Tổng quan nghiên cứu

Kinh tế du lịch đang khẳng định vai trò là ngành kinh tế mũi nhọn, đóng góp quan trọng vào sự tăng trưởng tổng sản phẩm quốc nội và chuyển dịch cơ cấu kinh tế tại nhiều địa phương trên cả nước. Tỉnh Ninh Bình sở hữu diện tích tự nhiên 1.390,11 km2 cùng nguồn tài nguyên du lịch phong phú gồm hơn 800 di tích lịch sử văn hóa, gần 80 di tích xếp hạng cấp quốc gia và 114 lễ hội truyền thống đặc sắc. Năm 2012, toàn tỉnh đã đón khoảng 3.994.000 lượt khách du lịch, đạt mức tăng trưởng 14,1% so với năm 2011, tạo việc làm và thu nhập cho hơn 15.000 lao động tại địa phương. Tuy nhiên, sự phát triển của ngành kinh tế du lịch Ninh Bình trong thời gian qua vẫn bộc lộ nhiều điểm nghẽn: hạ tầng dịch vụ chưa đồng bộ, chất lượng sản phẩm chưa cao, tính thời vụ sâu sắc và nguy cơ gây tổn hại đến môi trường sinh thái tự nhiên.

Vấn đề nghiên cứu trọng tâm của luận văn thạc sĩ kinh tế chính trị này là giải quyết mâu thuẫn giữa tốc độ tăng trưởng kinh tế du lịch nhanh chóng với yêu cầu bảo tồn nguyên vẹn các giá trị di sản và môi trường sinh thái. Mục tiêu cụ thể của đề tài là hệ thống hóa cơ sở lý luận về kinh tế du lịch trong phát triển bền vững, đánh giá toàn diện thực trạng phát triển giai đoạn 2005 - 2014, từ đó xác lập các giải pháp chiến lược nhằm thúc đẩy kinh tế du lịch Ninh Bình phát triển bền vững đến năm 2020. Nghiên cứu mang ý nghĩa thực tiễn to lớn khi cung cấp luận cứ khoa học giúp địa phương nâng tỷ trọng đóng góp của du lịch trong cơ cấu kinh tế lên trên 10% tổng sản phẩm trên địa bàn, đồng thời đảm bảo hài hòa ba trụ cột: hiệu quả kinh tế, tiến bộ xã hội và bảo vệ môi trường sinh thái.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Luận văn vận dụng lý thuyết phát triển bền vững được khởi xướng từ Hội nghị Môi trường và Phát triển của Liên Hợp Quốc năm 1992 tại Rio de Janeiro và Hội nghị Thượng đỉnh Thế giới năm 2002. Theo khung lý thuyết này, sự phát triển bền vững là quá trình kết hợp hài hòa, chặt chẽ giữa ba trụ cột: tăng trưởng kinh tế liên tục, công bằng xã hội và bảo toàn môi trường sinh thái. Bên cạnh đó, nghiên cứu tích hợp lý thuyết kinh tế du lịch hiện đại của Tổ chức Du lịch Thế giới (UNWTO) và mô hình sức chứa điểm đến (carrying capacity).

Khung phân tích tập trung vào các khái niệm nền tảng: kinh tế du lịch như một ngành kinh tế tổng hợp mang tính liên ngành và liên vùng; du lịch bền vững với yêu cầu đáp ứng nhu cầu hiện tại nhưng không làm tổn hại đến khả năng đáp ứng nhu cầu của các thế hệ mai sau; và tính nhạy cảm của sản phẩm du lịch. Theo chuẩn mực quốc tế của UNWTO, một điểm đến phát triển bền vững cần duy trì tỷ lệ khu di tích, danh thắng được đầu tư bảo vệ trên 50%, tỷ suất doanh thu tái đầu tư cho bảo tồn đạt từ 10% đến 15%, và tỷ suất sinh lời từ hoạt động xúc tiến quảng bá du lịch ước tính có thể đạt từ 1:150 đến 1:360 giá trị đầu tư ban đầu.

Phương pháp nghiên cứu

Tác giả sử dụng nguồn dữ liệu thứ cấp từ Niên giám Thống kê tỉnh Ninh Bình, các báo cáo tổng kết giai đoạn 2005 - 2014 của Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch Ninh Bình, kết hợp dữ liệu thống kê từ Tổng cục Du lịch và UNWTO. Về dữ liệu sơ cấp, nghiên cứu thực hiện khảo sát định lượng với cỡ mẫu gồm 350 khách du lịch và 120 hộ dân sinh sống tại các khu du lịch trọng điểm như Tràng An, Tam Cốc - Bích Động và Bái Đính. Phương pháp chọn mẫu phân tầng ngẫu nhiên được áp dụng nhằm đảm bảo tính đại diện cao giữa các nhóm khách nội địa, khách quốc tế và các hộ dân trực tiếp tham gia cung cấp dịch vụ du lịch.

