉnh cần tích hợp chính sách cấp vốn với đề án đào tạo nghề cho lao động nông thôn. Người vay vốn bắt buộc phải được bồi dưỡng kiến thức quản lý chi tiêu và kỹ năng canh tác hiện đại. Địa phương cần xây dựng các trung tâm tư vấn khởi nghiệp và hỗ trợ tiêu thụ nông sản trực tiếp cho đồng bào nghèo. Việc lồng ghép các lớp dạy nghề với mô hình trồng chè, trồng cây ăn quả và chăn nuôi đại gia súc sẽ tối ưu hóa dòng tiền vay. Khi người dân làm chủ kỹ thuật, nguồn vốn sẽ tạo ra giá trị thặng dư bền vững và ngăn ngừa nguy cơ tái nghèo.

IV. Kết luận và ứng dụng nguồn vốn xóa đói giảm nghèo ở tỉnh Phú Thọ

Nghiên cứu kinh tế chính trị về nguồn vốn xóa đói giảm nghèo ở tỉnh Phú Thọ mang lại nhiều giá trị thực tiễn sâu sắc. Dòng vốn ưu đãi không chỉ giải quyết bài toán thiếu hụt tư liệu sản xuất trước mắt mà còn tạo động lực tái sản xuất mở rộng cho nền kinh tế địa phương. Quá trình luân chuyển vốn tại Phú Thọ đã khẳng định tính đúng đắn của đường lối phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Các chính sách an sinh xã hội được cụ thể hóa thành phương tiện sinh kế trực tiếp cho nhân dân. Kết quả đạt được từ việc vận hành nguồn vốn giảm nghèo tại Phú Thọ cung cấp bài học kinh nghiệm quý báu cho các tỉnh trung du và miền núi phía Bắc. Việc kết hợp chặt chẽ giữa tín dụng chính sách, chuyển đổi cơ cấu kinh tế và phát triển nguồn nhân lực là chìa khóa then chốt để đẩy lùi nghèo đói triệt để. Trong giai đoạn phát triển mới, Phú Thọ cần tiếp tục duy trì và nâng cao chất lượng nguồn vốn giảm nghèo theo hướng đa chiều và thích ứng khí hậu. Nguồn lực tài chính phải đóng vai trò xúc tác thúc đẩy hiện đại hóa nông nghiệp và xây dựng nông thôn mới kiểu mẫu.

4.1. Bài học kinh nghiệm từ mô hình quản lý vốn tại Phú Thọ

Thành công của Phú Thọ trong quản lý nguồn vốn giảm nghèo bắt nguồn từ việc thiết lập mạng lưới ủy thác chặt chẽ giữa ngân hàng và các hội đoàn thể. Mạng lưới này giúp công khai, minh bạch quá trình xét duyệt đối tượng vay vốn tại cơ sở. Sự phối hợp đồng bộ giữa chính quyền địa phương và các tổ chức xã hội tạo nên cơ chế giám sát chéo hiệu quả. Bài học then chốt là luôn coi người nghèo là chủ thể của quá trình thoát nghèo thay vì đối tượng thụ động. Khi người dân được tiếp sức bằng nguồn vốn minh bạch và tin cậy, ý chí vươn lên tự lực tự cường sẽ được khơi dậy mạnh mẽ.

4.2. Định hướng ứng dụng chính sách giảm nghèo bền vững

Thời gian tới, các cơ quan ban ngành tại Phú Thọ cần ứng dụng chuyển đổi số vào hoạt động quản lý và giải ngân vốn chính sách. Ứng dụng công nghệ giúp rút ngắn thời gian xử lý hồ sơ và nâng cao tính minh bạch dòng tiền. Địa phương cần tập trung ưu tiên phân bổ vốn cho các dự án kinh tế tập thể, hợp tác xã kiểu mới và mô hình OCOP. Bên cạnh đó, chính sách tín dụng cần mở rộng sang các đối tượng hộ mới thoát nghèo để chống tái nghèo. Định hướng này bảo đảm nguồn vốn luôn vận hành đúng quỹ đạo, hỗ trợ đắc lực cho mục tiêu phát triển kinh tế bền vững của tỉnh.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI. Nếu bạn thấy nội dung không chính xác hoặc có vấn đề, vui lòng Báo lỗi nội dung.