Phương pháp luận chủ đạo dựa trên chủ nghĩa duy vật biện chứng và duy vật lịch sử, kết hợp các phương pháp thống kê mô tả, phân tích kinh tế lượng, so sánh chuỗi thời gian 10 năm và phương pháp trừu tượng hóa khoa học. Lý do lựa chọn tổ hợp phương pháp này là nhằm nhận diện rõ các quy luật vận động nội tại của dòng khách, đo lường sự đóng góp của ngành du lịch vào chuyển dịch cơ cấu lao động địa phương và đánh giá chính xác các tác động ngoại sinh của hoạt động du lịch đối với môi trường cảnh quan. Timeline nghiên cứu được thực hiện xuyên suốt tiến trình từ năm 2005 đến năm 2014, định hướng giải pháp cụ thể đến năm 2020.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, lượng khách du lịch đến Ninh Bình đạt tốc độ tăng trưởng cao nhưng cơ cấu thị trường khách còn mất cân đối nghiêm trọng. Trong năm 2012, Ninh Bình đón khoảng 3.994.000 lượt khách (tăng 14,1% so với năm 2011), trong đó khách nội địa chiếm đa số với 3.424.000 lượt (tăng trưởng 17,4%), trong khi lượng khách quốc tế chỉ đạt 675.570 lượt (tăng trưởng khiêm tốn 1,2%). Tốc độ tăng trưởng khách quốc tế thấp hơn 14 lần so với khách nội địa cho thấy sức hút toàn cầu của điểm đến còn nhiều hạn chế.

Thứ hai, tiềm năng tài nguyên du lịch tự nhiên và nhân văn vô cùng phong phú nhưng hiệu quả thương mại hóa và giá trị gia tăng chưa tương xứng. Tỉnh sở hữu 1.390,11 km2 diện tích với hơn 800 di tích, gần 80 di tích cấp quốc gia và Quần thể danh thắng Tràng An có quy mô trên 1.961 ha. Tuy nhiên, thời gian lưu trú bình quân của du khách chỉ đạt khoảng 1,3 ngày/khách và mức chi tiêu trung bình ước tính chỉ dao động từ 350.000 đến 450.000 VNĐ/khách/ngày, thấp hơn đáng kể so với mức trung bình của vùng đồng bằng sông Hồng.

Thứ ba, sự phân bố không gian kinh tế du lịch và mật độ dân cư tạo ra áp lực sinh thái cục bộ. Mật độ dân số toàn tỉnh đạt 664 người/km2 nhưng tập trung rất cao tại khu vực đô thị như thành phố Ninh Bình với 2.217 người/km2 và huyện Yên Khánh với 1.013 người/km2, trong khi huyện vùng cao Nho Quan chỉ đạt 332 người/km2. Áp lực du lịch mùa lễ hội tập trung vào các tháng đầu năm đã tác động mạnh đến thảm thực vật 5 tầng và 233 loài động vật có xương sống tại Vườn Quốc gia Cúc Phương, đồng thời gây ra tình trạng quá tải cục bộ tại bến thuyền Tràng An và Tam Cốc.

Thảo luận kết quả

Nguyên nhân cốt lõi của những hạn chế trên là do hạ tầng du lịch phát triển chưa đồng bộ, số lượng cơ sở lưu trú đạt chuẩn 3 đến 5 sao chỉ chiếm dưới 15% tổng số buồng phòng toàn tỉnh. Các sản phẩm du lịch còn đơn điệu, chủ yếu dựa vào khai thác danh thắng sẵn có mà thiếu các dịch vụ vui chơi, giải trí, mua sắm bổ trợ về đêm. Hoạt động du lịch mang tính thời vụ sâu sắc, tập trung tới hơn 60% lượng khách vào mùa lễ hội mùa xuân từ tháng 1 đến tháng 3 âm lịch, dẫn đến tình trạng suy giảm hiệu suất thiết bị trong các tháng còn lại.

Khi so sánh với mô hình du lịch cộng đồng tại Yufuin (Nhật Bản) - nơi có tỷ lệ khách quay lại lần thứ hai đạt tới 70% và tỷ lệ khách quay lại trên 10 lần đạt gần 10%, tỷ lệ khách quay lại Ninh Bình ước tính chỉ đạt dưới 20%. Dữ liệu nghiên cứu này có thể được trình bày rõ nét qua biểu đồ cột so sánh tốc độ tăng trưởng giữa khách nội địa và quốc tế giai đoạn 2005 - 2014, cùng bảng tổng hợp phân tích cơ cấu chi tiêu của du khách theo từng nhóm dịch vụ lưu trú, ăn uống, tham quan và mua sắm lưu niệm. Kết quả nghiên cứu khẳng định Ninh Bình cần nhanh chóng chuyển dịch mô hình tăng trưởng từ diện rộng dựa trên số lượng khách sang chiều sâu dựa trên doanh thu và giá trị gia tăng bền vững.

Đề xuất và khuyến nghị

Thứ nhất, quy hoạch không gian du lịch và kiểm soát nghiêm ngặt sức chứa sinh thái. Ủy ban nhân dân tỉnh Ninh Bình cùng Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch cần ban hành ngay quy chế kiểm soát sức chứa tại Quần thể danh thắng Tràng An (1.961 ha) và Vườn Quốc gia Cúc Phương. Thiết lập giới hạn đón tiếp tối đa không quá 15.000 lượt khách/ngày tại vùng lõi di sản trong giai đoạn 2015 - 2017 nhằm ngăn chặn sự suy thoái thảm thực vật và giảm thiểu ô nhiễm nguồn nước mặt.

Thứ hai, đa dạng hóa chuỗi sản phẩm du lịch và kéo dài thời gian lưu trú. Các doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ lữ hành và khách sạn cần chủ động liên kết xây dựng các tour du lịch sinh thái kết hợp nghỉ dưỡng, du lịch văn hóa trải nghiệm làng nghề truyền thống như dệt thổ cẩm, thêu ren và chế tác đá mỹ nghệ. Mục tiêu nâng thời gian lưu trú bình quân từ 1,3 ngày lên 2,5 ngày/khách và tăng mức chi tiêu bình quân của du khách thêm 35% trong giai đoạn 2016 - 2018.

Thứ ba, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực du lịch địa phương. Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch phối hợp với các cơ sở đào tạo nghề tổ chức chuẩn hóa nghiệp vụ, trình độ ngoại ngữ và kỹ năng thuyết minh di sản cho 100% hướng dẫn viên và thuyết minh viên tại điểm. Đặt mục tiêu nâng tỷ lệ lao động qua đào tạo chuyên môn du lịch từ 35% lên trên 70% vào năm 2020.

Thứ tư, hoàn thiện cơ chế chia sẻ lợi ích cộng đồng và xúc tiến thương hiệu chuyên nghiệp. Chính quyền cấp huyện và ban quản lý các khu du lịch cần thực hiện trích từ 10% đến 15% nguồn thu phí tham quan để tái đầu tư cho công tác bảo tồn di tích và hỗ trợ chuyển đổi sinh kế cho hơn 84,7% dân số đang sinh sống tại khu vực nông thôn. Đồng thời, tăng ngân sách xúc tiến quảng bá du lịch quốc tế thêm 20% mỗi năm trong giai đoạn 2017 - 2020 để tiếp cận các thị trường trọng điểm Châu Âu, Bắc Mỹ và Đông Bắc Á.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nhóm 1: Cơ quan quản lý nhà nước và các nhà hoạch định chính sách du lịch. Lãnh đạo Ủy ban nhân dân tỉnh Ninh Bình, Sở Du lịch, Sở Kế hoạch và Đầu tư có thể sử dụng luận văn làm cơ sở thực chứng để xây dựng quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế du lịch, ban hành các quy chế quản lý liên ngành và thiết lập chính sách chia sẻ lợi ích cộng đồng bền vững.

Nhóm 2: Các doanh nghiệp lữ hành, kinh doanh khách sạn và nhà đầu tư du lịch. Các đơn vị này có thể khai thác các phân tích về thị hiếu của 3,99 triệu lượt khách và dữ liệu về tính thời vụ để thiết kế các sản phẩm du lịch sinh thái mới, đầu tư cơ sở lưu trú cao cấp đạt chuẩn quốc tế và nâng cao hiệu quả kinh doanh với mục tiêu tăng trưởng doanh thu từ 20% đến 25%/năm.

Nhóm 3: Giảng viên, học viên cao học và nghiên cứu sinh chuyên ngành Kinh tế chính trị, Kinh tế phát triển, Quản trị dịch vụ du lịch. Luận văn cung cấp khung lý thuyết hoàn chỉnh về tam giác bền vững, phương pháp chọn mẫu phân tầng 350 du khách và chuỗi số liệu thực tế giai đoạn 2005 - 2014 làm tư liệu học thuật giá trị.

Nhóm 4: Ban quản lý các khu bảo tồn thiên nhiên, ban quản lý di sản và cộng đồng dân cư địa phương. Các bên liên quan có thể tham khảo mô hình quản lý sức chứa môi trường và cơ chế vận hành đò chèo, dịch vụ bản địa nhằm đảm bảo sinh kế cho hơn 80% cư dân nông thôn gắn với công tác giữ gìn môi trường sinh thái.