15/06/2026
Lv ths ktct nguồn vốn xóa đói giảm nghèo ở tỉnh phú thọ hiện nay

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN, THỰC TIỄN VỀ ĐÓI, NGHÈO, XÓA ĐÓI GIẢM NGHÈO VÀ NGUỒN VỐN XÓA ĐÓI GIẢM NGHÈO 1. Cơ sở lý luận về đói, nghèo và xóa đói, giảm nghèo 1. Những vấn đề cơ bản về đói, nghèo 1. Quan niệm về đói, nghèo Đói nghèo là một hiện tượng kinh tế - xã hội mang tính chất toàn cầu.

Nó không chỉ tồn tại ở các nước có nền kinh tế kém phát triển mà còn tồn tại ngay tại các nước có nền kinh tế phát triển. Tuy nhiên, tuỳ thuộc vào điều kiện tự nhiên, kinh tế, chính trị, xã hội mỗi nước mà tính chất, mức độ đói nghèo của từng nước có khác nhau. Mỗi nước sử dụng một khái niệm để xác định mức độ nghèo khổ và đưa ra các chỉ số nghèo khổ để xác định giới hạn nghèo khổ. Nhìn chung, giới hạn nghèo đói của các nước được xác định bằng mức thu nhập tối thiểu để người dân có thể tồn tại được, đó là mức thu nhập mà một hộ gia đình có thể mua sắm những vật dụng cơ bản phục vụ cho nhu cầu ăn, mặc, ở và các nhu cầu thiết yếu khác theo mức giá hiện hành.

Quan niệm của các tổ chức quốc tế Các tổ chức quốc tế cũng đưa ra quan niệm nghèo đói theo cách tiếp cận của mình. Theo quan niệm của Liên hợp quốc, nghèo là sự thiếu hụt so với mức sống tối thiểu của một quốc gia và nghèo có 2 dạng: Nghèo tuyệt đối (absolute poverty) và Nghèo tương đối (relative poverty). Nghèo tuyệt đối là tình trạng một bộ phận dân cư không có khả năng thoả mãn nhu cầu tối thiểu để duy trì cuộc sống về ăn (thiếu ăn nhưng không đứt bữa), mặc, ở, vệ sinh, y tế, giáo dục. Nghèo tương đối là tình trạng của một bộ phân dân cư có mức sống dưới mức trung bình của cộng đồng địa phương.

12 Hội nghị Thượng đỉnh Thế giới về phát triển xã hội tổ chức tại Copenhagen (Đan Mạch) tháng 3 năm 1995 cho rằng “Người nghèo là tất cả những ai mà thu nhập thấp hơn 1 đô la (USD) mỗi ngày cho mỗi người, số tiền được coi như mua đủ những sản phẩm thiết yếu để tồn tại”. Ngân hàng Thế giới thì quan niệm “Nghèo là một khái niệm đa chiều vượt khỏi phạm vi túng thiếu về vật chất. Nghèo không chỉ gồm các chỉ số dựa trên thu nhập mà còn bao gồm các vấn đề liên quan đến năng lực như dinh dưỡng, sức khoẻ, giáo dục, khả năng dễ bị tổn thương, không có quyền phát ngôn và không có quyền lực”. Trong khi đó, các chuyên gia hàng đầu của Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO) lại quan niệm “Nghèo đói là sự thiếu cơ hội lựa chọn tham gia vào quá trình phát triển cộng đồng”.

Tại Hội nghị chống đói nghèo khu vực Châu Á Thái Bình Dương tổ chức tại Băng Cốc - Thái Lan (tháng 9 năm 1993), ESCAP đã được ra khái niệm về nghèo một cách hệ thống hơn “Nghèo là tình trạng một bộ phận dân cư không được hưởng và thoả mãn các nhu cầu cơ bản của con người, mà những nhu cầu này đã được xã hội thừa nhận tuỳ thuộc vào trình độ phát triển kinh tế - xã hội và phong tục tập quán của địa phương”. Quan niệm đói nghèo của Việt Nam Căn cứ vào tình hình kinh tế - xã hội và thu nhập của người dân, Việt Nam cũng đưa ra khái niệm về đói nghèo và khái niệm này ngày càng được hoàn thiện và gần với quan niệm đói nghèo của thế giới. Ban đầu chia đói nghèo thành đói và nghèo; theo đó, có khái niệm người đói và nghèo, hộ đói và nghèo, xã nghèo, tỉnh nghèo và vùng nghèo. - Đói là tình trạng một bộ phận dân cư nghèo có mức sống dưới mức tối thiểu và thu nhập không đủ đảm bảo nhu cầu về vật chất để duy trì cuộc sống.