Câu hỏi thường gặp

Kinh tế du lịch bền vững tại Ninh Bình được đánh giá dựa trên những nhóm tiêu chí cốt lõi nào? Nghiên cứu đánh giá dựa trên 3 nhóm tiêu chí chính: tiêu chí kinh tế (tăng trưởng ổn định của 3,99 triệu lượt khách, doanh thu và cơ sở vật chất), tiêu chí xã hội (tạo việc làm cho cộng đồng, tỷ lệ người dân hài lòng trên 80%) và tiêu chí môi trường (tỷ lệ di tích được bảo vệ đạt chuẩn UNWTO trên 50% và kiểm soát sức chứa sinh thái).

Tại sao lượng khách quốc tế đến Ninh Bình năm 2012 chỉ tăng trưởng 1,2% so với mức 17,4% của khách nội địa? Nguyên nhân chủ yếu do công tác xúc tiến du lịch quốc tế còn manh mún, thiếu các sản phẩm du lịch trải nghiệm cao cấp và hạ tầng dịch vụ ban đêm nghèo nàn. Trong khi lễ hội truyền thống thu hút 3,42 triệu lượt khách nội địa, tỉnh chưa có đủ dịch vụ nghỉ dưỡng tiêu chuẩn để giữ chân 675.570 lượt khách quốc tế lưu trú dài ngày.

Mô hình du lịch quốc tế nào được luận văn đề xuất học tập kinh nghiệm cho Ninh Bình? Luận văn đề xuất học tập mô hình Yufuin của Nhật Bản và mô hình Thenmala của Ấn Độ. Điển hình tại Yufuin, cộng đồng tự quản lý du lịch giúp 70% du khách quay lại lần thứ hai; tại Thenmala, việc phân vùng du lịch sinh thái và du lịch hành hương giúp bảo tồn tối đa vùng lõi sinh thái hoang dã.

Luận văn đã sử dụng phương pháp chọn mẫu và phân tích nào để đảm bảo tính khách quan? Tác giả đã áp dụng phương pháp chọn mẫu phân tầng ngẫu nhiên với 350 du khách và 120 hộ dân tại Tràng An, Bái Đính và Cúc Phương. Dữ liệu được xử lý qua phương pháp thống kê mô tả và phân tích so sánh chuỗi thời gian 10 năm (2005 - 2014) nhằm nhận diện chính xác các nhân tố tác động đến sự phát triển bền vững.

Việc trích nguồn thu du lịch tái đầu tư cho bảo tồn di sản mang lại hiệu quả thực tế ra sao? Cơ chế trích từ 10% đến 15% doanh thu bán vé tham quan tạo ra nguồn tài chính độc lập giúp tu bổ kịp thời hơn 800 di tích lịch sử và bảo vệ 233 loài động vật tại Vườn Quốc gia Cúc Phương, đồng thời giảm bớt gánh nặng ngân sách nhà nước và nâng cao trách nhiệm của doanh nghiệp đối với môi trường.

Kết luận

  • Khẳng định kinh tế du lịch là ngành kinh tế mũi nhọn, đóng vai trò đòn bẩy thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế - xã hội của tỉnh Ninh Bình trên nền tảng hơn 800 di tích lịch sử và diện tích tự nhiên 1.390,11 km2.
  • Ghi nhận cột mốc đón 3.994.000 lượt khách năm 2012 chứng minh tiềm năng vượt bậc, song đặt ra yêu cầu cấp bách phải tái cơ cấu từ tăng trưởng số lượng sang nâng cao chất lượng dịch vụ.
  • Thiết lập hệ thống tiêu chí kinh tế du lịch bền vững toàn diện, kết hợp chặt chẽ giữa hiệu quả kinh doanh, công bằng xã hội và bảo tồn đa dạng sinh học.
  • Đề xuất 4 nhóm giải pháp chiến lược đồng bộ về quy hoạch sức chứa sinh thái, đa dạng hóa sản phẩm, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực và hoàn thiện cơ chế chia sẻ lợi ích cộng đồng.
  • Thúc đẩy vai trò chủ thể của hơn 84,7% dân số nông thôn trong việc tham gia chuỗi cung ứng dịch vụ du lịch văn minh, an toàn và thân thiện.

Đóng góp khoa học lớn nhất của luận văn là đã hệ thống hóa lý luận kinh tế chính trị về phát triển du lịch bền vững và cung cấp bộ giải pháp thực chứng có tính ứng dụng cao cho địa phương. Lộ trình tiếp theo đòi hỏi tỉnh Ninh Bình cần hoàn thành việc xác lập ngưỡng sức chứa di sản trước năm 2017 và hoàn thiện mạng lưới du lịch thông minh, chất lượng cao trước năm 2020. Các nhà quản lý, nhà nghiên cứu và doanh nghiệp hãy khai thác sâu các phát hiện của luận văn để chung tay xây dựng Ninh Bình trở thành trung tâm du lịch quốc tế phát triển bền vững hàng đầu Việt Nam.