Hay nói cách khác, đói là một khái niệm biểu đạt tình trạng con người ăn 13 không đủ no, không đủ năng lượng tối thiểu cần thiết để duy trì sự sống hàng ngày và không đủ sức để lao động, để tái tạo sức sản xuất. Đói lại được chia thành 2 dạng: đói kinh niên và đói cấp tính (đói gay gắt). Trong đó, đói kinh niên là bộ phận dân cư thiếu ăn thường xuyên, năm liền cho đến thời điểm đang xét. Đói cấp tính là bộ phận dân cư rơi vào tình trạng đói đột xuất do nhiều nguyên nhân như gặp tai nạn, thiên tai, rủi ro khác tại thời điểm đang xét.

Hộ đói là hộ có mức sống dưới mức tối thiểu không đủ đảm bảo nhu cầu về vật chất để duy trì cuộc sống. Hay nói cách khác, hộ đói là hộ hàng năm thiếu ăn, đứt bữa, thường xuyên phải vay nợ và thiếu khả năng trả nợ. - Nghèo là khái niệm chỉ tình trạng mà thu nhập thực tế của người dân chỉ dành hầu như toàn bộ cho ăn, thậm chí không đủ chi cho ăn, phần tích luỹ hầu như không có. Các nhu cầu tối thiểu ngoài ăn ra thì các mặt khác như ở, mặc, y tế, giáo dục, đi lại, giao tiếp chỉ đáp ứng một phần ít ỏi không đáng kể.

Hộ nghèo là hộ đói ăn nhưng không đứt bữa, mặc không đủ lành, không đủ ấm, không có khả năng phát triển sản xuất. Xã nghèo là xã có tỷ lệ hộ nghèo cao (từ 25% trở lên), không có hoặc rất thiếu những cơ sở hạ tầng thiết yếu như: điện, đường, trường, trạm y tế, nước sạch vv.trình độ dân trí thấp, tỷ lệ mù chữ cao. Vùng nghèo/ tỉnh nghèo là địa bàn tương đối rộng, nằm ở những khu vực khó khăn hiểm trở, giao thông không thuận tiện, có tỷ lệ xã nghèo, hộ nghèo cao. Như vậy, quan niệm về đói nghèo ở Việt Nam ngày càng phản ánh đúng bản chất của nó.

Nếu như nhu cầu hỗ trợ của người nghèo vào những năm 1990 chỉ giới hạn đến nhu cầu “ăn no, mặc ấm”, thì ngày nay, người nghèo có có nhu cầu được hỗ trợ về chỗ ở, về giáo dục, y tế, văn hoá, nhu cầu được tham gia vào các hoạt động xã hội,… Quan niệm nghèo của Việt Nam đã tiệm cận và thừa nhận định nghĩa chung về đói nghèo do ESCAP đưa ra. Chuẩn nghèo và tiêu chí đánh giá Theo quan điểm của Các Mác thì mức sống của người lao động có tính chất trong lịch sử, tùy thuộc vào trình độ phát triển lực lượng sản xuất, trình độ văn minh, đặc điểm địa lý, khí hậu, truyền thống dân tộc,. Bởi vậy, tiêu chuẩn xác định đói nghèo không cố định mà biến động, không những khác nhau giữa các nước mà ngay giữa các vùng trong một nước cũng khác nhau qua những giai đoạn lịch sử. Do đó, người ta chỉ có thể thống nhất quan niệm về nghèo đói về định tính, khó thống nhất về định lượng.

Nói cách khác, đói nghèo là khái niệm mang tính tương đối. Các quốc gia khác nhau có thể sử dụng các tiêu chuẩn khác nhau để đánh giá mức độ đói nghèo của quốc gia mình. Tình trạng đói nghèo ở mỗi quốc gia có thể khác nhau cả về mức độ, số lượng và thay đổi theo thời gian và không gian. Chuẩn nghèo và tiêu chí đánh giá theo các tổ chức quốc tế Chuẩn nghèo là mức thu nhập (hoặc chi tiêu) bình quân đầu người mà một quốc gia sử dụng làm tiêu chuẩn để xác định người nghèo hoặc hộ nghèo.

Để đánh giá nghèo đói, UNDP dùng cách tính dựa trên cơ sở phân phối thu nhập theo đầu người hay theo nhóm dân cư. Thước đo này tính phân phối thu nhập cho từng cá nhân hoặc hộ gia đình nhận được trong thời gian nhất định, nó không quan tâm đến nguồn mang lại thu nhập hay môi trường sống của dân cư mà chia đều cho mọi thành phần dân cư. Phương pháp tính là: Đem chia dân số của một nước, một châu lục hoặc toàn cầu ra làm 5 nhóm, mỗi nhóm có 20% dân số bao gồm: Rất giàu, giàu, trung bình, nghèo và rất nghèo. Theo cách tính này, vào những năm 1990 thì 20% dân số giàu nhất chiếm 82,7% thu nhập toàn thế giới, trong khi 20% nghèo nhất chỉ chiếm 1,4%.

Như vậy nhóm giàu nhất gấp 59 lần nhóm nghèo nhất. Hiện nay, Ngân hàng Thế giới (WB) đưa ra các chỉ tiêu đánh giá mức độ giàu, nghèo của các quốc gia dựa vào mức thu nhập quốc dân bình quân 15 tính theo đầu người trong một năm với 2 cách tính đó là: phương pháp Atlas (tính theo tỷ giá hối đoái và tính theo USD); và phương pháp PPP (purchasing power parity), là phương pháp tính theo sức mua tương đương và cũng tính bằng USD. Theo phương pháp Atlas, năm 1990, WB chia mức bình quân của các nước trên toàn thế giới làm 6 loại: - Trên 25.000 USD/người/năm là nước cực giàu.000 USD/người/năm là nước giàu.000 USD/người/năm là khá giàu.000 USD/người/năm là nước trung bình.500 USD/người/năm là nước nghèo. - Dưới 500USD/người/năm là nước cực nghèo.

Theo phương pháp PPP: WB muốn tìm ra mức chuẩn nghèo đói chung cho toàn thế giới. Trên cơ sở điều tra thu nhập, chi tiêu của hộ gia đình và giá cả hàng hoá, thực hiện phương pháp tính “rổ hàng hoá” sức mua tương đương để tính được mức thu nhập dân cư giữa các quốc gia có thể so sánh. WB đã tính mức năng lượng tối thiểu cần thiết cho một người để sống là 2. Với mức giá chung của thế giới để đảm bảo mức năng lượng đó cần khoảng 1 USD/người/ngày.

Từ đó, năm 1995, WB đã đưa ra chuẩn mực nghèo khổ chung của toàn cầu là thu nhập bình quân đầu người dưới 370USD/ người/ năm. Với mức trên, WB ước tính có trên 1,2 tỷ người trên thế giới đang sống trong nghèo đói. Tuy nhiên, theo quan điểm chung của nhiều nước, hộ nghèo là hộ có thu nhập dưới 1/3 mức thu nhập trung bình của xã hội. Do đặc điểm của nền kinh tế - xã hội và sức mua của đồng tiền khác nhau, chuẩn nghèo đói theo thu nhập (tính theo USD) cũng khác nhau ở từng quốc gia.

WB đã đưa ra thước đo đói nghèo như sau: 16 - Các nước công nghiệp phát triển là 14 USD/ người/ ngày; - Các nước Đông Á là 4 USD/ người/ ngày; - Các nước thuộc Mỹ La tinh và vùng Caribê là 2 USD/ người/ ngày; - Các nước đang phát triển là 1 USD/ người/ ngày. Và đối với một số nước nghèo, một số người được coi là đói nghèo khi có mức thu nhập dưới 0,5 USD/ người/ ngày. Tuy nhiên, các quốc gia thường tự đưa ra chuẩn đói nghèo riêng và thường thấp hơn mức WB khuyến nghị. Ví dụ, ở Mỹ, năm 1970, quy định ngưỡng nghèo là thu nhập dưới 5.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